ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ VĂN PHỤNG
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN, ĐỔI THỬA
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HOÁ
GIAI ĐOẠN 2013 -2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên - Năm 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ VĂN PHỤNG
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN, ĐỔI THỬA
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ BỈM SƠN, TỈNH THANH HOÁ
GIAI ĐOẠN 2013 -2017
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 8. 85. 01. 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Phan Đình Binh
tôi, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành
đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp quý báu và chỉ bảo tận tình
của các thầy, cô giáo trong Khoa Quản lý đất đai - Trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên; các tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn tốt
nghiệp này.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bác, cô chú, anh, chị, các đồng chí
lãnh đạo Uỷ ban nhân dân thị xã Bỉm Sơn, các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế, Phòng Thống kê, Trạm Bảo vệ
thực vật và Uỷ ban nhân dân các xã, phường đã tạo điều kiện cho tôi về thời gian và
cung cấp số liệu giúp tôi thực hiện đề tài này.
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình,
người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt việc học
tập, nghiên cứu của mình trong suốt quá trình học tập vừa qua.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu đó!
Thái Nguyên, ngày
tháng 10 năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Văn Phụng
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................. ii
MỤC LỤC .................................................................................................................. iii
2.3.3. Đánh giá công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trên địa bàn thị
xã Bỉm Sơn ........................................................................................................ 23
2.3.4. Đánh giá tác động của công tác DĐĐT đất nông nghiệp trên địa bàn
thị xã Bỉm Sơn đến việc sản xuất của nông hộ ................................................. 23
2.3.5. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp sau dồn điền đổi thửa............................................................................. 24
2.4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 24
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp ....................................................... 24
2.4.2. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp .................................................... 24
2.4.3. Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ...................... 25
2.4.4. Phương pháp xử lý số liệu ....................................................................... 26
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................................. 27
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thị xã Bỉm Sơn ........................................ 27
3.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................... 27
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ........................................................................ 32
3.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thị xã Bỉm Sơn.... 36
3.2. Tình hình sử dụng đất đai tại thị xã Bỉm Sơn ................................................ 36
3.3. Đánh giá công tác dồn điền đổi thửa ở thị xã Bỉm Sơn giai đoạn 2013-2017........ 39
3.3.1. Mục đích, nguyên tắc và quy trình thực hiện dồn điền đổi thửa ............. 39
3.3.2 Kết quả dồn điền đổi thửa ở thị xã Bỉm Sơn ............................................ 45
3.4. Đánh giá tác động của dồn điền đổi thửa đến sản xuất nông nghiệp của
hộ gia đình, cá nhân .............................................................................................. 50
3.4.1. Tác động của dồn điền đổi thửa đến công tác quản lý và sử dụng
đất nông nghiệp. ............................................................................................... 50
3.4.2. Ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến cơ cấu cây trồng, vật nuôi và
quy mô sản xuất của 2 xã điều tra ..................................................................... 52
3.4.3. Ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp của 2 xã Quang Trung và Hà Lan ......................................................... 54
3.4.4. Ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến các vấn đề khác .......................... 59
3.4.5. Nhận xét chung về tác dộng của công tác dồn điền đổi thửa đến phát
: Cây hàng năm
CLN
: Cây lâu năm
CNH-HĐH
: Công nghiệp hoá- hiện đại hoá
DĐĐT
: Dồn điền đổi thửa
DĐRĐ
: Dồn đổi ruộng đất
DT
: Diện tích
GO
: Giá trị sản xuất
HTXNN
: Hợp tác xã nông nghiệp
: Nuôi trồng thuỷ sản
QH
: Quy hoạch
UBND
: Uỷ ban nhân dân
TBKT
: Tiến bộ kỹ thuật
SL
: Sản lượng
VA
: Giá trị gia tăng
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài sản, là nguồn lực vô cùng quý giá của mỗi quốc gia. Trong sản
xuất đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không có gì thay thế được. Đối với Việt
Nam, là quốc gia đất chật, người đông, đời sống của đại bộ phận nhân dân dựa vào
sản xuất nông nghiệp.
