SKKN phương pháp tổ chức trò chơi trong dạy học môn Tiếng Việt lớp1 - Pdf 52

DANH MỤC VIẾT TẮT
NXB
ĐHSP
GD&ĐT
SL
TH
SKKN

Nhà xuất bản
Đại học Sư phạm
Giáo dục và đào tạo
Số lượng
Tiểu học
Sáng kiến kinh nghiệm

1


DANH MỤC BẢNG BIỂU
1
2
3

Bảng khảo sát tần suất sử dụng hệ thống các trò chơi trong dạy học
môn Tiếng Việt lớp 1 ở trường Tiểu học Hòa Bình,Vĩnh Bảo, Hải
Phòng
Bảng khảo sát thời điểm giáo viên ứng dụng các trò chơi vào tiết học
môn Tiếng Việt lớp 1 ở trường Tiểu học Hòa Bình,Vĩnh Bảo, Hải
Phòng
Bảng khảo sát mức độ yêu thích việc đưa trò chơi vào giờ học môn
Tiếng Việt của học sinh lớp 1 ở trường Tiểu học Hòa Bình, Vĩnh Bảo,


9

4.

Giả thuyết khoa học

9

5.

Nhiệm vụ nghiên cứu

9

6.

Phạm vi nghiên cứu

10

7.

Phương pháp nghiên cứu

10

8.

Đóng góp của đề tài

1.2.1.2.

Trò chơi học tập

15

1.2.1.3.

Vai trò của việc tổ chức trò chơi học tập

19

1.2.2.

Hệ thống các trò chơi sử dụng trong

20

1.2.2.1.

Hệ thống trò chơi dạy học vần

20

1.2.2.1.1
.

Hệ thống trò chơi dạy âm mới

20

1.2.2.3.

Trò chơi rèn kĩ năng đọc nhanh từ ứng dụng

32

1.2.2.4

Trò chơi rèn kĩ năng giúp học sinh hiểu bài học và rèn kĩ năng nói

32

1.2.3.

Quy trình tổ chức trò chơi

35

1.2.4.

Các yếu tố ảnh hưởng tới việc tổ chức trò chơi trong dạy học môn
Tiếng Việt lớp

36

1.2.5.

Một số biện pháp tổ chức trò chơi trong dạy học môn Tiếng Việt lớp
1



Thực trạng về việc pháp tổ chức trò chơi trong dạy học môn Tiếng
Việt lớp 1 ở trường Tiểu học Hòa Bình,Vĩnh Bảo, Hải Phòng

47

2.2.1.

Nhận thức của giáo viên về việc tổ chức trò chơi trong dạy học môn
Tiếng Việt lớp 1 và cách tổ chức trò chơi trong dạy học môn Tiếng
Việt lớp 1 ở trường Tiểu học Hòa Bình,Vĩnh Bảo, Hải Phòng

47

2.2.2.

Hiểu quả của việc tổ chức trò chơi trong dạy học môn Tiếng Việt
lớp 1 ở trường Tiểu học Hòa Bình,Vĩnh Bảo, Hải Phòng

50

KẾT LUẬN

51

TÀI LIỆU THAM KHẢO

52

PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN

Trong nhiều năm qua, mặc dù đã đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Việt
nhưng một số giáo viên vẫn còn nặng tâm lý đây là môn học chính nên trong quá trình
6


