SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÌNH PHƯỚC
TRƯỜNG THPT LỘC NINH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Người thực hiện: Phan Ngọc Huy
Chức vụ: Giáo Viên
Tổ: Tiếng Anh
Năm học: 2014-2015
Lộc Ninh, tháng 03 năm 2015
ESA
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÌNH PHƯỚC
TRƯỜNG THPT LỘC NINH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ESA
ĐỂ ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC
CHO NGƯỜI HỌC TIẾNG ANH 10
PHAN NGỌC HUY
Lộc Ninh, 2015
i
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .....................................................................04
NỘI DUNG ................................................................................................................06
1. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ .................................................................................06
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN .............................................................................................07
21. Sơ lược về phương pháp ESA ......................................................................07
2.2. Các dạng biến thể ESA ...............................................................................09
3. VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ESA VÀO DẠY TIẾNG ANH LỚP 10 ........12
iii
4. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ............................................................................25
4.1. Mục đích của thực nghiê ̣m sư phạm ...........................................................25
4.2. Sơ lược phương pháp xử lý số liệu bằng toán thống kê .............................25
4.3. Kết quả thực nghiệm...................................................................................27
4.4. NHẬN XÉT CHUNG ................................................................................29
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ......................................................................................32
1. KẾT LUẬN .......................................................................................................32
2. ĐỀ XUẤT ..........................................................................................................32
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................34
PHỤ LỤC ....................................................................................................................35
GIÁO ÁN GỢI Ý ÁP DỤNG SƠ ĐỒ BÀI NGỮ PHÁP ......................................37
iv
DANH SÁCH BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Trang
Bảng biểu
1. Bảng 1.1. Thống kê điểm kiểm tra đầu vào đầu năm của học sinh ........................ 06
chúng ta cần phải chú trọng đầu tư vốn kiến thức tiếng Anh cho họ ngay từ lúc
còn học phổ thông.
Nhận định được nhu cầu cấp thiết trên, ngày 30/9/2008, Thủ tướng chính phủ
đã phê duyệt “Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân
giai đoạn 2008-2020” với mục tiêu chung “Đổi mới toàn diện việc dạy và học
ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học
ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được
một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân
lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt
Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử
dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội
nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người
dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.”
(trích Quyết định số 1400/QĐ-TTg)
Để đạt được mục tiêu trên, ngoài các tiêu chí về năng lực nghề nghiệp, giáo
viên cần phải xây dựng các mô hình dạy học mới để nâng cao các kỹ năng và
khả năng tư duy sáng tạo của học sinh, giúp học sinh định hướng và phát triển
2
năng lực toàn diện. Nhận thức được mục tiêu quan trọng đó, người viết đã không
ngừng nghiên cứu, tìm tòi các phương pháp mới để áp dụng trong giảng dạy môn
tiếng Anh. Sau một thời gian tham gia các hội thảo của Đề án Ngoại ngữ Quốc
gia và các lớp tập huấn về phương pháp dạy học, người viết đã tích lũy, vận
dụng, và mạnh dạn trình bày những kinh nghiệm từ bản thân thông qua đề tài
“Sử dụng phương pháp ESA để định hướng năng lực cho người học tiếng
Anh 10”
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Với tất cả sự nhiệt huyết trong nghề giáo, người viết đã không ngừng tìm tòi,
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong giới hạn bài viết này, đề tài áp dụng tốt nhất cho học sinh lớp 10 đang
theo học sách giáo khoa (SGK) thí điểm hệ 10 năm, cụ thể là các lớp 10A1 của
trường THPT Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Bên cạnh đó, người viết cũng sử dụng
lớp 10A2 và 10A3 để làm lớp đối chứng.
4. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Bài viết nhằm trả lời 3 câu hỏi sau:
(1) Phương pháp ESA có giúp học sinh định hướng năng lực được không?
(2) Phương pháp ESA có vai trò tích cực như thế nào trong việc tri nhận kiến
thức một cách tích cực
(3) Phương pháp ESA có thể trở thành một phương pháp tối ưu trong việc dạy
học định hướng theo kĩ năng được không?
