Một số suy nghĩ nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở công ty cao su đà nẵng - Pdf 52

PHẦN I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN
CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
I. HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.
CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT:
1.1. Chi phí sản xuất.
1.1.1. Khái niệm về chi phí sản xuất .
Lê Thị Thanh Hà
1
1
Chi phí sản xuất là tổng các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa được biểu
hiện bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ
nhất định (tháng, quý, năm).
Để tiến hành quá trình sản xuất sản phẩm, cần chi dùng các chi phí lao động, đối
tượng lao động và tư liệu lao động. Ba yếu tố này đưa vào quá trình sản xuất hình thành nên
chi phí sản xuất. Như vậy, các chi phí này chi ra để hình thành nên giá trị sản phẩm là một tất
yếu khách quan.
1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất.
Để quản lý và hạch toán chi phí sản xuất, người ta phân loại chi phí sản xuất theo
nhiều cách khác nhau:
a).Phân loại chi phí theo nội dung (tính chất) kinh tế của chi phí:
Theo cách phân loại này những khoản chi phí có chung tính chất kinh tế được xếp chung
vào một yếu tố chi phi , không kể chi phí đó phát sinh ở địa điểm nào và dùng vào mục đích
gì trong quá trình sản xuất kinh doanh. Phân loại theo cách này chi phí được chia thành các
yếu tố sau:
- Chi phí nguyên liệu vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên liệu, vật liệu, phụ tùng
thay thế, công cụ, dụng cụ, xuất dùng cho sản xuất, kinh doanh trong kỳ báo cáo trừ nguyên
liệu, vật liệu.... bán hoặc xuất cho XDCB.

khoản trích theo lương của công nhân sản xuất như BHXH, BHYT, KPCĐ...(các khoản trích
trên tiền lương theo tỷ lệ quy định).
- Chi phí sản xuất chung: là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng như
tiền lương, phụ cấp phải trả cho nhân viên phân xưởng, chi phí công cụ, dụng cụ xuất dùng
cho phân xưởng, bộ phận sản xuất, các chi phí dịch vụ, lao vụ mua ngoài và chi phí khác
thuộc phạm vi phân xưởng.
Cách phân loại này có tác dụng để hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành thực tế
của sản phẩm theo khoản mục, tính toán chính xác giá thành thực tế của sản phẩm, xác định
mức độ ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau đến giá thành sản phẩm, từ đó phục vụ cho
công tác phân tích giá thành sản phẩm và giám sát việc thực hiện kế hoạch giá thành sản
phẩm.
c) Phân loại chi phí theo phạm vi sử dụng và vai trò của chi phí trong quá trình sản xuất:
- Chi phí cơ bản: Là những chi phí thuộc các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất như:
Chi phí nguyên liệu, vật liệu, tiền lương ....
- Chi phí quản lý phục vu: Là những khoản chi phí có tính chất quản lý, phục vụ liên
quan chung đến hoạt động sản xuất kinh doanh như: Chi phí quản lý doanh nghiệp ...
d) Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí :
- Chi phí khả biến: Là khoản chi phí, về tổng số thay đổi, tỷ lệ với những biến đổi của
mức độ hoạt động. Trong các doanh nghiệp sản xuất chi phí khả biến thường bao gồm: chi
phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và một số khoản của chi phí sản xuất
chung như nguyên liệu gián tiếp, dầu nhờn bôi trơn ...
- Chi phí bất biến: Là các chi phí về tổng số không thay đổi, dù có sự thay đổi về mức
độ hoạt động trong một phạm vi nhất định nào đó.
- Chi phí hỗn hợp: Trên thực tế có những khoản chi phí bao gồm cả hai yếu tố khả
biến và bất biến được gọi là chi phí hỗn hợp. Loại chi phí này rất phổ biến như chi phí điện
thoại, Fax, sửa chữa, bảo chì ...
1.1.5.Phân loại theo chức năng hoạt động :
- Chi phí cung cấp: Là những chi phí dùng để mua sắm vật tư, máy móc, thiết bị.
- Chi phí sản xuất : Đó là những chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất bao gồm:
Chi phí NVL trức tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.

