B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động xổ số là một hoạt động phong phú, đa dạng, hầu hết các nước
trên thế giới đều tổ chức, mặc dù mỗi nước có cách tổ chức khác nhau, song
xu thế chung là ngày càng được hiện đại hoá và phát triển mạnh mễ, trở thành
một ngành công nghiệp “không có khói”.
Trên 37 năm hoạt động, Xổ số kiến thiết (XSKT) Thủ Đô nói riêng và
XSKT miền Bắc nói chung đã có những đóng góp tích cực vào sự phát triển
kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do nhiều
nguyên nhân khách quan và chủ quan hoạt động XSKT Thủ Đô có dấu hiệu
chững lại và có xu hướng giảm sút nghiêm trọng.
Để góp phần khắc phục tình trạng nêu trên, chúng ta cần phải có chiến
lược kinh doanh đúng đắn. Một vấn đề quan trọng trong chiến lược sản xuất
kinh doanh của mỗi doanh nghiệp chính là khâu tiêu thụ, có giải quyết tốt
khâu tiêu thụ doanh nghiệp mới thu hồi được vốn phục vụ quá trình tái sản
xuất kinh doanh. Để có thể tiêu thụ được nhiều hàng hoá và quản lý tốt chỉ
tiêu này, một trong những biện pháp quan trọng và hữu hiệuđó là thực hiện tốt
khâu hạch toán doanh thu và xác định kết quả tiêu thụ . Thực tế đã cho thấy
doanh nghiệp nào làm tốt vấn đề này sẽ đảm bảo thu hồi vốn nhanh, bù đắp
được chi phí bỏ ra và thu được lợi nhuận. Ngược lại, thì sớm muộn doanh
nghiệp đó sẽ đi đến chỗ phá sản.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, trong quá trình thực tập tại
Trung tâm dịch vụ và tư vấn xổ số huyện Thanh Trì, em đã cố gắng đi sâu tìm
hiểu thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề tài: "Hoàn thiện hạch toán doanh
thu và kết quả hoạt động xổ số tại Trung tâm dịch vụ và tư vấn xổ số huyện
Thanh Trì”
Tuy đây là đề tài rộng và khó nhưng sẽ giúp ta biết được bao quát toàn
bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị nhằm nâng cao kiến thức của
mình trong thực tế.
1
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
cấp đã giao cho người mua và đã thu được tiền hoặc ngươì mua đã chấp nhận
thanh toán sau một thời gian cam kết. Khoản tiền hay khoản nợ này gọi là
doanh thu bán hàng hay doanh thu kinh doanh dịch vụ. Doanh thu này là cơ
sở để doanh nghiệp xác định kết quả hoạt động kinh doanh của mình.
2. DOANH THU BÁN HÀNG VÀ CÁC KHOẢN GIẢM TRỪ DOANH
THU BÁN HÀNG
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ là toàn bộ số tiền bán sản
phẩm, hàng hoá, cung ứng dịch vụ trên thị trường sau khi đã trừ đi các khoản
chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại (nếu có chứng từ
hợp lệ); trong doanh thu cũng bao gồm phần trợ giá của nhà nước khi thực
hiện việc cung cấp các hàng hoá và dịch vụ theu yêu cầu của nhà nước. Công
thức tính doanh thu trong các đơn vị thương mại tuỳ thuộc vào hình thức tiêu
thụ sản phẩm của đơn vị đó nhưng nhìn chung:
)*
1
(
G
S
i
n
i
ti
T
∑
=
=
Trong đó: T: Doanh thu về tiêu thụ sản phẩm
S
ti
- Phương thức thanh toán chậm: Nghĩa là khách hàng gia hạn thời gian
trả tiền chậm toàn bộ hoặc một phần số tiền hàng ( sau khoảng 1-3 tháng ) kể
từ ngày giao hàng.
- Phương thức thanh toán nội bộ : trường hợp này chỉ áp dụng đối với
các đơn vị làm đại lý hoặc cửa hàng cho công ty
Ngoài ra, còn có các hình thức thanh toán khác như thanh toán trả
góp,hoặc nhờ khách hàng trung gian thanh toán bù trừ, hộ …
4. NHIỆM VỤ CỦA HẠCH TOÁN DOANH THU VÀ XÁC ĐỊNH KẾT
QUẢ TIÊU THỤ :
Hàng năm, doanh nghiệp đều phải lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, trên
cơ sở đó, xác định số doanh thu về tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ trong năm. Chỉ
tiêu doanh thu tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ là một chỉ tiêu tài chính
quan trọng, nó cho biết khả năng về việc tiếp tục quá trình tái sản xuất của
doanh nghiệp. Nó cho biết doanh nghiệp có khả năng trang trải các khoản chi
phí về công cu lao động, đối tượng lao động đã hao phí trong quá trình sản
xuất kinh doanh, trang trải số vốn đã ứng ra cho sản xuất kinh doanh hay
không.
