Quy định về giao kết hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015, những bất cập và hướng hoàn thiện - Pdf 52

QUY ĐỊNH VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM
2015, NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
Trong hoạt động giao dịch dân sự Giao kết hợp đồng có ý nghĩa rất quan trọng vì từ
giao kết hợp đồng sẻ làm phát sinh quyền lợi, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm pháp lý
của các bên. Trông phạm vi bài báo cáo người viết xin trình bày quy định về giao kết
hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân Sự 2015, những bất cập và hướng hoàn thiện
I QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 VỀ HỢP ĐỒNG, GIAO KẾT HỢP
ĐỒNG
1.Quy định về hợp đồng
Hợp đồng nói chung là sự thỏa thuận giữa các bên về việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm
dứt quyền và nghĩa vụ. chủ thể là một trong những điều kiện quan trọng để xác định
hiệu lực của hợp đồng. Tùy từng loại hợp đồng mà điều kiện về chủ thể tham gia giao
kết hợp đồng là khác nhau nhưng tất cả đều phải đáp ứng điều kiện cơ bản. Trong bài
viết này, Người viết xin trình bày về chủ thể giao kết hợp đồng, các nguyên tắc giao kết
hợp đồng.
Điều 385 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định: hợp đồng là sự thỏa thuận giửa các bên về
việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Trong định nghĩa này ta
thấy nổi bật lên hai nét cơ bản của hợp đồng, đó là: 1) Sự thỏa thuận giửa các bên,2)
Làm phát sinh hậu quả pháp lý ( xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân
sự)
Điều 402 Bộ luật dân sự 2015 Các loại hợp đồng chủ yếu
Hợp đồng gồm các loại chủ yếu sau đây:
1. Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau;
2. Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ;
3. Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng phụ;
4. Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính;
5. Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồng đều
phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ
đó;
6. Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng mà việc thực hiện phụ thuộc vào việc phát sinh,
thay đổi hoặc chấm dứt một sự kiện nhất định.

thiện chí, trung thực. Nhằm mục đích đảm bảo quyền lợi của các chủ thể khi tham gia
quan hệ pháp luật dân sự; đồng thời phải thể hiện rõ ý chí của mình làm cơ sở thực hiện
những thỏa thuận, cam kết trong mối quan hệ này.
Nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp
của người khác (quy định tại khoản 4, điều 3): Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng,
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự (quy định tại khoản 5, điều 3): Cá nhân, pháp nhân
phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
dân sự. Đây là một trong những quy định bắt buộc làm cơ sở để giải quyết tranh chấp
nếu có, đồng thời là một trong những biện pháp buộc các bên phải thực hiện nghiêm túc
những thỏa thuận, cam kết trong mối quan hệ dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích chính
đáng của các chủ thể pháp luật dân sự.


3
Bộ luật Dân sự 2015 bãi bỏ quy định “Nếu không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ dân sự
thì có thể bị cưỡng chế thực hiện theo quy định pháp luật”.
Đồng thời, 02 nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp: Việc xác lập, thực
hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dân tộc, tôn trọng
và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tình đoàn kết, tương thân, tương
ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giá trị đạo đức cao đẹp của
các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nguyên tắc hòa giải: Trong quan hệ
dân sự, việc hoà giải giữa các bên phù hợp với quy định pháp luật được khuyến khích,
được Bộ luật Dân sự 2015 chuyển thành chính sách Nhà nước đối với quan hệ dân sự
hoàn toàn phù hợp với xu thế hiện nay.
3 Chủ thể giao kết hợp đồng
3a.Cá nhân
Đối với người yêu giao kết là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự. Theo quy
định từ điều 19 đến điều 24 của Bộ Luật Dân sự năm 2015, thì năng lực hành vi dân sự

4
1 Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền,
nghĩa vụ dân sự
Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này,
luật khác có liên quan quy định khác
2. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đưng ký
hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào sổ
đăng ký.
3. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân chấm dứt kể từ thời điểm chấm dứt pháp
nhân.
4 Một số quy định về giao dịch dân sự
Điều 116 Bộ luật dân sự năm 2015: Giao dịch dân sự
Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015: Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với
giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật,
không trái đạo đức xã hội.
2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
trong trường hợp luật có quy định.
Điều 118 Bộ luật dân sự năm 2015Mục đích của giao dịch dân sự
Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác
lập giao dịch đó.
Điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015 Hình thức giao dịch dân sự
1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi
cụ thể.

