BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
****************
NGUYỄN VĂN DƯƠNG
KHẢO SÁT, ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN CHÓ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 8/2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
****************
NGUYỄN VĂN DƯƠNG
KHẢO SÁT, ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM TỬ CUNG TRÊN CHÓ
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Thú y
Mã số
: 60 62 50
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
......................
......................
5. Ủy viên:
......................
......................
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HIỆU TRƯỞNG
i
LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Tôi tên là Nguyễn Văn Dương sinh ngày 08 tháng 08 năm 1972 tại huyện
Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
Tốt nghiệp PTTH tại trường phổ thông trung học Vĩnh Kim, tỉnh Tiền Giang,
năm 1990.
Tốt nghiệp Đại học ngành Thú Y hệ tại chức, tại Đại học Nông Lâm Thành
Phố Hồ Chí Minh, năm 2002.
Từ năm 2003 đến nay làm việc tại trường Cao Đẳng Nông Nghiệp Nam Bộ
Tháng 9 năm 2007 theo học Cao học ngành thú y tại trường đại học Nông
Lâm thành phố Hồ Chí Minh.
Điạ chỉ liên lạc: Nguyễn Văn Dương trường Cao Đẳng Nông Nghiệp Nam
Bộ, xã Tân Mỹ Chánh, TP Mỹ Tho, Tiền Giang.
Điện thoại: 0733.850.136 (CQ) – 0985.037.737
Email:
ii
Nghiên cứu được thực hiện trên 67 chó bệnh viêm tử cung và 9 chó khỏe làm
đối chứng. Kết quả nghiên cứu cho thấy tần số xuất hiện triệu chứng chảy dịch viêm
từ âm đạo cao nhất là (42/67). Bệnh viêm tử cung không chảy dịch có tần số xuất
hiện triệu chứng bụng to, đau khi sờ nắn là cao nhất (23/25). Số lượng bạch cầu
(22,7*103/mm3) tăng cao (P < 0,05), trong đó monocyte (2,75*103/mm3) và
granulocyte (20,88*103/mm3) tăng cao đáng kể (P < 0,023). Hàm lượng ALP
(570,34 UI/lít), ALT (68,34 UI/lít) và BUN (24,17mg/dl) tăng cao (P < 0,05), hàm
lượng creatinine (0,99mg/dl) giảm (P < 0,05) trên những chó bệnh viêm tử cung.
Hàm lượng progesterone (3,48ng/dl) tăng cao trên những chó bệnh viêm tử cung (P
< 0,05). Vi khuẩn E.coli được tìm thấy nhiều nhất (43,24%) trong các mẫu dịch
viêm tử cung, kế đến là Staphylococcus spp (24,32%), Streptococcus spp. (5,41%),
các loại vi khuẩn khác (16,21%). Vi khuẩn E.coli mẫn cảm cao với các kháng sinh
như: norfloxacin, ceftriazon. Staphylococcus spp. mẫn cảm với: cephalexim,
cetriaxon, gentamicin, tobramicin, doxycycline. Streptococcus spp. mẫn cảm với
cephalexim, cetriaxon, gentamicin, tobramicin. Proteus mirabilis mẫn cảm với
cephalexim, cetriaxon, cefalexine, tobramicin, ampicilline và norfloxacin. Sử dụng
prostaglandin (0,2mg/kgtt, IM) cho hiệu quả điều trị tốt hơn so với không dùng
prostaglandin. Sử dụng prostaglandin theo liều tăng dần từ 0,1mg/kgtt đến
0,5mg/kgtt (IM) cho hiệu quả điều trị tốt hơn khi dùng prostaglandin theo liều cố
định (0,2mg/kgtt, IM). Sử dụng kháng sinh gentamicin cho hiệu quả điều trị tốt hơn
khi dùng amoxicillin trên những chó có 250 ≤ ALP ≤ 500UI/lít.
v
SUMMARY
Research topic " The survey and treatment of pyometra in dogs in Ho Chi
Minh city" was conducted at Department of Animal Health and Veterinary Hospital
of the University of Agriculture and Forestry, Ho Chi Minh City, from june 2009 to
November 2010. The objective of this study was the diagnosis and treatment
pyometra disease.