Ngoài ra việc hạch toán doanh thu và kết quả còn cho biết doanh nghiệp
có khả năng thanh toán tiền lương, tiền công, tiền thưởng cho người lao động,
trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn và làm các nghĩa vụ
tài chính đối với nhà nước. Thêm nữa chỉ tiêu còn phản ánh quy mô của quá
trình tái sản xuất của doanh nghiệp, phản ánh trình độ chỉ đạo tổ chức sản
xuất kinh doanh, tổ chức công tác thanh toán. Có được doanh thu bán hàng,
chứng tỏ hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp đã được người tiêu dùng chấp
nhận.
4
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
5. NGUYÊN TẮC XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH VÀ NỘI
DUNG KẾT QUẢ KINH DOANH:
5.1 Hạch toán tiêu thụ hàng hoá trong các doanh nghiệp kinh doanh
Nội dung phản ánh của TK512 tương tự như TK511. TK512 được chi
tiết thành 3 tiểu khoản:
5121: Doanh thu bán hàng hoá,
5122: Doanh thu bán sản phẩm,
5123: Doanh thu cung cấp dịch vụ.
DNKDXSKT chủ yếu sử dụng TK5123 - Doanh thu bán hàng hoá.
• Tài khoản 531- Hàng bán bị trả lại
Dùng để theo dõi doanh thu của số hàng hoá, thành phẩm, lao vụ, dịch
vụ đã tiêu thụ nhưng bị khách hàng trả lại. Đây là TK điều chỉnh của TK511
để tính toán doanh thu thuần.
Tài khoản 531 cuối kỳ không có số dư.
• Tài khoản 532- Giảm giá hàng bán
Được sử dụng để theo dõi toàn bộ các khoản giảm giá hàng bán cho
khách hàng trên giá bán đã thoả thuận. Được hạch toán vào TK này bao gồm
các khoản bớt giá, hồi khấu và khoản giảm giá đặc biệt do những nguyên
nhân thuộc về người bán.
Ngoài các TK trên, trong quá trình hạch toán tiêu thụ, kế toán còn sử
dụng một số TK liên quan khác nhau như TK131 - Phải thu của khách hàng,
TK111 - Tiền mặt, TK112 - Tiền gửi ngân hàng, TK333 - thuế và các khoản
phải nộp nhà nước …
2. Phương pháp hạch toán:
a. Hạch toán nghiệp vụ tiêu thụ theo phương thức trực tiếp.
Cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo phương thức trực tiếp được tiến hành
khi doanh nghiệp cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho khách h àng một cách trực
ti ếp, không qua thành phần trung gian
Khi chuyển giao,cung cấp cho khách hàng, kế toán phản ánh các bút toán sau:
BT1: Nợ TK 632 Trị giá vốn của hàng hoá, dịch vụ tiêu thụ.
Có TK 156 Hàng hoá, dịch vụ cung cấp
6
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
7
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
Có TK 334,338,111,112... Chi phí thực chi
d. Hạch toán nghiệp vụ bán lẻ hàng hoá, dịch vụ
Nghiệp vụ bán lẻ hàng hoá, dịch vụ được thực hiện dưới các hình thức:
Bán lẻ thu tiền tại chỗ, thu tiền tập trung, tự động và tự phục vụ…
+ Ghi doanh thu:
Nợ TK 111,112,113: Theo giấy nộp tiền
Nợ TK 138: Số tiền nộp thiếu
Có TK 511: Doanh thu ghi theo giá báo cáo bán hàng
Có TK 333: Thuế VAT theo phương pháp khấu trừ
Có TK 3381: Số tiền nộp thừa
+ Ghi giá vốn
Nợ TK 632
Có TK 1561
e. Các phương thức tiêu thụ khác.
• Hạch toán tiêu thụ qua đại lý:
Bán hàng đại lý, ký gửi là phương thức mà bên chủ hàng (gọi là bên giao
đại lý) xuất hàng giao cho bên nhận đại lý, ký gửi (gọi là bên đại lý) để bán.
Bên đại lý sẽ được hưởng thù lao đại lý dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh
lệch giá.