giảng dạy học rất chú trọng đến việc truyền thụ kiến thức với mục đích giúp học sinh
học tốt môn học này. Bởi vậy mà việc sử dụng trò chơi học tập đối với một số giáo
viên còn mang tính hình thức hoặc có sử dụng trò chơi thì cùng ở mức độ gượng ép,
miễn cưỡng. Mặt khác, còn một số giáo viên khi sử dụng các trò chơi học tập thì chưa
chọn lọc kỹ, không có tác dụng thiết thực phục vụ mục tiêu của bài học nên việc tổ
chức trò chơi chưa thực sự đạt kết quả. Thực tế cho thấy, vẫn còn một số đối tượng
học sinh thụ động, tự ti, chưa mạnh dạn tham gia vào các hoạt động học tập. Trước
thực trạng đó, tôi thiết nghĩ người giáo viên cần phải thay đổi một cách thức dạy học
mới sao cho học sinh hứng thú, say mê và tích cực chủ động hơn khi học tập môn
Tiếng Việt. Qua đó, những kĩ năng giao tiếp ở các em cũng ngày càng hoàn thiện và
phát triển. Và việc vận dụng trò chơi học tập trong môn Tiếng Việt nói chung và môn
Tiếng Việt lớp Một nói riêng là hết sức cần thiết.
Qua quá trình tìm hiểu, tôi nhận thấy trong quá trình làm việc, học tập của con
người, vui chơi là một hoạt động bổ ích ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là ở lứa tuổi Tiểu học.
Vui chơi không những giúp các em được thoải mái rèn luyện thể lực, rèn luyện các
giác quan mà nó còn tạo cơ hội cho các em được giao lưu với nhau, được hợp tác với
bạn bè, đồng đội trong nhóm,… thông qua đó, các em sẽ dần được hoàn thiện những
kĩ năng giao tiếp. Đó là kĩ năng được đặt ra hàng đầu trong mục tiêu của môn học
Tiếng Việt bậc Tiểu học nói chung và môn Tiếng Việt lớp Một nói riêng. Điều đó
chứng tỏ hoạt động vui chơi và hoạt động hỗ trợ tích cực cho hoạt động học tập. Vì
thế, việc kết hợp sử dụng hình thức trò chơi học tập trong dạy học môn Tiếng Việt sẽ
mang lại hiệu quả cao.
Như chúng ta đã biết, trò chơi là một nhu cầu thiết yếu đối với lứa tuổi Tiểu
học. Nhất là học sinh lớp Một, giai đoạn chuyển từ hoạt động chủ đạo là vui chơi sang
học tập. Mặt khác, khi chơi trò chơi học tập, các em phải huy động nhiều giác quan để

Đề tài gớp phần đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt nói chung và
môn Tiếng Việt lớp Một nói riêng theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực, sáng

8


tạo của học sinh, tăng cường hoạt động tập thể với hoạt động giao lưu, hình thành và
rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Bên cạnh đó, đề tài góp phần gây hứng thú học tập môn Tiếng Việt cho học
sinh lớp Một – đối tượng mới được chuyển từ giai đoạn vui chơi là chính sang giai
đoạn mà nhiệm vụ chính là học tập. Giờ học vui giúp trẻ “Học mà chơi, chơi mà học”,
phù hợp với đặc điểm tậm lí của các em. Đồng thời giờ học vui còn giúp các em lĩnh
hội kiến thức mới một cách dễ dàng và củng cổ khắc sâu kiến thức một cách vững
chắc, nâng cao chất lượng học tập một cách tối đa.
Tạo cho các em cơ hội phát huy trí tuệ, óc phân tích, tư duy sáng tạo, tạo một
môi trường giao tiếp thân thiện.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Vận dụng tổ chức trò chơi trong dạy học môn Tiếng Việt lớp Một ở trường Tiểu
học Hòa Bình,Vĩnh Bảo, Hải Phòng
3.2. Khách thể nghiên cứu
Quan sát ở 46 giáo viên và 210 học sinh lớp 1 ở trườngTiểu học Hòa Bình về
việc tổ chức trò chơi trong dạy học môn Tiếng Việt lớp Một
4. Giả thuyết khoa học
Việc học môn Tiếng Việt ở lớp Một có tầm quan trọng đặc biệt, làm nền tảng
cho các em học các môn học khác cũng như học lên cao hơn. Nếu biện pháp tổ chức
dạy học có thể gây hứng thú học tập cao cho các bé thì kết quả việc dạy của giáo viên
và nhiệm vụ học của học sinh sẽ đạt kết quả cao hơn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.