phẩm. Gía thành định mức được xây dựng trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành tại từng
thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thường là ngày đầu tháng). Giá thành định mức luôn
luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trình thực
hiện kế hoạch. Giá thành định mức là thước đo chính xác các chi phí cần thiết để sản xuất ra
một đơn vị sản phẩm trong điều kiện sản xuất nhất định, tại những thời điểm nhất định.
- Giá thành thực tế : là giá thành được xác định sau khi đã hòan thành việc sản xuất sản
phẩm, căn cứ vào các chi phí sản xuất thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm. Nó
bao gồm tất cả các chi phí thực tế phát sinh trong đó có cả những chi phí vượt định mức,
ngoài kế hoạch như các thiệt hại về sản phẩm hỏng, các thiệt hại do ngừng sản xuất. Giá
thành thực tế được xác định nhất thiết là phải theo số liệu kế toán.
*.Xét theo phạm vi phát sinh chi phí giá thành được chia ra
- Giá thành công xưởng: là toàn bộ hao phí của các yếu tố dùng tạo ra sản phẩm dịch vụ.
Trong đó bao gồm: nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất
chung tính cho sản phẩm, dịch vụ hoàn thành.
- Giá thành toàn bộ: Là chi phí thực tế của sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ của doanh
nghiệp. Chỉ tiêu giá thành này được dùng để xác định lợi tức trước thuế của từng thứ sản
phẩm, lao vụ ....
Giá thành toàn bộ = Giá thành sản xuất + chi phí bán hàng + chi phí QLDN
Chỉ tiêu giá thành có ý nghĩa trong lãnh đạo và quản lý kinh tế. Giá thành là chỉ tiêu
kinh tế, kỹ thuật tổng hợp, được dùng để đánh giá chất lượng hoạt động của doanh nghiệp,
phản ánh một cách tổng quát các mặt kỹ thuật, kinh tế, tổ chức của doanh nghiệp. Phấn đấu
hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm là nhân tố quyết định nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao tích lũy cho
doanh nghiệp. Tính toán chính xác giá thành sản phẩm là cơ sở để xác định giá bán hợp lý của
sản phẩm, là cơ sở để kiểm tra tình hình thực hiện các định mức tiêu hao, tình hình thực hiện
hạch toán kinh tế nội bộ, là căn cứ để xác định kết quả sản xuất kinh doanh.
1.2.Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
Lê Thị Thanh Hà
4
4

hạch toán chi phí sản xuất có thể là nơi phát sinh chi phí hoặc có thể là các đối tượng chịu chi
phí. Vậy đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là:
- Từng phân xưởng, bộ phận, tổ đội sản xuất hoặc toàn doanh nghiệp
- Từng giai đoạn (bước) công nghệ hay toàn bộ quy trình công nghệ
- Từng sản phẩm, từng đơn đặt hàng, từng hạng mục công trình - Từng nhóm sản phẩm,
bộ phận, chi tiết sản phẩm
2.Đối tượng tính giá thành:
Việc xác định đối tượng tính giá thành cũng phải căn cứ vào đặc điểm cơ cấu tổ chức sản
xuất, đặc điểm quy trình công nghệ, kỹ thuật sản xuất sản phẩm....Trong các doanh nghiệp tùy
thuộc vào đặc điểm tình hình cụ thể mà đối tượng tính giá thành có thể là:
- Từng sản phẩm công việc, đơn đặt hàng hoàn thành .
- Từng lọai sản phẩm hòan thành, chi tiết, bộ phận sản phẩm.
- Từng công trình, hạng mục công trình.
Lê Thị Thanh Hà
5
5
Căn cứ vào chu kỳ sản xuất sản phẩm, đặc điểm tổ chức sản xuất...mà xác định đối
tượng tính giá thành, đơn vị tính giá thành để cung cấp số liệu tính giá thành sản phẩm một
cách kịp thời phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp.
* Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp CPSX và đối tượng tính giá thành sản phẩm:
- Đối tượng hạch toán tính chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm có nội
dung khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Chúng giống nhau ở bản chất
chung đều là phạm vi giới hạn để tập hợp chi phí theo đó và cùng phục vụ cho công tác quản
lý, phân tích và kiểm tra chi phí và giá thành. Tuy nhiên chúng cũng có những điểm khác
nhau :
- Xác định đối tượng tâp hợp chi phí sản xuất : Là xác định phạm vi phát sinh chi phí.
Còn đối tượng tính gía thành có liên quan đến kết quả của quá trình sản xuất .
- Một đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể bao gổm nhiều đối tượng tính giá thành và
ngược lại một đối tượng tính giá thành có thể bao gồm nhiều đối tượng tập hợp chi phí.
3.Phương pháp hạh toán chi phí sản xuất :