* Tại đơn vị giao đại lý (chủ hàng)
Số hàng ký gửi vẫn thuộc sở hữu của doanh nghiệp cho đến khi chính
thức tiêu thụ.
- Phản ánh giá vốn hàng chuyển giao cho cơ sở nhận làm đại lý hay nhận
bán hàng ký gửi
Nợ TK 157: Hàng gửi đi bán
Có TK 156: Hàng hoá xuất kho
Hay:Nợ TK 157: Hàng gửi đi bán
Nợ TK 133 : Thuế VAT được khấu trừ
• Hạch toán bán hàng trả góp
Bán hàng trả góp là phương thức cung cấp hàng hoá dịch vụ và tiến hành
thu tiền nhiều lần. Người mua sẽ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua.
9
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
Số tiền còn lại người mua chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu
một tỷ lệ lãi suất nhất định. Khi xuất hàng giao cho người mua, căn cứ vào
chứng từ trả góp, kế toán ghi các bút toán sau
Bút toán 1: Phản ánh trị giá vốn của hàng tiêu thụ
Nợ TK 632 / Có TK 156
Bút toán 2: Phản ánh số thu của hàng bán trả góp.
Nợ TK liên quan 111,112 Số tiền trả ngay lúc mua hàng
Nợ TK 131 (chi tiết người mua) Số tiền trả góp
Có TK 511: DT theo giá bán trả một lần lúc giao hàng Có TK
3331 : Thuế VAT phải nộp
Có TK 711 : Tổng số lợi tức trả chậm
Số tiền (doanh thu gốc và lãi suất trả chậm) ở các kỳ sau do người mua
thanh toán. Nợ TK liên quan 111,112
Có TK 131 (chi tiết người mua)
• Hạch toán tiêu thụ nội bộ
Tiêu thụ nội bộ là việc mua bán sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ
giữa đơn vị chính và đơn vị trực thuộc với nhau trong cùng một công ty, tập
đoàn liên hiệp xí nghiệp… ngoài ra, được coi là tiêu thụ nội bộ còn bao gồm
các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ xuất biếu, tặng, trả lương, thưởng, xuất dùng
cho hoạt động kinh doanh…
- Khi cung cấp sản phẩm , hàng hoá , lao vụ, dịch vụ giữa các đơn vị
thành viên trong công ty, tổng công ty… kế toán phản ánh doanh thu :
Nợ TK 111,112 Tiền hàng đã thu
Nợ TK 136(1368) Số tiền hàng phải thu nội bộ
Có TK 512 Doanh thu bán hàng nội bộ
Trường hợp trả lương, thưởng cho CNV bằng hàng hoá
Bút toán 1: Ghi giá vốn (tương tự)
Bút toán 2: Ghi doanh thu
Nợ TK 334: Tổng giá thanh toán
Có TK 512: Doanh thu (giá chưa VAT)
Có TK 3331 (33311): VAT phải nộp
11
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
g. Hạch toán nghiệp vụ hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán và chiết
khấu.
Hàng bán bị trả lại là trị giá số hàng đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại
hoặc từ chối thanh toán do vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký kết như hàng kém
phẩm chất, không đúng chủng loại, mẫu mã ...Trường hợp này, ghi:
+ Phản ánh doanh thu hàng bán bị trả lại, kế toán ghi:
Nợ TK 531: Doanh thu hàng bán bị trả lại
Nợ TK 333 (3331): VAT theo phương pháp khấu trừ
Có TK 111,112: Trả lại tiền cho khách hàng
Có TK 131: Trừ nợ cho khách hàng hoặc nhận nợ với họ
+ Phản ánh giá vốn hàng bán bị trả lại:
Nợ TK 156 (1561): Nhập vào kho hàng hoá
Có TK 632: Giá vốn hàng bán bị trả lại
Giảm giá hàng bán: là khoản tiền trừ cho khách hàng tính trên giá bán đã
thoả thuận vì lý do vi phạm các điều kiện trong hợp đồng kinh tế đã ký. Khi
chấp nhận giảm giá cho khách hàng, kế toán ghi
Nợ TK 532: Giảm giá hàng bán
Có TK111,112: Trả tiền giảm giá cho khách
Có TK 131: Trừ nợ hoặc nhận nợ với khách hàng
Chiết khấu thanh toán là số tiền trừ cho người mua trên doanh số bán
hàng theo hoá đơn trong trường hợp khách hàng thanh toán tiền hàng trước
thời hạn quy định. Số chiết khấu đã chấp thuận cho khách hàng được tính vào
Có TK 111,112 Chi phí bằng tiền
Có TK 142 (1421) Phân bổ dần chi phí trả trước
Có TK 335 Trích trước chi phí phải trả theo kế hoạch
Các khoản ghi giảm chi phí bán hàng
Nợ TK 111,138 …
Có TK 641
c. Phương pháp kết chuyển chi phí bán hàng.