Thời gian qua trong công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp, nông thôn, Đảng
và nhà nước ta luôn có những chính sách mới về đất đai nhằm thúc đẩy nền nông
nghiệp phát triển, điển hình là luật Đất đai năm 1993, theo đó đất đai được giao đến
tận tay người nông dân. Với chính sách mới về quyền sử dụng đất đã làm thay đổi
mối quan hệ sản xuất ở nông thôn, người nông dân thực sự trở thành người chủ
mảnh đất của mình, đó là động lực cho sự phát triển vượt bậc của nền nông nghiệp.
Nhưng thực tế, khi chia ruộng đất cho nông dân theo Nghị định 64-CP ngày
27/9/1993 của Chính phủ, chúng ta đã thực hiện phương châm công bằng, ruộng tốt
cũng như xấu, xa cũng như gần đều được chia đều tính trên nhân khẩu nông nghiệp,
dẫn đến tình trạng ruộng đất bị phân tán, manh mún không đáp ứng được nhu cầu
phát triển của nền nông nghiệp thời kỳ đổi mới.
Ở Bỉm Sơn, tình trạng manh mún ruộng đất diễn ra ở hầu hết 2 xã, và 3
phường trong toàn Thị xã, thống kê cho thấy mỗi hộ sản xuất nông nghiệp năm
1993 với cách chia ruộng có tốt, có xấu, có xa, có gần nên trên địa bàn Thị xã bình
quân 9 - 16 thửa ruộng/hộ. Để giải quyết tình trạng manh mún ruộng đất năm 1998.
Thực hiện chỉ thị 13 CT/TU ngày 03/9/1998 của Ban Thường vụ tỉnh uỷ “về cuộc
vận động thực hiện dồn điền đổi thửa tạo điều kiện cho hộ nông dân phát triển sản
xuất nông nghiệp”, Kế hoạch số 12/KH-UB ngày 29/01/1999 của UBND tỉnh Bỉm
Sơn về dồn điền đổi thửa tập trung ruộng đất để phát triển nông nghiệp hàng hoá
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn; Chỉ thị số 02CT/TU ngày 10/3/2006 của Ban Thường vụ Thị uỷ Bỉm Sơn về tăng cường lãnh
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Góp phần xây dựng cơ sở lý luận và hoàn thiện quy trình
dồn điền đổi thửa phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp góp phần tích
cực cho việc thực hiện xây dựng nông thôn mới.
- Ý nghĩa thực tiễn: Thông qua việc nghiên cứu đề tài và thực tiễn đề xuất các
giải pháp giúp hộ nông dân có hướng đầu tư thâm canh, chuyển dịch cơ cấu cây
trồng theo hướng hàng hóa, cải tiến kỹ thuật, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất nông nghiệp, từng bước hình thành các mô hình sản xuất hàng hóa trên
cơ sở tích tụ ruộng đất nông nghiệp.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận của dồn điền đổi thửa trong nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm
Dồn điền đổi thửa (Group of land) là việc tập hợp dồn đổi các thửa ruộng
nhỏ thành thửa ruộng lớn, trái ngược với chia các mảnh ruộng to thành các mảnh
ruộng nhỏ (TS. Đào Thế Anh, 2004).
Hay hiểu theo cách khác thì dồn điền đổi thửa là việc chuyển đổi ruộng đất từ
ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn giữa các hộ nông dân, tập trung ruộng đất để đưa nền
nông nghiệp vốn manh mún, nhỏ lẻ sang phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa có
quy mô lớn hơn, dưới sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương xuống địa phương. Có
hai cơ chế chủ yếu để thực hiện dồn điền đổi thửa:
Một là để cho thị trường ruộng đất và các nhân tố phi tập trung tham gia vào,
Nhà nước chỉ hỗ trợ sao cho cơ chế này vận hành tốt hơn. Hai là thực hiện các biện
pháp can thiệp hành chính, tổ chức phân chia lại ruộng đất, thực hiện các quy hoạch
có chủ định. Theo cách này các địa phương đều xác định là dồn điền đổi thửa sẽ
không làm thay đổi các quyền của nông hộ đối với ruộng đất đã được quy định
xuất nông nghiệp. Vì vậy đòi hỏi phải quy hoạch giao thông nội đồng, thủy lợi tưới
tiêu phải đảm bảo thuận tiện. Trong đó phải đặc biệt quan tâm đến việc DĐĐT từ
nhiều ô thửa nhỏ thành một ô thửa lớn, góp phần tăng năng xuất, giảm chi phí mang
lại hiệu quả kinh tế cao.
Tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, sinh
thái và bền vững.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đang là một chủ
trương lớn nhằm hình thành nền nông nghiệp hàng hóa phù hợp với nhu cầu thị
trường và điều kiện sinh thái từng vùng, góp phần tăng năng suất lao động, nâng
cao chất lượng và sức cạnh tranh của thương hiệu sản phẩm nông nghiệp Việt Nam
trong thời toàn cầu hóa thị trường.
Để vươn tới nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, đủ sức cạnh tranh trong tương
lai thì cần phải loại bỏ dần tư tưởng sản xuất tiểu nông, nhỏ lẻ. Công tác dồn điền đổi
thửa rất quan trọng, tạo bước đệm để nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp, tạo ra những
sản phẩm hàng hóa chất lượng, khai thác hết tiềm năng đất đai của mỗi địa phương.
5
1.1.3. Mục đích
Khắc phục tình trạng manh mún và phân tán ruộng đất, tạo điều kiện quy
hoạch vùng sản xuất tập trung, để thuận tiện cho việc áp dụng các tiến bộ KHKT.
Thực hiện cơ giới hóa trong nông nghiệp, giảm chi phí sản xuất, tăng hiệu quả lao
động, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, chuyển dịch cơ cấu lao động trong
nông nghiệp sang sản xuất ngành nghề, tăng thu nhập cho người dân.
Tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư, cơ giới hóa vào đồng ruộng, tạo nguồn
lực thực hiện xây dựng Nông thôn mới, xây dựng các công trình phúc lợi xã hội.
1.1.4. Vai trò của dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp
Việt Nam, từ một nước nhập khẩu lương thực, thực phẩm là chủ yếu, một
nước nghèo nàn và lạc hậu đã vươn lên trở thành nước xuất khẩu lớn trên thế giới
việc đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ sản xuất như: đường giao
thông nội đồng, cứng hoá hệ thống kênh mương, quy hoạch những vùng chuyên
canh, khai thác được lợi thế của từng vùng đất khác nhau.
DĐĐT thửa tạo điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nội bộ
ngành nông nghiệp, thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá, làm tiền đề cho việc hình
thành các doanh nghiệp trong nông nghiệp và có điều kiện để hình thành nhiều
trang trại, nông trại, góp phần đưa chăn nuôi ra khỏi khu dân cư, thúc đẩy phân
công lại lao động xa hội. Bởi vì hiện nay do ruộng có ô thửa nhỏ, trên một cánh
đồng các hộ canh tác những cây trồng khác nhau có thời gian sinh trưởng khác
nhau, chế độ chăm sóc thu hoạch khác nhau. Điều đó gây ảnh hưởng và hạn chế lẫn
nhau, không có loại cây trồng nào có diện tích đủ lớn dẫn đến không có khối lượng
hàng hoá lớn. Nếu thực hiện DĐĐT sẽ khắc phục được tình trạng này.
DĐĐT thành công sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng các tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Hiện nay do thửa ruộng nhỏ, khâu làm đất người
nông dân chủ yếu cày bừa thủ công theo lối truyền thống bằng trâu, bò, thậm chí
nhiều nơi người dân vẫn cuốc đất bằng tay. Mặt khác khâu gieo cấy, thu hoạch phổ
biến hiện nay vẫn áp dụng phương pháp thủ công là chính, chi phí cao, mất nhiều
thời gian, năng suất lao động thấp, nông dân vẫn phải lao động cực nhọc.
Sau DĐĐT, bà con hạch toán qua một vài vụ sản xuất thấy năng suất lúa tăng
5 - 10 tạ /ha, chi phí điện nước, công lao động tiết kiệm được 10 -15 %. Thu hoạch
vụ đông, thương nhân về tận ruộng thu gom (Tổng cục Địa chính, 1998).
DĐĐT sẽ tạo điều kiện sản xuất ra khối lượng sản phẩm hàng hoá đủ lớn giúp
cho công nghiệp chế biến phát triển, thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá nông sản.