Lê Thị Thanh Hà
6
6
và chu kỳ sản xuất ngắn. Giá thành đơn vị sản phẩm theo phưong pháp này được tính bằng
cách trực tiếp, lấy số chi phí sản xuất sản phẩm tập hợp được chia cho số lượng sản phẩm sản
xuất ra. Nếu có ản phẩm dở dang thì loại trừ hoặc tính nhập vào số chi phí
Giá thành
Đơn vị SP
Giá trị SP dở
dang đầu kỳ
+
Chi phí sx phát
sinh trong kỳ
_
Chi phí sx dở
dang cuối kỳ
Số lượng sản phẩm sản xuất hoàn thành trong kỳ
- Phương pháp tổng cộng chi phí: Áp dụng trong trường hợp đối tượng hạch toán chi phí là
các chi tiết, bộ phận sản phẩm, giai đoạn công nghệ, phân xưởng, nhưng đối tượng tính giá
thành là sản phẩm cuối cùng. Giá thành sản phẩm được xác định bằng cách tổng cộng chi phí
sản xuất của các chi tiết, bộ phận cấu thành sản phẩm, hoặc tổng cộng chi phí của các giai
đoạn sản xuât, phân xưởng tham gia qua trình chế tạo sản phẩm.
- Phương pháp hệ số : Được áp dụng trong các doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình
sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao động nhưng thu được đồng thời
nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm mà tập hợp
chung cho cả quá trình sản xuất. Theo phương pháp này trước hết phải căn cứ vào hệ số quy
đổi để quy đổi các loại sản phẩm về sản phẩm gốc, rồi từ đó dựa vào khoản chi phí liên quan
đến giá thành các loại sản phẩm đã tập hợp để tính ra giá thành sản phẩm gốc và giá thành
từng loại sản phẩm.
- Phương pháp tỷ lệ : Trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm có quy cách,

Chi phí NVL trực tiếp bao gồm giá trị NVL chính, NVL phụ, nhiên liệu...Được xuất dùng
trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm. Đối với những vật liệu khi xuất dùng có liên quan trực
tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt thì hạch toán trực tiếp cho đối tượng đó.
Trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí không thể tổ
chức hạch toán riêng được thì phải áp dụng phương pháp phân bổ cho các đối tượng có liên
Lê Thị Thanh Hà
7
7
quan. Đối với NVL chính ta có thể phân bổ theo hệ số, tỷ lệ với định mức tiêu hao hoặc tỷ
lệ với trọng lượng sản phẩm. Còn đối với vật liệu phụ có thể phân bổ theo định mức tiêu hao
tỷ lệ với NVL chính.
Để tập hợp và phân bổ chi phí NVL trực tiếp, kế toán sử dụng TK 621 “ chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp”. Tài khoản này dùng để tập hợp toàn bộ chi phí NVL trực tiếp dùng cho
sản xuất, chế tạo sản phẩm phát sinh trong kỳ, cuối kỳ kết chuyển sang tài khoản tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
*Kết cấu:
Bên Nợ: Giá trị thực tế NVL xuất dùng trực tiếp cho sản xuất, chế tạo sản phẩm.
Bên Có:
- Giá trị thực tế NVL sử dụng không hết nhập lại kho.
- Kết chuyển, phân bổ vào tài khoản 154 “ chi phí sản xuất dở dang”
TK 621 cuối kỳ không có số dư, TK 621 có thể đưọc mở chi tiết theo từng đối tượng tập
hợp chi phí sản xuất để phục vụ cho việc tính giá thành cho từng đối tượng tính giá thành.
1.1. Đối với phương pháp kê khai thường xuyên :
• Phương pháp hạch toán:
- Trong kỳ, khi xuất NL,VLC,VL phụ....sử dụng cho trực tiếp sản xuất, chế tạo sản phẩm
Nợ TK 621 : Chi phí NL,VL trực tiếp
Có TK 152 : Nguyên liệu, vật liệu
- Trường hợp NL,VL... xuất cho SXKD nhưng sử dụng không hết, nhập lại kho, ghi:
Nợ TK 152 : Nguyên liệu, vật liệu
Có TK 621 : Chi phí NL,VL trực tiếp