Chi phí bán hàng phát sinh được KT định khoản :
Nợ TK 142 (1422) : Đưa vào chi phí chờ kết chuyển ( CP Lớn )
Nợ TK 911: Trừ vào kết quả trong kỳ
Có TK 641
13
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
6.2. Hạch toán chi phí quản lý:
a. Khái niệm và tài khoản hạch toán:
Chi phí quản lý doanh nghiệp là những khoản chi phí phát sinh có liên
quan chung đến toàn bộ hoạt động của cả doanh nghiệp mà không tách riêng
ra được cho bất kỳ một hoạt động nào. Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm
nhiều loại như chi phí quản lý kinh doanh , quản lý hành chính và chi phí
chung khác.
Chi phí quản lý doanh nghiệp khi phát sinh được tập hợp theo từng yếu
tố như chi phí nhân viên, chi phí vật liệu … Các khoản chi này được kế toán
phản ánh trên tài khoản 642 - Chi phí quản lý doanh nghiệp
Bên Nợ:
Tập hợp toàn bộ chi phí quản lý doanh nghiệp thực tế phát sinh trong kỳ
Bên Có:
+ Các khoản ghi giảm chi phí quản lý doanh nghiệp
+ Kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp
Tài khoản 642 cuối kỳ không có số dư và được chi tiết thành các tiểu
khoản
lý doanh
nghiệp
Để tính toán chính xác kết quả bán hàng của từng nhóm sản phẩm, hàng
hoá , dịch vụ… kế toán phải mở sổ chi tiết theo dõi riêng trị giá vốn, chi phí
bán hàng , chi phí quản lý doanh nghiệp và doanh thu theo từng nhóm sản
phẩm , hàng hoá , dịch vụ. Việc xác định kết quả tiêu thụ thường được tiến
hành vào cuối kỳ hạch toán, thường là cuối tháng, cuối quý, hoặc cuối năm,
tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý cụ thể ở từng doanh
nghiệp.
Trong đó : doanh thu thuần được xác định:
Doanh
thu
thuần
=
Tổng doanh
thu theo hoá
đơn
-
Giảm giá
hàng bán -
Hàng
bán bị trả
lại
- Thuế TTBĐ,
Thuế XNK
(nếu có)
- Xác định lợi nhuận gộp
Lợi nhuận gộp = Doanh thu thuần - Giá vốn hàng bán
Giá vốn hàng bán là trị giá vốn của hàng hoá xuất bán trong kỳ.
- Xác định lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
- Phân bổ chi phí thu mua cho hàng tiêu thụ
Nợ TK 632/ Có TK 156 (1562)
- Kết chuyển giá vốn hàng bán
Nợ TK 91i/Có TK 632
- Kết chuyển chi phí bán hàng , chi phí quản lý doanh nghiệp
Nợ TK 911
Có TK 641,642: Kết chuyển số trong kỳ
Có TK 142 (142 ) Chi phí chờ kết chuyển
- Kết chuyển kết quả
+ Nếu lãi, kế toán ghi
Nợ TK 911 / Có TK 421
+ Nếu lỗ, kế toán ghi ngược lại
16
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
PHẦN II
THỰC TẾ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIÊU THỤ VÀ KẾT QUẢ
TIÊU THỤ HOẠT ĐỘNG XỔ SỐ KIẾN THIẾT (XSKT) TẠI
TRUNG TÂM DỊCH VỤ XỔ SỐ VÀ TƯ VẤN THANH TRÌ
I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CUẢ ĐƠN VỊ
1. Lịch sử hình thành và phát triển của hoạt động sổ xố kiến thiết ở Việt
Nam.