xã hội thì vô hiệu.
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện
những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được
cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
Điều 124.Bộ luật dân sự năm 2015 Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
1. Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao
dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu
vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này
hoặc luật khác có liên quan.
2. Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với
người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.
Điều 125Bộ luật dân sự năm 2015 Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên,
người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành
vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện
1. Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi
dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó,


6
Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải
do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại
khoản 2 Điều này.
2. Giao dịch dân sự của người quy định tại khoản 1 Điều này không bị vô hiệu
trong trường hợp sau đây:
a) Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân
sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;
b) Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho
người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong


7
Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định
về hình thức
Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu,
trừ trường hợp sau đây:
1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn
bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai
phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra
quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó;
2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt
buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần
ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết
định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải
thực hiện việc công chứng, chứng thực.
Điều 130 Bộ luật dân sự năm 2015 Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần
Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần nội dung của giao dịch dân sự
vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch.
Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn
trả cho nhau những gì đã nhận.
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn
trả.
3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi
tức đó.
4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.
5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân
thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.

Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ
ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền
hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản
do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.
3. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao
dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng
có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với
người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại.
5 Quy định về giao kết hợp đồng
Điều 386 Bộ luật dân sự năm 2015 Đề nghị giao kết hợp đồng
1. Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu
sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công
chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị).
2. Trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề
nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời
thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng
nếu có thiệt hại phát sinh.
Điều 387 Bộ luật dân sự năm 2015 Thông tin trong giao kết hợp đồng


9
1. Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp
đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết.
2. Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình
giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin
đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác.
3. Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại thì phải
bồi thường.

10
3. Hết thời hạn trả lời chấp nhận;
4. Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực;
5. Khi thông báo về việc huỷ bỏ đề nghị có hiệu lực;
6. Theo thoả thuận của bên đề nghị và bên được đề nghị trong thời hạn chờ bên
được đề nghị trả lời.
Điều 392 Bộ luật dân sự năm 2015Sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất
Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện
hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới.
Điều 393Bộ luật dân sự năm 2015 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
1. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc
chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị.
2. Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết
hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các
bên.
Điều 394 Bộ luật dân sự năm 2015 Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng
1. Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có
hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận
được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên
chậm trả lời.
Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có
hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý.
2. Trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách
quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp
nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không
đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị.
3. Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trong trường hợp qua điện thoại
hoặc qua phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay có chấp nhận hoặc
không chấp nhận, trừ trường hợp các bên có thoả thuận về thời hạn trả lời.
Điều 395 Bộ luật dân sự năm 2015 Trường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng chết, mất

4. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào
văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.
Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản
thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo khoản 3 Điều này.
Điều 401 Bộ luật dân sự năm 2015 Hiệu lực của hợp đồng
1. Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường
hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác.
2. Từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ
đối với nhau theo cam kết. Hợp đồng chỉ có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ theo thỏa thuận
của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.
Điều 406 Bộ luật dân sự năm 2015 Điều kiện giao dịch chung trong giao kết hợp đồng
1. Điều kiện giao dịch chung là những điều khoản ổn định do một bên công bố để
áp dụng chung cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng; nếu bên được đề nghị chấp
nhận giao kết hợp đồng thì coi như chấp nhận các điều khoản này.
2. Điều kiện giao dịch chung chỉ có hiệu lực với bên xác lập giao dịch trong
trường hợp điều kiện giao dịch này đã được công khai để bên xác lập giao dịch biết hoặc
phải biết về điều kiện đó.
Trình tự, thể thức công khai điều kiện giao dịch chung thực hiện theo quy định
của pháp luật.