7
1.2. Tình hình dồn điền đổi thửa trên thế giới và Việt Nam
1.2.1. Tình hình dồn điền đổi thửa trên thế giới
Tình trạng manh mún ruộng đất xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới. Để khắc phục
* Đài Loan: Sau năm 1949 dân số tăng đột ngột do sự di dân từ lục địa ra. Lúc
đầu chính quyền Tưởng Giới Thạch thực hiện cải cách ruộng đất theo nguyên tắc
phân phối đồng đều ruộng đất cho nông dân. Ruộng đất đã được trưng thu, tịch
thu, mua lại của các địa chủ rồi bán chịu, bán trả dần cho nông dân, tạo điều kiện
ra đời các trang trại gia đình quy mô nhỏ. Năm 1953, hòn đảo này đã có đến
679.000 trang trại với quy mô bình quân là 1,29 ha/trang trại. Đến năm 1991 số
trang trại đã lên đến 823.256 với quy mô bình quân chỉ còn 1,08 ha/trang trại.
Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn sau này đòi hỏi
phải mở rộng quy mô của các trang trại gia đình nhằm ứng dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm,… nhưng do người
Đài Loan coi ruộng đất là tiêu chí đánh giá vị trí của họ trong xã hội nên mặc dù
có thị trường nhưng ruộng đất vẫn không được tích tụ (có nhiều người tuy là chủ
đất nhưng đã chuyển sang làm những nghề phi nông nghiệp). Để giải quyết tình
trạng này, năm 1983 Đài Loan công bố Luật Phát triển nông nghiệp trong đó
công nhận phương thức sản xuất uỷ thác của các hộ nông dân, có nghĩa là nhà
nước công nhận việc chuyển quyền sở hữu đất đai, ước tính đã có trên 75% số
trang trại áp dụng phương thức này để mở rộng quy mô ruộng đất sản xuất.
Ngoài ra để mở rộng quy mô, các trang trại trong cùng thôn xóm còn tiến hành
các hoạt động hợp tác như làm đất, mua bán chung một số vật tư, sản phẩm nông
nghiệp, nhưng không chấp nhận phương thức tập trung ruộng đất, lao động để
sản xuất (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2003).
* Indonesia: Đồng bằng Java của Indonesia, ruộng đất cũng bị manh mún.
Năm 1963, số trang trại có diện tích đất nhỏ hơn 0,5 ha chiếm trên 52% trong tổng
số 7,9 triệu nông hộ; trang trại có từ 0,5 đến 1,0 ha chiếm 27%, chỉ có 0,4% loại
trang trại có 4 đến 5 ha. Trong khi đó, 40% số trang trại do người làm công quản lý
chứ không do chủ đất quản lý. Tình trạng này đã ảnh hưởng nhiều đến việc áp dụng
các tiến bộ kỹ thuật của cuộc cách mạng xanh thời đó. Ở Indonesia nói riêng và
Đông Nam Á nói chung có sự gia tăng áp lực dân số trên ruộng đất nhưng ít xẩy ra
phân cực giữa các loại nông hộ, các trang trại quy mô lớn đến hàng chục ha chỉ là
manh mún đất đai làm cho lao động và các nguồn lực khác phải chi phí nhiều hơn
thì việc giảm mức độ manh mún đất đai sẽ tạo điều kiện để các nguồn lực này được
sử dụng có hiệu quả hơn. Như vậy, trên tổng thể nền kinh tế sẽ đạt được lợi ích khi
ta giảm mức độ manh mún đất đai. Tuy nhiên, mức độ manh mún đất đai cũng
mang lại một số lợi ích nhỏ, trước mắt cho nông dân. Do đó ở nhiều nơi nông dân
muốn duy trì một mức độ nào đó của tình trạng này.
10
* Thực trạng manh mún ruộng đất ở đồng bằng sông Hồng (ĐBSH)
Muốn có được những giải pháp triệt để khắc phục tình trạng manh mún ở
ĐBSH trước hết phải nghiên cứu những đặc điểm của manh mún ruộng đất và những
nguyên nhân gây nên tình trạng này. Manh mún ruộng đất ở ĐBSH là một hiện tượng
mang tính lịch sử. Tình trạng manh mún thể hiện trên cả 2 góc độ: manh mún về ô thửa
và bình quân quy mô ruộng đất/hộ gia đình nông dân. Vào những năm 30 của thế kỷ
trước, ĐBSH đã có đến 16,0 triệu thửa ruộng to nhỏ khác nhau. Diện tích trung bình
mỗi thửa ở tỉnh Bắc Ninh lúc bấy giờ là 680 m2. Nếu tính riêng diện tích phải giành ra
làm bờ vùng, bờ thửa thì ĐBSH đã mất đi trên 3% diện tích đất canh tác. Đến năm
1997, tình trạng manh mún ruộng đất ở ĐBSH vẫn đứng ở vị trí thứ 2 trong 7 vùng
sinh thái cả nước, chỉ sau miền núi phía Bắc.