4
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Cơ sở lý luận
Bài viết sử dụng cơ sở lý luận của việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo
định hướng năng lực học sinh trọng chương trình sách giáo khoa hệ 10 năm.
Lý luận về giảng dạy bằng bằng phương pháp ESA
5.2. Cơ sở thực tiễn
Sử dụng phương pháp ESA để giúp học sinh tự mình nắm lấy kiến thức qua
các hoạt động theo định hướng năng lực.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để hoàn thành được bài viết, người viết đã sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu sau:
(1) Phương pháp điều tra
Phương pháp điều tra bao gồm khảo sát, phỏng vấn nhanh, quan sát lớp
học, kiểm tra và đánh giá để có số liệu thô cho quá trình nghiên cứu.
dưới trung bình không cao nên có thể thấy học sinh dường như chưa thấy được
tầm quan trọng của bộ môn tiếng Anh nên thường không chú trọng rèn luyện,
điều này dẫn đến kết quả không đạt như mong muốn. Biểu hiện qua thống kê
sau:
Kĩ năng
Ngữ pháp
Đọc
10A1
18/40 = 45%
10/40 =25%
10A2
21/35 = 60%
Lớp
10A3
Viết
Nghe
Nói
11/37 =
02/37 =
03/37 =
03/37 =
64.9%
29.7%
5.4%
8.1%
8.1%
Bảng 1.1. Thống kê điểm kiểm tra đầu vào đầu năm của học sinh
Từ bảng thống kê trên, có thể dễ dạng nhận thấy học sinh có tỉ lệ phần ngữ
pháp cao hơn phần kĩ năng. Trong đó, kĩ năng nghe, viết và đặc biệt là nói rất
7
thấp, vì thế mà việc thực hiện dạy học theo định hướng năng lực như đề án ngoại
ngữ 2020 sẽ càng khó khăn hơn.
Nhận thức được khó khăn trên, người dạy đã không ngừng tìm tòi, nghiên
cứu, tham gia các lớp tập huấn về đổi mới phương pháp và vận dụng công nghệ
duy phản biện (critical thinking).
- Study (Học): Đây là chặng thứ hai sau khi người học đã nhận thức được
vấn đề sắp học. Ở chặng này, người học sẽ tập trung vào trọng tâm ngôn
ngữ và cách xây dựng nó. Theo Jermery Harmer, chặng Study giúp người
học phân loại được việc học và thực hành về vấn đề đang được thảo luận
chung, thông qua các dạng văn bản, bài khóa, ngữ pháp,… người học sẽ
nắm lấy những ý chính và những chủ điểm từ phát âm cho đến từ vựng,
câu, ngữ pháp thông qua hình thức giao tiếp. Các hoạt động trong chặng
này thường bao gồm boardwork để luận ra điểm trọng tâm, hay những câu
hỏi đặc thù xoáy quanh vấn đề chính của bài học thông qua dạng gap
filling, matching, word ordering,… Ông cũng cho rằng, sự thành công
trong chặng này phụ thuộc vào sự pha trộn khôn khéo của sự tri nhận ngôn
ngữ tiềm thức, tức giúp học sinh nắm bắt, vận dụng được các kiến thức đã
được học hay đã có mà các em không có cơ hội vận dụng thông qua hoạt
động giao tiếp.
- Activate (Kích hoạt): Là chặng cuối cùng giúp người học vận dụng những
kiến thức đã lĩnh hội từ hai chặng trên. Ông Jermery viết: “Các dạng bài
tập và hoạt động được thiết kế để giúp học sinh vận dụng kiến thức ngôn
ngữ tự do và cởi mở thông qua giao tiếp một cách tối đa (exercises and
activities which are designed to get students using languages as freely and
communicatively as they can)”. Rõ ràng, chặng này không tập trung vào
xậy dựng ngôn ngữ hay thực hành các mẫu ngôn ngữ nhỏ lẻ, thay vào đó
9
học sinh sẽ dùng tất cả kiến thức nắm được để tranh luận chủ đề bài học,
như vậy, học sinh sẽ không còn thụ động, không còn luyện tập kiểu diễn
tập (rehearsal) nữa, mà sẽ được “kích hoạt” tối đã ngôn ngữ thực (real
language) và thế giới thực (real world). Để đạt được mục tiêu trên, các
số lớp học, người học có thể có trình độ cao hơn, và kiến thức ngôn ngữ
phức tạp hơn, người dạy có thể sử dụng loại biến thể này:
- Engage: Người học tranh luận về chủ đề định sẵn một cách tích cực và
hứng thú.