12
3. Điều kiện giao dịch chung phải bảo đảm sự bình đẳng giữa các bên. Trường
hợp điều kiện giao dịch chung có quy định về miễn trách nhiệm của bên đưa ra điều
kiện giao dịch chung, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì
quy định này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
II Thời điểm giao kết hợp đồng - Bất cập vẫn chưa được giải quyết tại Bộ luật Dân
sự năm 2015
Thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm xác định sự gặp gỡ và thống nhất ý chí của
các bên. Việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng có ý nghĩa pháp lý rất quan trọng vì

13
Khoảng 18h ngày 12/01/2012, tại Công ty Huada đã xảy ra vụ hỏa hoạn lớn, hậu quả
của nó đã làm thiêu rụi toàn bộ 02 nhà xưởng cùng nhiều máy móc thiết bị, hàng hóa,
ước tính thiệt hại vật chất gần 50 tỷ đồng.
Ngày 13/01/2012, đại diện PJICO Đồng Nai có mặt tại trụ sở của Công ty Huada và yêu
cầu Công ty này cung cấp hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực được các bên ký kết. Qua kết
quả kiểm tra, Hợp đồng bảo hiểm số 11/DN/TSKT/3110/168 vẫn chưa được Công ty
Huada ký và đóng dấu xác nhận.
Ngày 16/1/2012, Công ty Huada chuyển tiền phí bảo hiểm vào tài khoản cho PJICO
Đồng Nai. Ngày 2/2/2012, Công ty Huada ký hợp đồng bảo hiểm và gửi lại toàn bộ hợp
đồng bảo hiểm cho PJICO Đồng Nai.
Sau đó, Công ty Huada đã yêu cầu PJICO Đồng Nai phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường
bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng. Tuy nhiên PJICO Đồng Nai đã phủ nhận hiệu
lực của hợp đồng và từ chối bồi thường cho Công ty Huada. Công ty Huada đã nộp đơn
khởi kiện ra TAND Thành phố Biên Hòa yêu cầu PJICO Đồng Nai bồi thường hơn 67 tỷ
đồng.
Tại các phiên tòa, Công ty Huada cho rằng PJICO Đồng Nai là bên chủ động gửi bảng
báo giá, chi tiết đơn bảo hiểm. Công ty Huada đã chấp nhận bằng việc ký xác nhận vào
bảng báo giá và gửi lại cho PJICO, do đó hợp đồng bảo hiểm giữa hai Công ty đã được
giao kết.
Trong khi đó, PJICO Đồng Nai cho rằng đến ngày 6/1/2012 (ngày có hiệu lực ghi trên
hợp đồng bảo hiểm), Công ty bảo hiểm PJICO Đồng Nai chưa nhận được hợp đồng đã
ký kết hay bất cứ thông báo nào của Huada liên quan đến việc ký kết hợp đồng và thanh
toán phí bảo hiểm.
Theo bản án sơ thẩm số 37/2015/KDTM-ST ngày 29/9/2015 của TAND Thành phố Biên
Hòa, tỉnh Đồng Nai, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tuyên: Không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của Công ty Huada về việc “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” đối với PJICO.
Phán quyết số 11/2016/KDTM-PT của TAND tỉnh Đồng Nai ngày 2/2/2016 và Quyết
định giám đốc thẩm số 47/2016/KDTM-GĐT ngày 29/8/2016 của TAND cấp cao tại TP
Hồ Chí Minh, qua hai cấp xét xử phúc thẩm và giám đốc thẩm đều cho rằng, hợp đồng

doanh bảo hiểm năm 2000 chỉ quy định: “Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn
bản, bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo
hiểm, điện báo, telex, fax...”. Bên bảo hiểm và bên mua bảo hiểm trong hai vụ việc cũng
không thỏa thuận về vấn đề này. Do đó, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng hoàn toàn
xác định theo thời điểm giao kết.
Thời điểm giao kết hợp đồng được quy định tại Điều 400 BLDS năm 2015 (tương ứng
với Điều 404 BLDS năm 2005). Nội dung này được thể hiện khá chi tiết, tuy nhiên, khi
áp dụng trên thực tế, có thể thấy các nội dung này hàm chứa sự mâu thuẫn và bất cập
không nhỏ. Cụ thể là:
Khoản 1 Điều 400 BLDS năm 2015 đưa ra nguyên tắc chung khi xác định thời điểm
giao kết hợp đồng, đó là: Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được
trả lời chấp nhận giao kết. Như vậy, nếu căn cứ vào Khoản 1 Điều 400 BLDS năm 2015
để giải quyết vụ việc trên thì có thể xác định thời điểm hợp đồng giữa các bên phát sinh
hiệu lực như sau:
Hợp đồng bảo hiểm cháy nổ giữa Công ty Huada và PJICO phát sinh hiệu lực từ thời
điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết. Để giải quyết thấu đáo vụ việc này, cần