10


- Là phương pháp nhà giáo dục sử dụng bảng hỏi sẵn trên giấy gửi cho đối
tượng nghiên cứu, qua đó nhà nghiên cứu thu thập xử lí thông tin rút ra kết luận về
vấn đề nghiên cứu.
7.6. Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học
- Trong nghiên cứu khoa học, sau khi đã thu thập được những số liệu điều tra
thì vấn đề rất quan trọng là phải trình bày, xử lí những số liệu đó như thế nào để khai
thác có hiệu quả những số liệu thực tế đe, rút ra được những nhận xét, kết luận khoa
học, khách quan đối với những vấn đề cần nghiên cứu.
7.7. Phương pháp thực nghiệm
- Là phương pháp nhà nghiên cứu chủ dộng tác động vào đối tượng nghiên cứu
trong điều kiện đã được khống chế nhằm xác định mối liên hệ nhân quả giữa nguyên
nhân, tác động và kết quả của nó.
8. Đóng góp mới của đề tài
Thông qua khảo sát thực tôi nhận thấy rằng việc tổ chức một số trò chơi trong
giờ học toán góp phần đổi mới phương pháp dạy học. Nhiều giáo viên đã đưa vào giờ
học Tiếng Việt ngay từ đầu năm và thấy kết quả học tập của các em tiến bộ hẳn lên.
Đến giờ học Tiếng Việt các em không còn cảm thấy căng thẳng mà đã mạnh dạn trình
bày ý kiến, nêu thắc mắc nên kết quả học tập cao hơn, học sinh hoạt động tích cực và
đồng đều.

11


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG DẠY
HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 1
1.1. LỊCH SỬ VỀ VIỆC TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC MÔN TIẾNG

môn Tiếng Việt lớp Một có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lí luận lẫn thực tiễn.

1.2. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VIỆC TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC MÔN
TIẾNG VIỆT LỚP 1
1.2.1. Một số khái niệm về tổ chức trò chơi trong dạy học môn Tiếng Việt lớp
Một
1.2.1.1. Trò chơi


Nguồn gốc
Trò chơi có nguồn gốc từ lao động và chuẩn bị cho thế hệ trẻ đến với lao động.

Trò chơi mang bản chất xã hội, nội dung chơi của trẻ phản ánh cuộc sống hiện thực
xung quanh. Trò chơi không nảy sinh một cách tự phát mà do ảnh hướng có ý thức
hoặc không có ý thức từ phía người lớn và bạn bè, giao tiếp xã hội đóng một vai trò
quan trọng trong việc hình thành và phát triển trò chơi.


Đặc điểm
Chơi là một hoạt động, ngoài những đặc điểm giống với các hoạt động khác

như có phương hướng, có mục đích, có sự tham gia tích cực của cả nhân cách thì nó
còn có những đặc điểm chuyên biệt sau:
- Động cơ của trò chơi không nằm ở kết quả mà nằm ngay trong bản thân hành
động chơi. Trong trò chơi, trẻ không bị ảnh hưởng bởi nhu cầu thực tiễn mà xuất phát
từ nhu cầu, hứng thú của trẻ.
13


- Trò chơi là hoạt động tự lập của trẻ và mang tính tự do, tự nguyện. Tính tự do,

Ý nghĩa
14


Trò chơi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với trẻ. Nó vừa thỏa mãn nhu cầu được
chơi, được giải trí của trẻ, vừa góp phần phát triển các chức năng tâm lí và hình thành
nhân cách cho trẻ.
Khi được tổ chức đúng cách, hợp lí, trò chơi sẽ kích thích sự phát triển trí tuệ
của trẻ. Thông qua hoạt động trò chơi, nhiều kĩ năng cần thiết cho trẻ được hình thành
và rèn luyện. Đó là kĩ năng giải quyết vấn đề độc lập, tự giác. Với những trò chơi tập
thể, đó là kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng lắng nghe, tiếp thu ý kiến của người khác.
Thông qua những trò chơi này, tính kỉ luật, tính mục đích cũng được hình thành. Tình
cảm, ngôn ngữ của học sinh cũng được phát triển.
Như vậy, có thể thấy trò chơi là một hoạt động rất bổ ích, có tác dụng phát triển
học sinh toàn diện. Do vậy, chúng ta cần áp dụng phương thức “Học mà chơi, chơi mà
học” trong giáo dục trẻ em.
1.2.1.2. Trò chơi học tập


Khái niệm
Khái niệm trò chơi học tập được đưa ra như sau: Trò chơi học tập là trò chơi có

luật và nội dung cho trước, là trò chơi của sự nhận thức, hướng đến sự mở rộng, chính
xác hóa, hệ thống hóa các biểu tượng đã có nhằm phát triển các năng lực trí tuệ, giáo
dục lòng ham hiểu biết cho trẻ - trong đó nội dung học tập được kết hợp với hình thức
chơi.