Hoạt động sổ xố ở Việt Nam xuất hiện từ năm 1936, do thực dân Pháp
đứng ra phát hành với tên gọi là sổ xố Đông Dương. Mục đích phát hành sổ
xố của thực dân Pháp là nhằm tăng thêm những khoản thu để phục vụ cho
chính sách thực dân cai trị của bọn chúng. Tuy nhiên do tình hình kinh tế
đang kiệt quệ, sức mua hạn chế nên sổ xó Đông Dương cũng chỉ tồn tại trong
2 năm với một vài đợt phát hành kết quả không cao, đến năm 1938 thì ngừng
phát hành.Sau khi dành được độc lập (Tháng 8 /1945) Nhà nước ta đã ban
hành Nghị định 258 - TC ngày 12/3/1946; 375 - TC ngày 15/5/1946; 381- TC
ngày 21/5/1946 về việc tổ chức phát hành XSKT để động viên nhân dân tham
- Kết quả đã có sẵn, các con số được dấu kín, người chơi chọn ngẫu
nhiên, mở ra sẽ biết được kết quả ngay đúng hay sai (xổ số cào, xổ số bóc…)
- Kết hợp cả hai hình thức chơi, có phần để chờ kết quả xuất hiện sau, có
phần tìm ngay được kết quả.
Trung tâm dịch vụ xổ số và tư vấn Thanh Trì được thành lập vào ngày 5
tháng 11 năm 1997 theo quyết định số 4297/QĐ- UB trực thuộc UBND huyện
Thanh Trì. Trung tâm chịu sự quản lý trực tiếp của UBND huyện Thanh Trì
và sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của các Sở, Ban, Ban, Ngành
Thành phố có liên quan. Trung tâm có các nhiệm vụ sau:
- Làm tổng đại lý cho Công ty Xổ số kiến thiết Thủ đô.
- Tổ chức các dịch vụ vui chơi Xổ số theo quy định của nhà nước.
- Tổ chức các dịch vụ tư vấn về nhà đất, hạ tầng cơ sở, thông tin gía cả.
Trung tâm dịch vụ xổ số và tư vấn Thanh Trì là đơn vị sự nghiệp có thu,
có tư cách pháp nhân, hạch toán báo sổ, được mở tài khoản tại Ngân hàng và
được sử dụng con dấu riêng theo quy định của nhà nước.
Tuy nhiên, sau đây em chỉ xin phép đi vào nghiên cứu lĩnh vực có liên
quan đến xổ số.
18
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
2. Chức năng, nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của
đơn vị.
Trước hết phải khẳng định rằng, hoạt động XSKT nói chung cũng như
hoạt động XSKT tại huyện Thanh Trì ra đời đã góp phần làm thoả mãn một
nhu cầu cần thiết của đời sống xã hội đó là nhu cầu vui chơi, giải trí lành
mạnh của đông đảo nhân dân. Hơn nữa, hoạt động XSKT đã tạo ra việc làm
cho một lực lượng lao động lớn trong xã hội thông qua việc tham gia trực tiếp
hoạt động XSKT, làm đại lý bán vé, trực tiếp nhận vé xổ số để bán. Thu nhập
của, cán bộ làm tại Trung tâm, người làm đại, người bán xổ số cũng khá cao
và ổn định (mức thu nhập bình thường là 300.000 – 400.000 đ/tháng/người,
nhưng cũng có nhiều người đạt tới mức 900.000.đ/tháng/người) đã góp phần
triệu đồng năm 1999 và 3.518 triệu đồng năm 2000. Nhờ vậy đơn vị đã đóng
góp một phần đáng kể cho ngân sách Thủ đô. Từ đó góp phần giúp nhà nước
thu hút được một lượng tiền khá lớn vào trong tay mình, góp phần điều hoà
lưu thông tiền tệ và hạn chế tình trạng lạm phát của nền kinh tế, góp phần bổ
sung cho nguồn vốn xây dựng cơ bản đầu tư thêm nhiều công trình có ý nghĩa
kinh tế xã hội.
3. Đặc điểm tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý trong đơn vị.
Cũng như XSKT Thủ Đô, đơn vị tiến hành kinh doanh 5 hình thức xổ số
cơ bản:
- Xổ số truyền thống (Xổ số mở thưởng): Đây là loại hình xổ số đã in sẵn
giá vé và những con số trên vé, những tờ vé này có một dãy 7 con số. Người
trúng thưởng là người có vé số mà các con số trùng với xổ số mở thưởng của
công ty xổ số. Càng trùng nhiều con số thì càng được giải cao- Xổ số lô tô:
Tính hấp dẫn của loại hình xổ số này là ở chỗ người chơi có thể hoàn toàn
chọn được 3 con số bất kỳ mà minh ưa thích. Vé trúng thưởng là vé trúng
được 2 số cuối hoặc 3 số và càng trúng được nhiều con số thì giá trị tiền
thưởng càng lớn.