15
phải xem xét lại quá trình báo giá của PJICO gửi Cong ty Huada và phía Công ty Huada
có gửi lại bản báo giá với các điều khoản giống với giấy chứng nhận bảo hiểm hay
không. Trong trường hợp, PJICO đã gửi cho Công ty Huada bảng báo giá bảo hiểm cháy
và các rủi ro đặc và đại diện của Công ty Huada đồng ý với bảng bảo giá này (có thể
bằng email hoặc fax) thì thời điểm giao kết hợp đồng là khi PJICO nhận được lời chấp
nhận bảng báo giá từ phía Công ty Huada. Mặc dù Công ty Huada chưa ký hợp đồng
nhưng hợp đồng bảo hiểm vẫn có giá trị.
Tuy nhiên, khoản 4 Điều 400 BLDS năm 2015 quy định: “Thời điểm giao kết hợp đồng
bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận
khác được thể hiện trên văn bản”.Nghĩa là thời điểm giao kết hợp đồng xác định theo
hình thức của hợp đồng, nếu hợp đồng bằng văn bản thì thời điểm giao kết là thời điểm

năm 2015 cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Theo quan điểm của Người viết, Điều 400 BLDS năm 2015 cần được sửa đổi hoặc cơ
quan có thẩm quyền cần bản hành văn bản hướng dẫn bổ sung khoản 1 Điều 400 BLDS
năm 2015 theo hướng như sau: “Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị
nhận được chấp nhận giao kết; trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc luật liên quan
có quy định hợp đồng phải được giao kết theo hình thức, thủ tục xác định thì thời điểm
giao kết hợp đồng là thời điểm hoàn tất hình thức, thủ tục đó”.
Trong khi quy định của BLDS năm 2015 chưa được sửa đổi hoặc có văn bản hướng dẫn
đi kèm, các bên khi tiến hành giao kết hợp đồng cần lưu ý những vấn đề sau để tránh
được những rủi ro pháp lý khi giao kết hợp đồng:
Thứ nhất, về nguyên tắc, hợp đồng có hiệu lực tại thời điểm giao kết, nhưng các bên có
thể thỏa thuận về hợp đồng phát sinh hiệu lực tại một thời điểm khác. Quy định này dựa
trên cơ sở nguyên tắc tự do hợp đồng. Do đó, trong trường hợp quy định của pháp luật
chưa rõ ràng, thống nhất (và không có yêu cầu bắt buộc), các bên khi tiến hành giao kết
hợp đồng nên đưa ra những thỏa thuận cụ thể về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng. Ví
dụ: trong quy tắc điều khoản sản phẩm bảo hiểm “Nhất niên gia hạn” của Công ty Bảo
hiểm Quốc tế Mỹ AIA (Việt Nam), có nội dung như sau: “Ngày có hiệu lực của hợp
đồng: nếu hồ sơ bảo hiểm được Công ty chấp thuận, ngày có hiệu lực của hợp đồng là
ngày chủ hợp đồng hoàn tất hồ sơ yêu cầu bảo hiểm và nộp đủ phí bảo hiểm đầu tiên”.
Thứ hai, các chủ thể khi tham gia đàm phán, giao kết hợp đồng cần thực hiện theo quy
trình hợp lý, tránh xảy ra trường hợp thời điểm nhận được chấp nhận đề nghị giao kết và
thời điểm ký vào hợp đồng (với hợp đồng có hình thức văn bản) là khác nhau (nếu các
bên không thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng hoặc pháp luật không có quy
định cụ thể).
Có thể nói, để áp dụng các biện pháp khắc phục hoặc xây dựng, thực hiện các quy trình
giao kết hợp đồng hợp lý, trước hết, đòi hỏi các bên phải có kiến thức và sự nghiêm túc
trong nghiên cứu, áp dụng các quy định của pháp luật. Đây không phải là công việc dễ
dàng và đôi khi đòi hỏi rất nhiều công sức, điều mà các doanh nghiệp (thường chỉ hướng
tới yếu tố lợi nhuận) ít chú trọng. Tuy nhiên, khi tranh chấp xảy ra, hậu quả thiệt hại về
kinh tế mà các chủ thể phải gánh chịu (lấy ví dụ trong vụ việc được phân tích) là thực sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status