đầu kỳ
_
Trị giá tồn cuối
kỳ
Nợ TK 621 : Chi phí NL.VLTT (ghi trị giá xuất trong kỳ)
Có TK 611(6111) : Mua hàng
Cuối kỳ, kế toán kết chuyển chi phí NL,VLTT vào giá thành sản xuất, ghi:
Nợ TK 631 : Giá thành sản xuất
Có TK 621 : Chi phí NL,VLTT
SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾP
( Theo phương pháp kiểm kê định kỳ )
TK 152 TK 611 TK 152 TK 621 TK 631
xxx K/c gtri VLtồn K/c gtri VL tồn Cuối kỳ k/c gtrị NVL
kho đầu kỳ kho cuối kỳ vào gthành SPSX
TK111, 112, 331... Giá trị NL,VL sử dụng cho sản
Xuất trong kỳ
Gía trị thực tế
NL,VL mua
Vào trong kỳ
2. Hạch toán và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp:
Chi phí nhân công trực tiếp (NCTT) là những khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho
công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ, như tiền lương
chính, tiền lượng phụ, tiền công, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo lương như BHXH,
BHYT, KPCĐ.
Chi phí NCTT được tính trực tiếp cho từng loại sản phẩm, nhóm sản phẩm, lao vụ,
dịch vụ... chủ yếu bằng phương pháp trực tiếp. Trường hợp chi phí này có liên quan đến nhiều
loại sản lhẩm, lao vụ... mà không thể tính trực tiếp được cho từng loại sản phẩm thì mới áp
dụng phương pháp phân bổ. Phương pháp phân bổ thường sử dụng là phân bổ theo tiền lương
định mức của từng loại sản phẩm, lao vụ, dịch vụ,hoặc phân bổ theo tỷ lệ với khối lượng sản
phẩm.

Tài khoản này dùng để tập hợp toàn bộ chi phí liên quan đến việc phục vụ, quản lý sản xuất,
chế tạo sản phẩm trong các phân xưởng, bộ phận, tổ, đội sản xuất.
* Kết cấu:
Bên Nợ : Tập hợp các chi phí sản xuất chung trong kỳ.
Bên Có : - Ghi giảm chi phí sản xuất chung
- Kết chuyển, phân bổ chi phí sản xuất chung vào TK 154
Tài khoản 627 cuối kỳ cũng không có số dư và cũng được mở chi tiết theo từng đối
tượng, từng loại hoạt động, từng bộ phận , từng phân xưởng.
Tài khoản 627 có 6 tài khoản cấp 2. Mỗi tài khoản cấp 2 sẽ phản ánh một nội dung
của chi phí sản xuất chung.
Lê Thị Thanh Hà
10
10
Tùy vào đặc điểm cụ thể mà mỗi doanh nghiệp lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí sản
xuất chung khác nhau.
- Phân bổ theo giờ công của công nhân sản xuất hoặc phân bổ theo tiền lương của công
nhân sản xuất.
- Phân bổ theo chi phí sản xuất trực tiếp
- Phân bổ theo số giờ máy chạy.
SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN VÀ PHÂN BỔ CHI PHÍ SẢN XUẤT CHUNG
TK 111 TK 334, 338 TK 627 TK 154
Chi tiền trả lương Chi phí NV phân xưởng Đ/v pp kê khai Txuyên
HXH, BHYT,KPCĐ...
Cuối kỳ k/c
TK 152,153 cp sxc vào TK 631
Chi phí vật liệu, dụng cụ sản xuất gthành sp
Đ/v pp kiểm
TK 214 kê định kỳ
Chi phí khấu hao TSCĐ
TK 331 TK 142

1.2 Đối với phương pháp kiểm kê định kỳ:
Trường hợp doang nghiệp áp dụng phương pháp liểm kê định kỳ, thì chi phí sản xuất
được tập hợp vào TK631” giá thành sản phẩm” . TK này dùng để tập hợp chi phí sản xuất
kinh doanh và tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ ở các đơn vị sản xuất. TK 631 được
hạch toán chi tiết theo nơi phát sinh chi phí
SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN TỔNG HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT
( Phương pháp kê khai thường xuyên )
TK 621 TK 154 TK152
XXX Giá trị phế liệu thu hồi
K/c cp NVLTT
TK 622
K/c cp NCTT TK 138, 334
Gtrị SP hỏng không sửa chữa được,
Người gây thiệt hại bồi thường
TK 627 TK 156(632)
K/c cp SXC Giá thành t. tế SP hoàn thành
XXX
( Phương pháp kiểm kê định kỳ)
TK154 TK 631 TK 154
XXX
K/c cp SXKD dở dang đầu kỳ K/c cp SXKD dở dang cuối kỳ
TK 621
K/c cp NVLTT TK 632
TK 622 Gía trị sản phẩm hoàn thành
K/c cp NCTT
Lê Thị Thanh Hà
12
12
TK 627
K/c cp SXC