- Activate: Người dạy mô tả về tình huống mà người học sắp nhập vai, trong
quá trình người học nhập vai, người dạy ghi chú những khó khăn học sinh
gặp phải.
- Study: Sau khi nhập vai xong, người dạy truyền đạt những khía cạnh từ
vựng, mẫu câu và ngữ pháp, giải đáp những khó khăn người học vấp phải.
- Activate: Người học nhập vai và vận dụng những kiến thức mới học được
để làm cho bài học trở nên hoàn thiện hơn.
Tiến trình này được mô phỏng qua sơ đồ sau:
Hình 2.2.2. Chuỗi tiến trình đòn bật của phương pháp ESA
11
Như vậy, trong tiến trình này, đòi hỏi người dạy cần giải đáp các vấn đề mà
học sinh gặp phải, và cũng cần chuẩn bị những tình huống nằm ngoài dự tính
khi mà quá trình tư duy phản biện của người học cao hơn.
c. Patchwork (chắp mảnh): Ngoài những bài học có tiến trình phân bổ rõ ràng
các phần, thì cũng có những bài học phức hợp với nhiều tiến trình nhỏ lẻ
thì việc sử dụng biến thể patchwork là cần thiết:
- Engage: Người học dựa vào tình huống hoặc tranh ảnh để bình luận.
- Activate: Người học thực hiện nhập vai nhanh nhân vật trong tranh hay
trong tình huống.
- Activate: Người học nói về cảm giác của họ về vấn đề vừa nhập vai trên.
- Study: Người dạy truyền đạt kiến thức về chủ đề bài học.
- Activate: Người học mô tả chính họ hoặc người trong chủ đề bài học
nhiều trong giảng dạy những năm gần đây. Xong, điều gì khiến cho phương
pháp ESA ra đời và trở nên vượt trội, giúp người học tự tin nghe nói, thể hiện
ý tưởng trong môi trường giao tiếp thực tế.
Theo ông Ted Tucker [5], một lỗi chung nhất của các phương pháp này
chính là giáo viên làm và nói quá nhiều khiến học sinh không có thời gian và
cơ hội để hoạt động và kiểm chứng những gì mình đạt được (one of the most
common errors untrained teachers make is that they talk too much. Let your
students do the talking and watch how quickly they learn). Còn theo Ralph
Braswell [6] lí giải khi dạy các vấn đề ngôn ngữ phức tạp với các mức độ câu
cú hay các kỹ năng giao tiếp, thì các phương pháp trên đã không còn hữu
dụng ( it does not work well when teaching more complex language problems
beyond the sentence level or when teaching communicative skills). Còn về
quan điểm của Jermery Harmer [1], phương pháp PPP chính là dạng Straight
Arrows, và phương pháp Tasked-Based Learning giống với dạng Boomerang
hay Patchwork, còn phương pháp Communicative Approach chính là điểm
nhấn của chặng Activate trọng bài học. Như vậy, các phương pháp trên đã tạo
ra sự kế thừa và phát triển cho phương pháp ESA này.
Tóm lại, ba yếu tố ESA được xem như nển tảng cho việc thành công trong
dạy và học việc vận dụng phương pháp ESA vào tiến trình dạy học sẽ phát
huy tối đa trong việc thúc đẩy quá trình thành công của học sinh về lĩnh hội
ngôn ngữ.