Ở đồng bằng sông Hồng hiện nay sự manh mún ruộng đất cấp nông hộ thể
hiện ở các đặc điểm sau:
- Diện tích canh tác bình quân trên hộ hay trên lao động rất thấp (chỉ khoảng
0,25 ha/hộ).
- Số lượng các hộ có diện tích từ 1 ha trở lên không đáng kể (chưa đầy 15%)
đa số có diện tích nhỏ hơn 0,50 ha.
- Bình quân diện tích canh tác trên hộ và trên khẩu có xu thế giảm do mất đất
nông nghiệp và sự gia tăng của dân số nông thôn.
Bảng 1.1 Thay đổi quy mô đất nông nghiệp ở nông hộ (%)
4. Hộ có từ 0,5 ha đến dưới 1 ha
16,42
16,23
0,19
5. Hộ có từ 1 ha đến dưới 3 ha
13,06
10,52
2,54
6. Hộ có từ 3 ha đến dưới 5 ha
1,57
0,98
0,59
7. Hộ có từ 5 ha đến dưới 10 ha
0,40
0,19
TT
1
2
3
4
5
6
7
Vùng sinh thái
Trung
bình
10 – 20
7
7 – 10
5 – 10
5
4
3
Trung du miền núi Bắc bộ
Đồng bằng sông Hồng
Duyên hải Bắc Trung bộ
Duyên hải Nam Trung bộ
Tây Nguyên
Đông Nam bộ
Đồng bằng sông Cửu Long
Cá
(Nguồn: Tổng cục Địa chính 1997)
Kết quả điều tra của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp cũng phản
ánh rõ mức độ manh mún đất nông nghiệp ở 5 tỉnh thuộc vùng ĐBSH, kết quả cụ
thể được tổng hợp ở Bảng 1.3:
Bảng 1.3. Mức độ manh mún ruộng đất ở một số tỉnh vùng ĐBSH
Tổng số thửa/hộ
STT
Tỉnh
Diện tích bình quân/thửa (m2)
Ít nhất
Nhiều
nhất
Trung
bình
Nhỏ nhất Lớn nhất
Trung bình
1
Hải Phòng
5,0
7,1
47
9,0
10
5968
228
4
Nam Định
3,1
19
5,7
10
1000
288
5
riêng, vì thế tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu kỳ phát triển của nông hộ.
Nguyên nhân thứ 3: là tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ. Do quy mô
sản xuất nhỏ lẻ, các hộ nông dân ngại thay đổi, nhất là những thay đổi liên quan đến
ruộng đất.
Nguyên nhân thứ tư liên quan đến phương pháp chia ruộng bình quân theo
nguyên tắc xuất có tốt có xấu khi thực hiện Nghị định 64-CP năm 1993. Việc chia
nhỏ các thửa ruộng để có sự công bằng giữa các hộ đã góp phần không nhỏ làm
tăng tình trạng manh mún ruộng đất ở ĐBSH. Quan điểm muốn bảo vệ sự công
bằng cho những người dân được chia ruộng và nhiều lý do sau đây khiến đa số các
địa phương chia nhỏ ruộng cho nông dân, đó là:
+ Tất cả các hộ đều phải có ruộng gần, tốt, xấu, cao, thấp. Có như vậy mới thể
hiện tính công bằng.
+ Độ phì tự nhiên của đất của các khu khác nhau phải chia đều cho các hộ.
+ Do hiệu quả kinh tế của các loại sử dụng đất khác nhau nên phải chia đều
đất cho các hộ.
+ Các chân đất thường không an toàn do các vấn đề như: úng, hạn, chua... do
đó việc chia đều rủi ro cho các hộ là chỉ tiêu quan trọng trong khi chia ruộng.