Đặc điểm
Trò chơi học tập thuộc nhóm trò chơi có luật, thường do người lớn nghĩ ra cho

Trò chơi học tập
- Động cơ của hoạt động chơi nằm
ở ngay bản thân hành động chơi.

- Nhiệm vụ nhận thức không được
đưa ra trực tiếp mà nằm trong
nhiệm vụ chơi, trong luật chơi và
hành động chơi. Việc giải quyết
nhiệm vụ nhận thức chỉ là cách
thức, con đường đi đến đích cuối
cùng là “Thắng” chứ không phải là
mục tiêu của hoạt động
- Là hoạt động độc lập của trẻ,
mang tính tự do, tự nguyện.
- Trẻ hành động theo thứ tự, theo
lượt phù hợp với luật chơi, biết tính
đến mong muốn của người khác

3. Đặc điểm, - Là hoạt động bắt buộc, học
tính chất của sinh không muốn cũng phải
hoạt động
thực hiện
- Hành động giải bài tập diễn
ra độc lập ở mỗi học sinh,
không chịu chi phối bởi mong
muốn của người khác.
4. Kết quả
- So sánh kết quả với đáp án để - So sánh các kết quả với nhau để
xác định “đúng – sai” ( không xác định “thắng – thua” ( có yếu tố
có yếu tố thi đua )


Điều khiển quan hệ giữa các bạn chơi



Giới hạn hoặc cấm một số biểu hiện hành động hoặc nêu các hình thức
phạt khi vi phạm luật chơi.

- Trò chơi học tập bao giờ cũng có một kết quả nhất định. Đó là lúc kết thúc trò
chơi, người học giải quyết thành công một nhiệm vụ nhận thức nào đó mà trò chơi
yêu cầu. Kết quả của trò chơi thường thỏa màn nhu cầu nhận thức cũng như nhu cầu
chơi của học sinh.


Phân loại
Xét theo phương diện phát triển các chức năng tâm lí của học sinh, trò chơi học

tập được chia thành các loại sau:
- Trò chơi học tập nhằm phát triển các giác quan: Đây là trò chơi nhằm phát
triển các hành động nhạy cảm ở học sinh như: sự tinh nhạy của đôi mắt, sự tinh nhạy
của đôi tai,…
- Trò chơi học tập nhằm phát triển các thao tác tư duy: Những trò chơi này giúp
học sinh nhìn nhận, phân tích, so sánh, khái quát về sự vật, hiện tượng theo một dấu
hiệu bề ngoài. Trong quá trình phân loại, trẻ phát hiện những dấu hiệu giống nhau,
17


những dấu hiệu khác nhau để đi đến sự sắp xếp của sự vật, hiện tượng theo những dấu
hiệu chung. Như vậy, khả năng khái quát của trẻ được hình thành và phát triển.
- Trò chơi học tập nhằm phát triển óc tưởng tượng: Đây là loại trò chơi mà học