MỤC LỤC
TRANG
Trang chuẩn y
i
Lý lịch cá nhân
ii
Lời cam đoan
iii
Lời cam đoan
iv
Tóm tắt
v
Summary
vi
Mục lục
viii
3
2.1 Cấu tạo bộ máy sinh dục của chó cái
3
2.1.1 Âm hộ (vulva)
3
2.1.2 Âm đạo (vaginal)
3
2.1.3 Dây chằng rộng
3
2.1.4 Tử cung
4
2.1.5 Ống dẫn trứng
4
2.1.6 Buồng trứng (noãn sào)
5
2.2.4 Creatinine trong huyết thanh
8
2.3 Đặc điểm của bệnh viêm tử cung trên chó
9
2.3.1 Dạng viêm nhờn (viêm tử cung thể cata)
10
2.3.2 Dạng viêm mủ
10
2.3.3 Dạng viêm mủ có lẫn máu
11
2.3.4 Dạng viêm tích mủ đóng cổ tử cung trên chó (viêm dạng kín)
11
2.4 Hệ vi khuẩn gây bệnh viêm tử cung
12
2.5 Chẩn đoán bệnh viêm tử cung trên chó
2.6.1 Ngoại khoa
16
2.6.2 Nội khoa
18
2.7 Điều trị bằng kháng sinh
19
2.8 Tóm lược một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nuớc
20
2.8.1 Một số nghiên cứu trong nước
20
2.8.2 Một số nghiên cứu ở nước ngoài
21
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
24
3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện
25
3.3.1 Nội dung 1: Triệu chứng lâm sàng và chẩn đoán siêu âm các chó có những
biểu hiện bệnh viêm tử cung
25
3.3.1.1. Mục tiêu
25
3.3.1.2. Đối tượng và bố trí khảo sát
25
3.3.1.3. Thú khảo sát
26
3.3.1.4. Các chỉ tiêu khảo sát
26
3.3.2 Nội dung 2: Phân tích một số chỉ tiêu huyết học trên những chó bệnh viêm tử
cung
26
3.3.2.1. Mục tiêu
3.3.4.1 Phác đồ phối hợp prostaglandin với kháng sinh
28
3.3.4.2 Ảnh hưởng của việc thay đổi liều sử dụng prostaglandin khi phối hợp với
kháng sinh
29
3.3.4.3 Ảnh hưởng của việc sử dụng gentamicin và amoxicillin trên những chó bệnh
viêm tử cung và có chức năng gan không bình thường.
30
3.3.4.4 So sánh hiệu quả giữa hai phương pháp điều trị
31
3.4 Phương pháp nghiên cứu
32
3.4.1 Số lượng mẫu nghiên cứu
32
3.4.2 Chẩn đoán bệnh viêm tử cung qua khám lâm sàng
33
36
4.1 Tỷ lệ chó viêm tử cung được phát hiện qua lâm sàng và siêu âm
36
4.2 Tần số xuất hiện các triệu chứng
37
4.3 Đặc điểm về hình ảnh siêu âm trong bệnh viêm tử cung
38
4.4 Sự thay đổi các chỉ số sinh lý, sinh hóa máu
39
4.4.1. Sự thay đổi các chỉ số sinh lý
39
4.4.2 Sự thay đổi các chỉ số sinh hóa máu
40
4.5 Sự thay đổi hàm lượng progesterone
42
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
51
5.1 Kết luận
51
5.2 Đề nghị
52
TÀI LIỆU THAM KHẢO
53
PHỤ LỤC
xi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ALP
Alkaline phosphatase
BUN
Blood urea nitrogen
Ovariohysterectomy
PGF2α
Protaglandin F2α
SC
Subcutaneous injection
SGOT hay AST
Aspartat aminotransferase
SGPT hay ALT
Analine aminotransferase
Kgtt
Cắt bỏ tử cung buồng trứng
Tiêm dưới da
Kg thể trọng
xii
DANH SÁCH CÁC BẢNG
TRANG
41
Bảng 4.5. Kết quả xác định hàm lượng progesterone
42
Bảng 4.6. Kết quả phân lập vi khuẩn trong các mẫu dịch viêm
43
Bảng 4.7. Kết quả kháng sinh đồ
44
Bảng 4.8. Hiệu quả điều trị của thử nghiệm (1)
46
Bảng 4.9. Hiệu quả điều trị của thử nghiệm (2)
47
Bảng 4.10. Hiệu quả điều trị của thử nghiệm (3)
48
Bảng 4.11. Hiệu quả giữa hai phương pháp điều trị 4.1 và 4.2
49
dựa vào kinh nghiệm hay dựa vào các tài liệu nước ngoài. Lê văn Thọ (2003) đã
công bố sự nhạy cảm của vi khuẩn gây bệnh viêm tử cung với kháng sinh. Từ năm
2003 đến nay hệ vi khuẩn gây bệnh viêm tử cung trên chó đã thay đổi. Sau một
khoảng thời gian dài sử dụng kháng sinh thì vi khuẩn đã kháng được một hay nhiều
loại kháng sinh. Vì vậy việc đánh giá lại mức độ mẫn cảm của mầm bệnh đối với
kháng sinh là việc làm có ý nghĩa.