-Xổ số cào : Đây là loại hình xổ số không phải quay số mở thưởng, sau
khi mua vé người mua chỉ cần cạo lớp phủ hoá chất trên vé là biết được ngay
vé trúng thưởng hay không và giá trị tiền thưởng là bao nhiêu.
- Xổ số bóc: Đây là loại hình xổ số mà kết quả và cơ cấu giải thưởng có
trước, người mua chỉ việc bóc vé ra và so sánh số vé của mình với kết quả có
sẵn là biết được mình có trúng thưởng hay không và trúng bao nhiêu.
Đầu năm 1999 xổ số điện toán thâm nhập vào thị trường Việt Nam, cùng
với công ty xổ số kiến thiết thủ đô, trung tâm cũng tiến hành kinh doanh
thêm hình thức xổ số này.
- Xổ số điện toán : Đây là loại hình xổ số mà trên mỗi tờ vé có 3 dãy con
số từ 0 đến 9. Người chơi được chọn trong mỗi dãy một con số mà mình ưa
thích để chọn nên các con số hàng trăm, hàng chục, hàng đơn vị. Các vé trúng
thưởng là vé có các số trùng với các con số của kết quả mở thưởng và cũng
Ghi chú:
Đối chiếu
Ghi hàng ngày
Ghi cuối kỳ
II. THỰC TẾ CÔNG TÁC KẾ TOÁN:
1. Tài khoản, kết cấu TK sử dụng và phương pháp hạch toán doanh
thu.và kết quả hoạt động XSKT tại Trung tâm DV XSKT huyện
Thanh Trì
a. Hoạch toán doanh thu:
Doanh thu tại Trung tâm tư vấn và dịch vụ xổ số được tiến hành theo dõi
trên tài khoản 511 “Doanh thu bán hàng”, phản ánh doanh thu bán vé sổ xố và
doanh thu bán các loại sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ khác.
a.1 : Kết cấu và nội dung phản ánh của tài khoản 511 “Doanh thu bán
hàng”
Bên nợ:
22
Chứng từ gốc
Nhật ký chứng từ Số 8, Số 10
Bảng kê số 5,8,9,10,11
SỔ
CHI TIẾT
SỔ C IÁ
B O C O Á Á
KẾ TO NÁ
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp
+ Số thuế doanh thu phải nộp tính trên doanh thu bán vế sổ xố và doanh
thu bán các loại sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ khác
+ Kết chuyển doanh thu thuần để xác định kết quả kinh doanh cuối kỳ kế
toán
Bên có:
xác định là tiêu thụ trong kỳ hạch toán, ghi :
Nợ TK111,112 ,131 …
Có TK 511
b. Hạch toán chi phí phát sinh trong tiêu thụ vé xổ số:
♦ TK 625 : Chi phí trả thưởng : TK này dùng để phản ánh chi phí trả
thưởng cho các loại vé trúng thưởng trong kỳ hạch toán
Bên nợ:
- Chi phí trả thưởng do công ty xổ số trả trực tiếp
- Chi phí trả thưởng do các đại lý xổ số trả thưởng hộ
- Số nhận phân bổ chi phí trả thưởng liên kết
Bên có:
- Cuối kỳ, kết chuyển chi phí trả thưởng tính cho số vé tiêu thụ được
trong kỳ vào bên nợ TK 632
- Cuối kỳ, kết chuyển phần chi phí trả thưởng giải đặc biệt cuủa xổ số
cào vào bên nợ TK 154 ( tương ứng với giá trị vé xổ số chưa bán được )
TK 625 không có số dư cuối kỳ và có 4 tài khoản cấp 2
+ TK 6251- Xổ số truyền thống: Dùng để phản ánh chi phí trả thưởng
cho loại vé truyền thống
+ TK 6252 - Xổ số lô tô: Dùng để phản ánh chi phí trả thưởng cho loại
vé xổ số lô tô.
+ TK 6253 - Xổ số cào: Dùng để phản ánh chi phí trả thưởng cho loại vé
xổ số cào.
+ TK 6254 - Xổ số bóc: Dùng để phản ánh chi phí trả thưởng cho loại vé
xổ số bóc.
Khi xuất tiền chi trả thưởng trực tiếp cho khách hàng có vé xổ số trúng
thưởng, kế toán ghi:
Nợ TK 625 - Chi phí trả thưởng
Nợ TK 6251 - Chi phí trả thưởng xổ số truyền thống
24
B¸o c¸o thùc tËp tèt nghiÖp