mình phải có sự lựa chọn hợp lí, tự mình phát hiện được những điểm mạnh, điểm yếu,
những khả năng hứng thú cũng như nhược điểm của bản thân. Tổ chức trò chơi khoa
học, hợp lí giúp học sinh phát triển về mặt thể chất một cách tự nhiên, rèn tình nhanh
nhẹn, hoạt bát, tự tin trước đám đông. Đặc biệt sự phối hợp nhịp nhàng giữa các thao
tác vận động và sự phát triển tư duy, khả năng điều khiển của thần kinh trung ương sẽ
càng phát triển chuẩn xác. Ngoài ra, sân chơi trò chơi còn rèn cho học sinh rất nhiều
kĩ năng sống cần thiết: kĩ năng tổ chức, kĩ năng giao tiếp, ứng xử, hợp tác, kiểm tra
đánh giá,…
Trò chơi học tập còn là phương tiện rất tốt để khắc phục những mặt khó khăn
trong quá trình tu duy của học sinh. Trong quá trình chơi, học sinh bộc lộ những sai
lầm trong những tình huống mới, giáo viên hoặc bạn bè trong nhóm sẽ phát hiện và
giúp đỡ các em giải quyết các tình huống đó. Qua đó, các em sẽ tích lũy được kinh
nghiệm, kịp thời sửa chữa sai sót trong tư duy.
Trò chơi học tập có ảnh hưởng sâu sắc tới việc giáo dục đạo đức cho học sinh.
Nó góp phần giáo dục cho các em tính thật thà, tính tổ chức, tính tự lực, tính đoàn kết,

Trò chơi học tập được coi là một phương tiện quan trọng trong quá trình dạy
học ở Tiểu học nói chung và dạy học lớp Một nói riêng bởi:
- Trò chơi học tập giúp học sinh lĩnh hội tri thức và các kĩ năng khác nhau mà
không có chủ định từ trước.
- Ở trò chơi học tập có sự tự nguyện và bình đẳng giữa các học sinh. Mọi học
sinh đều có vị trí, nhiệm vụ như nhau khi tham gia trò chơi.
- Ở trò chơi học tập học sinh cảm nhận được một cách trực tiếp kết quả hành
động của mình: đúng – sai, phát hiện ra cái mới, … Kết quả này có ý nghĩa to lớn với
19


các em, nó mang lại niềm vui vô hạn, thúc đẩy tính tích cực, củng cố và mở rộng vốn
hiểu biết của các em.
- Trò chơi học tập góp phần tạo không khí hào hứng thỏa mãn tâm sinh lí trẻ,

- Lưu ý:
• Thời điểm sử dụng: Sau khi hướng dẫn viết bảng con tiết 1 hoặc trong
thời gian củng cố tiết 2
• Giáo viên cũng có thể sử dụng đất nặn để học sinh nặn thành các chữ cái
20


 Ghép chữ:

- Mục đích: Giúp học sinh:
• Củng cố và rèn luyện khả năng nhận diện các chữ cái
• Phát triển trí nhớ cho trẻ
- Chuẩn bị:
• Chuẩn bị các mảnh ghép chữ cái bằng xốp hoặc bìa cứng, có gắn nam
châm
• Chữ cái đáp án
- Cách tiến hành:
• Giáo viên chia lớp thành các nhóm nhỏ. Chữ cái được chia thành bao
nhiêu miếng thì mỗi nhóm sẽ có bấy nhiêu thành viên
• Giáo viên phổ biến luật chơi: Cô có một số mảnh ghép bằng xốp. Nhiệm
vụ của các nhóm là ghép các mảnh đó thành một chữ cái. Mỗi bạn chỉ có
một lượt chạy lên ghép. Nhóm nào ghép đúng và nhanh nhất sẽ là đội
thắng cuộc. Thời gian cho các nhóm là 5 phút
• Học sinh tiến hành chơi
• Giáo viên và học sinh cùng kiểm tra kết quả, khen thưởng đội thắng cuộc
- Lưu ý:
• Thời điểm sử dụng: trong thời gian củng cố tiết 2
1.2.2.1.2. Hệ thống trò chơi ôn tập âm
 Tinh mắt tìm chữ