1
Hiện nay có nhiều thú y sử dụng thuốc ngừa thai của người là Depo-provera
thành phần chính là medroxyprogesterone acetate để tiêm cho chó. Khi sử dụng
thuốc Depo-provera đã làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm tử cung. Từ những thực tế
trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát, điều trị bệnh viêm tử cung
trên chó tại thành phố Hồ Chí Minh”
1.2 Mục tiêu
Khảo sát bệnh viêm tử cung trên chó.
Tỷ lệ bệnh
Tần số xuất hiện triệu chứng bệnh, đặc điểm về hình ảnh siêu âm
Những thay đổi sinh lý sinh hóa máu.
Các loại mầm bệnh xuất hiện trong dịch viêm
Sự nhạy cảm của kháng sinh với mầm bệnh
Tìm ra phác đồ điều trị hiệu quả nhất.
1.3 Yêu cầu
Chẩn đoán đúng bệnh viêm tử cung thông qua việc khám lâm sàng và qua
siêu âm.
Xác định sự thay đổi các chỉ tiêu huyết học, các thông số sinh hóa như ALT,
ALP, BUN, creatinine trước khi điều trị.
Xác định hàm lượng progesterone trước khi điều trị
Phân lập vi khuẩn trong mẫu dịch viêm và thử kháng sinh đồ
3
Màng treo buồng trứng, làm thành vách phía trong của túi buồng trứng.
2.1.4 Tử cung
Hình thái
Là một ống cơ rỗng, phần lớn nằm trong xoang bụng, phía sau nằm trong
xoang chậu và chia làm 3 phần: sừng tử cung, thân tử cung và cổ tử cung.
Sừng tử cung (uteri cornua): gồm hai sừng nằm hoàn toàn trong xoang bụng
và được ép sát vào thành bụng. Các sừng nhỏ về trước và rộng dần về phía sau. Đầu
trên của sừng tử cung nối với ống dẫn trứng, đầu dưới của sừng tử cung nối với thân
tử cung.
Thân tử cung (uteri corpus): một phần nằm trong xoang bụng một phần nằm
trong xoang chậu, đường kính lớn hơn sừng tử cung nhưng ngắn hơn sừng tử cung.
Thân tử cung là nơi tiếp nhận hai sừng tử cung. Phía trên tiếp giáp với trực tràng,
phía dưới tiếp giáp với bàng quang.
Cổ tử cung (uteri cervix) là phần hẹp ở phía sau, nhưng có thành rất dày,
phía sau cổ tử cung nối liền với âm đạo.
Cấu tạo
Từ ngoài vào trong tử cung gồm 3 lớp:
Lớp áo trơn liên tục với dây rộng
Lớp cơ gồm hai lớp: lớp cơ trơn dọc, mỏng nằm ở ngoài, lớp cơ vòng nằm ở
trong dày hơn. Giữa hai lớp cơ là một lớp mô liên kết chứa rất nhiều mạch máu. Áo
cơ dày nhất ở cổ tử cung.
Lớp niêm mạc có màu hồng với nhiều tế bào tiết dịch nhầy và có nhiều
nhung mao, khi cơ hoạt động các nhung mao đẩy dịch nhầy về phía sau.
2.1.5 Ống dẫn trứng
Là một ống ngoằn ngoèo, nối liền từ buồng trứng đến sừng tử cung. Ở đầu
sau ống dẫn trứng có đường kính nhỏ dần, càng về phía noãn sào càng lớn, đến
hormone) của tuyến não thùy, tuyến não thùy chịu sự kiểm soát của các kích thích
tố sinh dục thông qua cơ chế phản hồi âm.
5
2.1.7.1 Progesterone
Nguồn gốc
Progesterone chủ yếu do hoàng thể tiết ra, từ nhau thai trong suốt quá trình
mang thai, từ vỏ thượng thận và dịch hoàn.
Chức năng
Tác động lên các mô tử cung đã được hoạt hóa trước, làm cho nội mạc tử
cung dày lên, các tuyến tử cung phát triển, tăng tiết dịch tử cung tạo điều kiện tốt
cho hợp tử sinh sống và bám vào nội mạc tử cung. Sự thay đổi tỷ lệ giữa estrogen
và progesterone làm tử cung nhạy cảm với oxytocine trong quá trình sinh đẻ và làm
tăng tiết LH của tuyến não thùy. Tác dụng lên tuyến vú mà trước đó đã được
estrogen hoạt hóa, kích thích sự phát triển của nang tuyến vú (Trần Thị Dân và
Dương Nguyên Khang, 2006).