trưc tiếp mà không tính đến các chi phí khác.
CP NVLTT (CPTT)
Tính cho dd cuối kỳ
=
CP dd đầu kỳ
(NVLTT,CPTT) +
CP NVLTT (CPTT)
Sdụng ttế trong kỳ
SL thành phẩm + Slượng SP dd cuối kỳ
X
Số lượng sản phẩm
dở dang cuói kỳ
- Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo 50% chi phí chê biến: Để đơn giản cho việc
tính toán đối với những loại sản phẩm mà chi phí chế biến chiếm tỷ trọng thấp trong tổng số
chi phí. Thực chất đây là một dạng của phương pháp ước tính sản lượng hoàn thành tương
đương, trong đó giả định sản phẩm dở dang đã hoàn thành ở mức độ 50% so với thành phẩm.
- Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo chi phí định mức hoặc kế hoạch: căn cứ vào các
định mức tiêu hao (hoặc chi phí kế hoạch) cho các khâu, các bước, các công việc trong quá
trình chế tạo sản phẩm để xác định giá trị sản phẩm dở dang.
3.Tính giá thành sản phẩm:
Sau khi tổng hợp toàn bộ các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ theo đối tượng hạch toán
chi phí sản xuất đã xác định và đánh giá sản phẩm dở dang, kế toán tiến hành tính giá thành
sản phẩm. Sau đây là các phương pháp tính giá thành của một số lọai hình chủ yếu.
a) Tính giá sản phẩm đối với DN có quy trình công nghệ sản xuất giản đơn: Phương pháp
này được áp dụng trong những DN có số lượng mặt hàng ít nhưng có khối lượng lớn, cuối kỳ
Lê Thị Thanh Hà
13
13
không có sản phẩm dở dang hoặc nếu có thì rất ít. Theo phương pháp toàn bộ chi phí sản
xuất được tập hợp theo từng sản phẩm, công việc tính giá thành sản phẩm được tiến hành vào

trình sản xuất sản phẩm và phân tích toàn bộ chi phí thực tế phát sinh trong kỳ thành ba loại:
Theo định mức, chênh lệch do thay đổi định mức và chênh lệch so với định mức. Từ đó tiến
hành xác định giá thành thực tế của sản phẩm.
Giá thành thực tế
của sản phẩm
mức
=
Giá thành
định mức
sản phẩm
+
_
Chênh lệch do
thay đổi định
mức
+
_
Chênh lệch so với
định mức
Lê Thị Thanh Hà
14
14
PHẦN II
TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN CHI
PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI
CÔNG TY CAO SU ĐÀ NẴNG
Lê Thị Thanh Hà
15
15
A. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY CAO SU ĐÀ NẴNG

Quá trình phát triển của Công ty có thể chia làm 2 giai đoạn:
* Giai đoạn I :
Từ khi thành lập đến năm 1989: Đây là giai đoạn phát triển theo cơ chế quản lý kinh tế
bao cấp, trong giai đoạn này về quy mô sản xuất được mở rộng, vốn đầu tư tăng nhưng hiệu
quả sản xuất kinh doanh đạt thấp so với khả năng sẵn có của Công ty, công xuất máy móc
thiết bị sử dụng không hết, năng xuất lao động thấp, sản phẩm sản xuất theo kế hoạch định
sẵn để giao nộp cho Nhà nước, vật tư tiền vốn được Nhà nước cấp theo chỉ tiêu. Do vậy trong
Lê Thị Thanh Hà
16
16
giai đoạn này Công ty chỉ đơn thuần thực hiện hoàn thành kế hoạch trên cơ sở Nhà nước
cấp phát vật tư và các yếu tố khác cho sản xuất tương ứng.
* Giai đoạn II:
Từ năm 1989 đến nay: Đây là giai đoạn quản lý kinh tế theo thị trường có sự điều tiết
của Nhà nước. Để phù hợp với cơ chế mới, Công ty phải thực sự quan tâm đến việc hạch toán
kinh tế nội bộ, thường xuyên cải tiến mẫu mã, cải tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức quản lý để
sản phẩm làm ra với các mẫu mã đẹp, chất lượng tốt mà giá thành hạ phù hợp thị hiếu của
người tiêu dùng. Bước đầu hoạt động theo cơ chế thị trường, Công ty còn nhiều bỡ ngỡ
nhưng với sự nhiệt tình sáng tạo của đội ngũ cán bộ, kỹ sư của Công ty đã lãnh đạo công ty
đứng vững trên thị trường, tốc độ phát triển năm sau cao hơn năm trước, sản phẩm được thị
trường chấp nhận, đời sống cán bộ công nhân viên luôn ổn định và là doanh nghiệp được Bộ
Công nghiệp đánh giá cao trong ngành cao su.
II. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC SẢN XUẤT VÀ QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ
Sản phẩm của Công ty cao su Đà Nẵng sản xuất được tiêu thụ rộng rãi trên thị trưòng cả
nước nhằm phục vụ cho các ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và tiêu dùng
xã hội.
Qua từng thời kỳ sản phẩm của công ty luôn luôn được cải tiến về quy cách, chủng loại,
mẫu mã để phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng . Hiện nay Công ty đang sản xuất các loại
mặt hàng sau:
- Săm lốp xe đạp các cỡ