• Rèn luyện kĩ năng tô màu
- Chuẩn bị:
• Chuẩn bị một bức tranh chưa tô mùa khổ to, trong đó có đánh dấu các
màu cần tô cho mỗi phần của bức tranh bằng một chữ cái tương ứng
VD: Tranh cho bài 11: Ôn tập
• Chuẩn bị một bức tranh đã tô màu khổ to
• Photo cho mỗi học sinh một bức tranh chưa tô màu khổ bé
• Học sinh chuẩn bị bút màu
- Cách tiến hành:
• Giáo viên cho học sinh một tờ giấy photo bức tranh chưa tô màu khổ bé
• Giáo viên phổ biến luật chơi: Bức tranh trên vẫn chưa được tô màu. Các
con hãy tô màu cho bức tranh trên bằng cách dùng bút màu để tô màu
bức tranh theo hướng dẫn:
+ Tô màu vàng vào những phần có chữ o.
+ Tô màu đỏ vào những phần có chữ c.
+ Tô màu đen vào những phần có chữ ơ.
+ Tô màu hồng vào những phần có chữ ô.
• Mỗi học sinh tô trong khoảng 7 phút. Sau 7 phút các em sẽ đổi bài để
chấm lẫn nhau. Giáo viên sẽ treo bức tranh đã tô màu khổ to lên bảng.
Học sinh nhìn và đối chiếu với tranh của bạn, chấm điểm theo quy định

22


của giáo viên, cứ tô đúng một phần sẽ được một điểm. Tô đẹp được 1
điểm
• Giáo viên kiểm tra lại kết quả chấm bài của học sinh. Tuyên dương
những học sinh được điểm cao
- Lưu ý:
• Thời điểm sử dụng: Trong thời gian củng cố cuối tiết 2




Giáo viên chuẩn bị một ô chữ khổ to để trình chiếu hoặc treo lên bảng và

các câu hỏi gợi ý để giải ô chữ.
- Cách tiến hành:
• Trò chơi này có thể tiến hành chung cả lớp hoặc chia lớp học thành nhiều
nhóm để các nhóm thi đua với nhau, tùy theo số lượng học sinh trong lớp
mà giáo viên có thể tổ chức cho phù hợp.
• Giáo viên nêu câu hỏi gợi ý để học sinh giải từng ô chữ hàng ngang theo
thứ tự từ trên xuống. Học sinh nào hoặc nhóm nào giải được trước sẽ ghi
điểm (giải mỗi ỗ chữ hàng ngang được 10 điểm, giải ô chữ hàng dọc
được 30 điểm). Kết thúc trò chơi, ai hoặc nhóm nào ghi được nhiều
điểm, nhóm đó sẽ thắng.
- Lưu ý:
• Trò chơi này có thể được tổ chức dưới hình thức khác theo từng cặp: một
người giải thích nghĩa của từng từ, một người đoán từ. Trong một thời
gian nhất định, cặp nào giải được nhiều ô chữ, đội đó thắng.
• Thời điểm sử dụng: Trong tiết 2, khi luyện đọc. Giáo viên tổ chức giải ô
chữ rồi lấy ngữ liệu của trò chơi để luyện đọc hoặc trong thời gian củng
cố cuối bài
• Trò chơi này có thể sử dụng cho nhiều loại bài khác nhau nữa.
 Cướp cờ

- Mục đích: Giúp học sinh:
• Luyện khả năng nhận biết nhanh các chữ cái đã học.
• Rèn khả năng nhanh nhẹn, tính kỉ luật.
- Chuẩn bị
• 5 - 6 lá cờ, các lá cờ gắn các chữ cái (các chữ không trùng nhau).

GV: Chuẩn bị các câu đố chứa vần của bài học.
HS: Chuẩn bị phấn, bản con.
- Cách tiến hành:
• GV chia lớp thành các đội (các đội có số lượng và chất lượng thành viên
bằng nhau)
• GV nêu câu đố, các đội suy nghĩ, bàn bạc và đưa ra câu trả lời. Các đội
viết đáp án vào bảng con và giơ lên. Đội nào có đáp án đúng được 10
điểm.
• Sauk hi đọc hết câu đó, đội nào nhiều điểm hơn là đội thắng cuộc.
- Lưu ý:
• Thời điểm sử dụng: Trước khi luyện đọc tiết 2: GV cho HS giải đố và lấy
đáp án đó dữ liệu luyện đọc hoặc trong thời gian củng cố.
• Trò chơi này có thể sử dụng cho các loại bài dạy khác.
1.2.2.1.4. Hệ thống trò chơi ôn tập vần
 Cặp từ cùng vần

- Mục đích: Giúp học sinh:
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status