1
Mở Đầu
I. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước muốn lớn mạnh thì phải có một nền kinh tế phát triển. Khi Việt Nam
chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO thì một cơ
hội mới đồng thời cũng là một thách thức mới đặt ra cho nền kinh tế Việt Nam.
Cơ hội đó chính là chúng ta được hợp tác, giao lưu, học hỏi với những nền kinh
tế lớn mạnh. Tuy nhiên không tránh khỏi những thách thức khó khăn, chúng ta phải có
những chiến lược gì để cạnh tranh và không bị thụt lùi với nền kinh tế năng động đó.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước chúng ta đang từng bước xây dựng
một nền kinh tế ngày càng phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa để tiến kịp
với nền kinh tế năng động của bạn bè các nước trong khu vực và trên thế giới.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, một
trong các hoạt động quan trọng là việc tổ chức thực hiện các dự án đầu tư xây dựng.
Sự thành công của các dự án này phụ thuộc rất nhiều vào trình độ và kỹ năng của
người quản lý dự án. Trong đó việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình là
một vấn đề cần thiết, đặc biệt đối với các công trình sử dụng vốn nhà nước. Hàng
năm nhà nước ta chi một khoản vốn ngân sách khá lớn cho đầu tư xây dựng nhằm
phát triển kinh tế xã hội. Việc cân đối, phân bổ và điều hành vốn đối với các bộ,
ngành, địa phương và thành phố trực thuộc trung ương để triển khai các dự án đầu
tư xây dựng góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo trong cộng đồng, xoá bỏ
dần sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa miền ngược và miền xuôi đang
dần được cải thiện. Việc sử dụng nguồn vốn nhà nước vào xây dựng các công trình
này đã thực sự bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm và chống lãng phí đang là vấn đề lớn
được dư luận xã hội quan tâm.
Tuy nhiên, thực trạng đã và đang xảy ra những lãng phí, thất thoát vốn ngân
sách nhà nước cho đầu tư xây dựng đã đặt ra cho các cấp quản lý nhà nước phải tìm
ra giải pháp nâng cao hiệu quả việc sử dụng vốn. Để giảm thất thoát, lãng phí thì
ngân sách nhà nước theo từng quy trình thực hiện góp phần hoàn thiện hệ thống hóa
lý luận làm cơ sở tổng hợp, phân tích, đánh giá về quản lý chi phí đầu tư xây dựng
công trình.
2.
Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở lý luận đã nêu, luận văn đã đề xuất một số
nhóm giải pháp nâng cao chất lượng quản lý chi phí trong khâu thanh toán, quyết
toán vốn đầu tư dự án hoàn thành để áp dụng vào thực tiễn trong việc giải quyết
những vấn đề còn bất cập
4
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHI PHÍ
TRONG THANH TOÁN, QUYẾT TOÁN VỐN ĐẦU TƯ DỰ ÁN HOÀN THÀNH
1.1 Giải thích một số khái niệm về dự án, dự án sử dụng vốn ngân
sách nhà nước
Dự án: Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có
phối hợp và kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được
mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả ràng buộc về thời gian, chi
phí và nguồn lực 1.
Dự án đầu tư xây dựng công trình: Là tập hợp các đề xuất có liên quan đến
việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng
nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm,
dịch vụ trong một thời gian nhất định. Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm
phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở 2.
Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước: Là những dự án sử dụng vốn ngân
sách nhà nước để xây dựng công trình.
Quản lý chi phí trong đầu tư xây dựng chịu ảnh hưởng của các quy luật kinh tế
thị trường như quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cung cầu và giá
cả, quy luật cạnh tranh và chịu sự điều tiết hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
trong hoạt động xây dựng. Quản lý chi phí thực chất là kiểm soát khống chế chi phí
trong suốt quá trình đầu tư xây dựng từ khi chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và kết
thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng. Quản lý chi phí trong thanh toán,
quyết toán vốn đầu tư xây dựng là một khâu của quản lý chi phi phí đầu tư xây
dựng công trình. Quản lý chi phí trong thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng
dự án hoàn thành là kiểm soát chi phí giai đoạn từ khi kí kết hợp đồng kinh tế giữa
bên giao thầu và bên nhận thầu đến khi lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án
hoàn thành.