đốc, một phó Giám đốc, một thống kê và ba trưởng ca. Thống kế xi nghiệp có nhiệm vụ thống
kê số lượng bán thành phẩm, vật tư, nguyên liệu nhận về thực tế đã đưa vào sản xuất thành
phẩm, thống kê toàn bộ lượng sản phẩm sản xuất được để làm thủ tục nhập kho Công ty, theo
dõi lao động và sản phẩm theo công đoạn sản xuất để tính lương cho CBCNV xí nghiệp; Cuối
tháng nộp cho phòng lao động tiền lương của Công ty duyệt. Xí nghiệp chia làm ba bộ phận.
+ Bộ phận sản xuất lốp xe đạp
+ Bộ phận sản xuất săm xe đáp
+ Bộ phận sản xuất săm lốp xe máy
3.Xí nghiệp săm lốp ôtô mới:
Có nhiệm vụ nhận bán thành phẩm từ xí nghiệp cán luyện và vật tư nguyên liệu khác từ
kho công ty về sản xuất thành sản phẩm săm lốp ôtô mới các loại. Xí nghiệp có Giám đốc,
Phó Giám đốc, một thống kê và ba trưởng ca. Thống kê có nhiệm vụ thống kê toàn bộ số
lượng bán thành phẩm, vật tư, nguyên liệu sử dụng trong tháng và số lượng sản phẩm xuất
nhập kho, theo dõi công và lương sản phẩm cho cán bộ công nhân viên trong xí nghiệp. Cuối
tháng nộp về phòng lao động tiền lương duyệt. Xí nghiệp chia thành 2 bộ phận SX:
- Bộ phận sản xuất lốp ôtô các loại
- Bộ phận sản xuất săm, yếm ôtô các loại
4.Xí nghiệp sản phẩm mới:
Có nhiệm vụ nhận bán thành phẩm từ xí nghiệp cán luyện và vật tư nguyên liệu khác từ
kho Công ty về sản xuất ra sản phẩm cao su kỹ thuật theo đơn đặt hàng và sản phẩm phụ là
các tấm lợp kích cỡ. Xí nghiệp có một Giám đốc và một thống kê. Thống kê có nhiệm vụ
thống kê toàn bộ bán thành phẩm và vật tư khác sử dụng thực tế vào sản xuất và số lượng sản
phẩm nhập kho, tính lương có các CBCNV của Xí nghiệp. Thống kê chuyên về theo dõi sản
xuất.
5.Xí nghiệp đắp lốp ôtô:
Có nhiệm vụ nhận bán thành phẩm từ. Xí nghiệp cán luyện và vật tư nguyên liệu khác
từ kho Công ty để sản xuất sản phẩm (Riêng phần đắp và hấp). Thống kê số lượng lốp nhận
của khách , ghi số từng quy cách và đắp xong nhập kho Công ty, giao lại cho khách. Xí
nghiệp này không có Giám đốc mà có Phó Giám đốc phụ trách sản xuất của Công ty kiêm
nhiệm

Lê Thị Thanh Hà
19
19
Công ty
X nghií ệp
c n luyá ện
XN săm lốp
xe đạp
X nghií ệp
săm lốp ôtô
C c x á í
nghiệp
Bộ
phận
sản
xuất
Bộ
phận
sản
xuất
Bộ
phận
sản
xuất
Bộ
phận
sản
xuất
Bộ
phận

TRƯỞONG
PH NG TÀI Ò
CH NH KÍ Ế TO NÁ
A B I2 4 531 D876 C K
G
HE
A: Phòng kỹ thuật cơ năng
B: Phòng kỹ thuật công nghệ