+ Ngoài ra, giá đất luôn biến động, tăng cao, đặc biệt là các khu đất gần các trục
13
đường chính hoặc trong tương lai sẽ nằm trong quy hoạch khu đô thị, khu công
nghiệp... vì thế đất ở đó phải được chia đều cho các hộ để mọi người đều có thể hưởng
"thành quả" đền bù đất hay cùng chịu "rủi ro" nếu đất đai bị chuyển mục đích sử dụng.
* Những hạn chế của tình trạng manh mún ruộng đất đối với sản xuất nông nghiệp
- Hạn chế khả năng áp dụng cơ giới hoá nông nghiệp, không giảm được chi
phí lao động đầu vào.
- Thửa ruộng quá nhỏ khiến nông dân ít khi nghĩ đến việc đầu tư tiến bộ kỹ
thuật (TBKT) để tăng năng suất. Theo họ, đầu tư TBKT có thể giúp tăng năng suất
Luật Đất đai năm 1993 ra đời đã giải quyết được những vấn đề nêu trên. Theo Luật
Đất đai năm 1993 thì nông dân được giao đất ổn định và lâu dài. Họ được giao 5
quyền sử dụng đất gồm: Quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thừa kế và thế
chấp. Nguyên tắc quan trọng nhất trong việc giao đất là duy trì sự công bằng. Thông
thường nhiều nơi ở miền Bắc, đất đai được chia bình quân theo định suất (hoặc bình
quân theo nhân khẩu). Những tiêu chuẩn khác cũng được xem xét khi giao đất là các
đối tượng chính sách xã hội, chất lượng đất, tình hình thuỷ lợi, khoảng cách đến thửa
ruộng và khả năng luân canh cây trồng. Đất trồng cây hàng năm ở Việt Nam được
chia thành 6 hạng. Do đó, để duy trì nguyên tắc công bằng mỗi hộ thường được giao
nhiều thửa với nhiều hạng đất khác nhau, ở các cánh đồng khác nhau với chất lượng
đất khác nhau. Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo ra tình trạng manh
mún đất đai ở Việt Nam. Nguyên nhân của manh mún đất đai do giao đất nông
nghiệp công bằng đã được nhiều cơ quan và các nhà nghiên cứu thảo luận và phân
tích những năm gần đây. Manh mún có nhiều mức độ khác nhau, ở một số vùng tình
trạng manh mún có thể nghiêm trọng hơn ở những nơi hoặc vùng khác. Theo số liệu
của Tổng cục Địa chính năm 1998, bình quân 1 hộ vùng đồng bằng sông Hồng có
khoảng 7 thửa, trong khi ở vùng núi phía Bắc con số này còn cao hơn, từ 10 – 20
thửa. Số liệu điều tra 42.167 nông hộ ở tỉnh Hưng Yên cho thấy sau khi giao đất năm
1993, trung bình một hộ có 7,6 thửa.
Năm 1998, Chính phủ đã đề ra chính sách khuyến khích nông dân đổi ruộng
cho nhau để tạo thành những thửa có diện tích lớn hơn. Từ đó, nhiều tỉnh đã triển
khai thực hiện công tác dồn điền, đổi thửa và đã có được nhiều kết quả tốt trong
công tác quản lý Nhà nước về đất đai và trong sản xuất nông nghiệp, được phản ánh
tại bảng 1.4:
15
Bảng 1.4. Tình hình dồn điền đổi thửa ở một số địa phương
Sau
DĐ
1.Xã Thiệu Hưng
(Thiệu Hoá Thanh Hoá)
15425
3862
74,9
12-15
2-5
36
500
215
656
2. Xã Lương Lố
(Thanh Ba - Phú
Thọ)
8196
20
270
217
829
4. Xã Hàm Sơn
(Yên Phong Bắc Ninh)
1378
826
40,1
13
4-5
48
360
194
1285
5. Xã Đại Thắng
dồn điền, đổi thửa, tuy nhiên tiến trình vẫn còn rất chậm. Trên thực tế ở những vùng
này đất đai được chia lại cho các hộ nông dân với mục tiêu là giảm số thửa ruộng.
Ví dụ: Ở tỉnh Thanh Hoá số thửa ruộng đã giảm 51% trong 3 năm thực hiện chính