13
3. VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ESA VÀO DẠY TIẾNG ANH LỚP 10
Qua một quá trình được bồi dưỡng, đào tạo và chuẩn bị kĩ lưỡng về bài dạy,
người viết đã tự tin thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu. Trong quá trình dạy, người
viết đã áp dụng phương pháp ESA để định hướng học sinh theo hướng phát triển
năng lực tư duy và kết quả đạt được chính là học sinh tự tin thể hiện ý kiến của
+ do housework
+ mother is the homemaker
+ do the household chores
+ father is the breadwinner
+ woman’s duty
+ both mother and father share
+ homemaker
household chores
+ breadwinner
+ the benefits for children to share the
+ be responsible for
housework are enormous
+ family finances
+ children are better, more sociable and
+ benefit
sinh có cơ hội sử dụng ngôn ngữ của mình một cách tối đa, giúp các em giao
16
tiếp, chia sẻ và thực hành bài đọc thông qua quá trình hoạt động nghe – nói.
Do vậy, giáo viên có thể sử dụng các hoạt động debates hoặc discussions
nhằm định hướng học sinh sử dụng ngôn ngữ thực và tình huống thực (real
language in real world).
Trong nội dung bài học này, giáo viên có thể gợi ý hai câu hỏi để các em
thảo luận:
Do you have any problems with sharing housework?
What benefits do you get when sharing housework?
Hình 3.2. Hoạt động nhóm mở trong giờ học reading – unit 1 – SGK hệ 10 năm
17
Từ các hình ảnh ghi nhận trên, có thể dễ dạng nhận thấy sự hào hứng và thích
thú của học sinh khi các em có cơ hội giao tiếp, trao đổi và vận dụng kiến thức
bài học vào ngôn ngữ của mình. Một tiết học hòa đồng, vui vẻ như thế này chắc
chắn sẽ là đòn bẩy giúp học sinh tự tin sử dụng ngôn ngữ và ngày càng thêm
phần gắn bó hơn với bộ môn tiếng Anh.
Cũng cần nói thêm trong hoạt động này, giáo viên ngoài một người hướng
dẫn, quan sát, còn là một thành viên của nhóm, giáo viên có thể đi đến một số
nhóm mà trong chặng Engage các em còn vướng mắc một số lỗi để nghe, nói
cùng với các em, và để kiểm tra những em đó đã biết và vận dụng những kiến
thức mới hay chưa. Sau khi thảo luận nhóm trong năm phút, giáo viên lần nữa
mời các nhóm đứng lên chia sẻ ý kiến của nhóm mình và mời các nhóm khác
có một nền tảng kiến thức, từ vựng từ các phần bài học trước, do vậy, học sinh
có thể vận dụng liên thông qua tiết học này. Sau khi thảo luận, giáo viên có thể
mời hai, hoặc ba học sinh lên bảng vẽ ra những ý kiến của nhóm về vấn đề nghề
nghiệp giữa nam và nữ, từ trên giáo viên tiếp tục lựa chọn, bổ sung và định
hướng cho học sinh nhập vai để kích hoạt khả năng tư duy bởi chặng Activate.
19
Hình 3.4. Nghề nghiệp giữa nam giới và nữ giới
+ Activate: Phân lớp thành hai nhóm, mỗi nhóm theo một quan điểm khác
nhau về công việc dành cho người phụ nữ: Quan điểm truyền thống (người
phụ nữ nên ở nhà để làm việc nhà và chăm lo chồng con) và quan điểm hiện
đại (ai cũng có thể làm việc nhà, chăm lo con cái, được đi làm và được trả
lương theo công sức bỏ ra). Học sinh có thể trình bày ý kiến và phản bác ý
kiến của nhóm đối nghịch bằng những lý do có sức thuyết phục, giáo viên
làm trung gian, ghi chép những ý kiến và những khó khăn khi học sinh nói
như ý, từ vựng, ngữ pháp, phát âm, diễn xuất. Sau tranh luận khoảng 7 phút,
giáo viên cho học sinh chuyển qua chặng study.
+ Study: Ở chặng này, giáo viên cung cấp ngữ liệu bài học cần thiết:
+ Đề xuất ý kiến
+ Đồng ý và không đồng ý với ý kiến
+ Phản bác ý kiến
+ Kiến thức bài học trong task 2 trang 10
+ Đề xuất mẫu giao tiếp như trong task 3 trang 10