C: Phòng kế hoạch kinh doanh
D: Phòng cung cấp xuất nhập khẩu
E: Phòng tài chính kế toán
G: Phòng tổ chức lao động
H: Phòng KCS
I : Ban an toàn
K: Đội bảo vệ công ty
1 : Xí nghiệp cán luyện
2 : Xí nghiệp cơ điện năng lượng
3 : Xí nghiệp săm lốp xe đạp xe máy
4 : Xí nghiệp săm lốp ôtô mới
5 : Các xí nghiệp khác
6 : Cửa hàng trung tâm
7 : Chi nhánh DRC miền Bắc
8 : Chi nhánh DRC miền Nam
❅ Các nét liền nối biểu hiện phân công, phân nhiệm trực tiếp
Ngoài ra có mối liên hệ qua lại cùng cấp và dưới sự lãnh đạo của cấp trên .
1. Đặc điểm tổ chức quản lý .
a . Đặc điểm :
Căn cứ vào đặc điểm sản xuất, hình thức tổ chức sản xuất và quy trình công nghệ sản
xuất sản phẩm mà công ty hình thành cơ cấu tổ chức quản lý gồm các bộ phận, phòng ban có

Kết hợp công tác tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý, trong những năm qua công ty
đã ngày càng cũng cố và nâng cao chất lượng sản xuất và chất lượng công tác quản lý.
2. Tổ chức công tác kế toán:
a. Hình thức tổ chức công tác kế toán:
Căn cứ vào quy mô đặc điểm tổ chức sản xuất và yêu cầu quản lý kinh tế tài chính của
đơn vị, căn cứ vào khối lượng công việc kế toán, địa bàn hoạt động, công ty tổ chức bộ máy
kế toántheo hình thức tập trung. Tất cả các công việc như kiểm tra phân loại chứng từ gốc,
định khoản kế toán, ghi sổ chi tiết và tổng hợp, hạch toán tổng hợp chi phí sản xuất , lập báo
cáo kế toán đều tập trung ở phòng kế toán tài chính. Tại các xí nghiệp sản xuất trực thuộc
công ty không tổ chức bộ máy kế toán riêng mà chỉ biên chế nhân viên kinh tế làm nhiệm vụ
thống kê, thu thập chứng từ sau đó gởi về phòng kế toán Công ty xử lý và ghi sổ.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN

☛ Chức năng nhiệm vụ của từng kế toán .
Phòng kế toán tài vụ có trách nhiệm giúp Giám đốc tổ chức các thông tin kinh tế hạch
toán kinh tế nội bộ, quyết toán việc thực hiện các kế hoạch sản xuất, phân tích hoạt động kinh
tê, thực hiện đúng chế độ kế toán của Nhà nước. Định kỳ lập báo cáo kế toán kiểm tra chế độ
hạch toán, chế đọ quản lý tài chính, đề xuất tham mưu cho Giám đốc các phương án sử dụng
vốn kinh doanh có hiệu quả
- Kế toán trưởng : Là người chịu trách nhiệm phụ trách phòng kế toán tài vu. Kế toán trưởng
kiêm phần kế toán tổng hợp .
- Phó phòng kế toán: Là người giúp việc cho kế toán trưởng, phụ trách công tác tài chính và
kiêm kế toán giá thành.
- Nhân viên của phòng kế toán : được chia phụ trách từng phần hành công việc theo hướng
chuyên môn hóa gồm các khâu :
+ Kế toán tiêu thụ kiêm tiền lương và BHXH: Với nhiệm vụ thu nhập, phân loại
chứng từ, hạch toán tổng hợp và chi tiết về các nghiệp vụ bán hàng, lập bảng tính kết quả tiêu
thụ từng tháng, qúy, năm, lập bảng báo cáo kết quả kinh doanh, lập bảng kê nộp thuế, theo dõi
Lê Thị Thanh Hà
22