Theo Verstegen (2008), sau giai đoạn lên giống hàm lượng progesterone
trong máu của chó tăng cao, làm tăng tiết dịch trong tử cung. Dịch tiết này là môi
trường tốt cho các vi sinh vật gây bệnh sinh sản và phát triển, làm giảm sự co thắt
cơ tử cung, làm đóng cổ tử cung. Vì vậy các dịch tiết và mầm bệnh không được đẩy
ra ngoài từ đó tạo điều kiện cho bệnh tích dịch tử cung hay tích mủ tử cung. Ngoài
ra progesterone còn ức chế hoạt động của các tế bào có chức năng miễn dịch, hạn
chế sự thoát mạch của các tế bào bạch cầu.
Chaffaux (1978) nghiên cứu nồng độ progesterone trên 35 chó bệnh tích mủ
tử cung, kết quả progesterone ở ngưỡng 2ng/ml dùng để xác định sự hoạt động của
hoàng thể, những chó có hàm lượng progesterone cao hơn 2ng/ml thì hoàng thể
đang hoạt động và hàm lượng progesterone thấp hơn 2ng/ml thì hoàng thể mất chức
năng.
SGPT thường không quan trọng (Kramer và Hoffmann, 1997).
Các vi khuẩn đã được opsonine hóa, các phức hợp giữa vi khuẩn và đại thực
bào di chuyển trong dòng máu đến các tế bào gan, tế bào thận gây nghẽn dẫn đến
viêm hay hoại tử các tế bào gan, thận. Khi các tế bào gan bị hư hại sẽ làm thay đổi
các chỉ số SGPT, hay SGOT (Nguyễn Văn Khanh, 2008).
7
Nồng độ alanine amino transferase (SGPT) trong huyết thanh có thể tăng
nhẹ. Những thay đổi này do độc tố làm hư hại các tế bào gan, hoặc lưu thông máu
qua gan giảm do mất nước (Verstegen, 2008).
2.2.2 Alkaline phosphatase trong huyết thanh
Hoạt lực của enzyme alkaline phosphatase (ALP) tăng cao trong các bệnh lý
liên quan đến xương (ung thư xương, viêm tủy xương. . .) hoặc các bệnh lý về gan
như: viêm gan cấp, viêm gan mãn, hoại tử gan, tắt ống mật, ung thư biểu mô gan,
ung thư tuyến vú. Ở chó ALP tăng hoạt lực gấp 3 lần trong bệnh gan kèm tắc ống
dẫn mật, cường năng vỏ thượng thận. Ngoài ra hoạt lực ALP còn tăng cao trên chó
con đang lớn và trên chó đang điều trị bằng thuốc chống co giật, barbiturate
(Kramer và Hoffmann, 1997).
2.2.3 Nitrogen urea trong máu (Blood urea nitrogen- BUN)
Urea được tổng hợp trong gan từ chu trình urea và được lọc thải qua thận.
Lượng BUN bình thường trên chó 10 - 28mg/dl trong điều kiện sức khỏe bình
thường BUN tăng nhẹ khi khẩu phần ăn chứa nhiều protein. Hàm lượng BUN tăng
cao khi chức năng thận bị suy yếu. Ngoài ra, BUN còn tăng cao khi chó bị chảy
máu ở ruột non, phỏng, sốt nhiễm trùng, khi dùng thuốc tetracycline hay
glucocorticoid (Foster và Smith, 2000)
2.2.4 Creatinine trong huyết thanh
Creatine được tổng hợp từ gan, theo máu đến cơ và được dự trữ dưới dạng
creatine phosphate. Trong quá trình co cơ, creatine được chuyển hóa để giải phóng
tăng sinh nội mạc tử cung. Những trường hợp này được hiểu là trong lòng tử cung
có chứa dịch, khác với tích mủ tử cung là không có sự nhiễm khuẩn.
Theo Verstegen (2008), tích mủ tử cung là một chứng gây rối loạn sinh sản
trên chó, thường xảy ra trên chó từ 4 đến 10 năm tuổi. Sau vài năm nghiên cứu trên
giống chó săn thỏ ở độ tuổi trung bình trên 4 năm tuổi, ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh tích
mủ tử cung là 15,2% trên những chó này. Tích mủ tử cung có sự khác biệt so với
tích dịch nhầy tử cung hay viêm tử cung về cơ chế sinh bệnh, dấu hiệu lâm sàng,
điều trị và tiên lượng. Cuối giai đoạn lên giống các vi khuẩn cơ hội từ âm đạo đi
vào tử cung để sinh sản, phát triển. Giai đoạn tăng sinh nội mạc tử cung thường làm
9