tiết tình hình thu mua nguyên vật liệu, vận chuyển, tình hình nhập xuất tồn kho vật liệu, công
cụ dụng cụ, tính giá vật liệu nhập xuất, phân bổ vào chi phí sản xuất, theo dõi công nợ và
thanh toán công nợ với người bán. Ngoài ra kế toán còn kiêm thêm nhiệm vụ của thống kê
tổng hợp, theo dõi sản lượng sản phẩm nhập kho hàng tháng, tính giá trị tổng sản lượng, tình
hình biến động hay ổn định về sản xuất tiêu thụ để Gián đốc điều hành sản xuất kịp thời, lập
báo cáo sản lượng hàng tháng, quý, năm, thông tin kịp thời cho đơn vị chủ quản .
Các nhân viên thống kê được bố trí ở các xí nghiệp, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của
Gián đốc xí nghiệp, theo dõi quản lý vật tư, lao động, sản lượng sản xuất làm cơ sở cho việc
tập hợp phân bổ chi phí sản xuất cho từng đối tượng, làn cơ sở cho việc hạch toán nội bộ xí
nghiệp .
Các chi nhánh kế toán có nhiệm vụ theo dõi tình hình thu mua vật tư và tiêu thụ sản
phẩm , thu tiền bán hàng định kỳ hàng tháng về đối chiếu số liệu với phòng kế toán công ty,
thanh toán công nợ .
b. Hình thức sổ kế toán :
Công ty Cao Su áp dụng hình thức nhật ký chứng từ cho công tác kế toán vì hình thức
này phù hợp với loại hình sản xuất của công ty, khối lưọng công việc ở phòng kế toán khá
lớn, trình độ cán bộ đồng đều .Theo hình thức này các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hàng ngày
đưọc phản ánh trên chứng từ gốc, từ chứng từ gốc đưọc ghi thẳng vào nhật ký hoặc chứng từ
gốc ghi vào bảng kê, từ bảng kê ghi vào nhật ký chứng từ. Mỗi nhật ký chứng từ dùng cho
một tài khoản hoặc nhiều tài khoản có nội dung kinh tế giống nhau hoặc có mối quan hệ đối
ứng mật thiết với nhau. Từ nhật ký chứng từ ghi vào sổ cái, sổ cái làm căn cứ để lập báo cáo
kế toán. Ngoài việc sử dụng bảng kê nhật ký chứng từ, sổ cái kế toán còn sử dụng một số sổ
chi tiết, sổ tổng hợp chi tiết để phục vụ cho công tác quản lý chung, tập hợp chi phí tính giá
thành sản phẩm. Với loại sổ nạy các chi phí phát sinh trên chứng từ gốc được ghi vào sổ chi
tiết . Cuối tháng ghi vào sổ tổng hợp, sổ tổng hợp chi tiết làm căn cứ báo cáo định kỳ.
SƠ ĐỒ HÌNH THỨC SỔ KẾ TOÁN

Lê Thị Thanh Hà
23
23

Phương pháp tính giá thành là phương pháp phân bước.
Kỳ tính giá thành được tính theo từng tháng.
• Các loại NVL mà công ty hiện đang sử dụng: có 5 loại NVL sau :
- Cao su các loại bao gồm: cốm 1, cốm 2, cốm 3, tờ1, CKC, CKH, mu ...
- Chất độn cao su như: can xi, cao lanh...
- Hóa chất xúc tác gồm 20 loại như: Xúc tiến D, xúc tiến TMTD, xúc tiến M, phòng lão, lưu
huỳnh, dầu thông, nhựa thông, than đen . . .
- Vật liệu dệt: Bạt 3x4, Mành Poliamid các loại, vải ôtô, PA xe đạp, PA Honđa. . . .
Lê Thị Thanh Hà
24
24
- Vật liệu kim loại và vật liệu khác gồm: thép 1,83, thép 1, thép 5, bao PE, thùng
cartton....
Các loại vật liệu trên đều góp phần tạo nên thực thể của sản phẩm nhưng không phải
đều đưa vào từ giai đoạn công nghệ đầu tiên để chế tạo nên bán thành phẩm, mà để tạo nên
bán thành phẩm chỉ bao gồm các loại nguyên vật liệu như: Cao su các loại, chất độn cao su,
hóa chất xúc tác. Còn các loại vật liệu khác thì được đưa vào gia công chế biến ở giai đoạn
tiếp theo sản xuất ra sản phẩm. Từ đặc điểm trên nên bán thành phẩm sản xuất ra tuy không
bán ra ngoài nhưng để thuận tiện cho việc tính toán, kế toán tiến hành tính giá thành của bán
thành phẩm trước.
II.TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH BÁN THÀNH PHẨM
1. TÂP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT.
Hàng tháng căn cứ vào kế hoạch sản xuất trong tháng xí nghiệp cán luyện tiến hành
sản xuất bán thành phẩm thích hợp và cân đối về mặt số lượng sản xuất để phục vụ đủ cho
việc sản xuất sản phẩm.
Ví dụ: Sản xuất lốp xe đạp thì cần các loại bán thành phẩm như mặt lốp xe đạp (MLXĐ) Cao
su, vải mành xe đạp (VMXĐ). Để sản xuất ra lốp ôtô thì cần các lọai bán thành phẩm như mặt
lốp ôtô (MLm), các loại bán thành phẩm để tráng lên vải Poliamid như cao su tầng trong
(TT), cao su tầng ngoài (TN), da dầu (DD).. ..
Để sản xuất ra săm các loại thì cần các bán thành phẩm săm như: Săm xe đạp đỏ, săm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status