1.2.2 Nguyên tắc cơ bản về quản lý chi phí
- Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình phải bảo đảm mục tiêu hiệu quả dự án
đầu tư xây dựng công trình và các yêu cầu khách quan của kinh tế thị trường.
- Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình theo từng công trình, phù hợp với
các giai đoạn đầu tư xây dựng công trình, các bước thiết kế, loại nguồn vốn và các
quy định của Nhà nước.
- Tổng mức đầu tư, tổng dự toán, dự toán xây dựng công trình phải được tính
đúng, tính đủ và phù hợp độ dài thời gian xây dựng công trình. Tổng mức đầu tư là chi
phí tối đa mà Chủ đầu tư được phép sử dụng để đầu tư xây dựng công trình.
Theo TT27/2007/TT-BTC ngày 03 tháng 04 năm 2007 hướng dẫn về quản lý thanh toán vốn đầu tư và vốn
sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước
5
6
- Nhà nước thực hiện chức năng quản lý về chi phí đầu tư xây dựng công trình
thông qua việc ban hành, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện các quy định về quản lý
c. Quản lý định mức, đơn giá xây dựng công trình, chỉ số giá xây dựng: Hướng
dẫn phương pháp lập định mức, đơn giá xây dựng công trình và chỉ số giá xây
dựng. Bộ xây dựng công bố các loại định mức xây dựng (định mức tỷ lệ và định
mức kinh tế kỹ thuật), chỉ số giá xây dựng, suất vốn đầu tư. Trên cơ sở đặc thù của
công trình, định mức xây dựng công trình, tình hình giá cả thị trường (vật liệu, nhân
công, tại thời điểm và khu vực xây dựng công trình) chủ đầu tư xây dựng đơn giá
công trình phục vụ việc lập tổng mưc đầu tư, dự toán, giá goi thầu, giá hợp đồng và
giá thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình.
d. Quản lý hợp đồng xây dựng: Nhà nước ban hành các quy định về nguyên tắc
kí kết hợp đồng, thể thức văn bản hợp đồng, loại hợp đồng, nội dung chính của các
hợp đồng xây dựng, khung thưởng phạt, tranh chấp hợp đồng. Giá hợp đồng xây
dựng không được vượt giá trúng thầu.
e. Quản lý thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình
1.3 Quản lý chi phí trong khâu thanh toán vốn đầu tư xây dựng công trình
1.3.1 Yêu cầu cơ bản quản lý chi phí trong thanh toán vốn đầu tư
Quản lý chi phí trong thanh toán vốn đầu tư là một công việc phải thực hiện
thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình thực hiện đầu tư xây dựng, vì vậy chủ
đầu tư, nhà thầu và cơ quan cấp phát vốn phải bám sát khâu thanh toán, đảm bảo
giải ngân vốn kịp thời, đúng tiến độ cho nhà thầu cụ thể là:
- Xác định căn cứ pháp lý liên quan đến công tác thanh toán vốn đầu tư như hệ
thống văn bản hướng dẫn công tác thanh toán vốn, các quy định về quản lý chi phí,
tuân thủ quy trình về thanh toán.
- Xác định rõ nguồn vốn, nhu cầu sử dụng vốn, kế hoạch sử dụng để tạo thế
chủ động cho cơ quan cấp phát vốn, phân cấp về quản lý vốn ngân sách mạnh hơn
nữa cho các chủ đầu tư, đồng thời tăng cường kiểm tra, kiểm soát vốn thanh toán
một cách chặt chẽ bằng việc sử dụng các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp. Điều chỉnh
mức vốn đầu tư theo từng quý, năm sát với thực tế.
- Kiểm tra tính đúng đắn, hợp lý của việc áp dụng, vận dụng đơn giá xây dựng
công trình, định mức tỷ lệ, dự toán chi phí tư vấn và dự toán các khoản mục chi phí
Mở tài khoản thanh toán (đối với trong nước mở tài khoản tại KBNN, vốn nước
ngoài mở tài khoản tại ngân hàng phục vụ)
1.
Dự án đầu tư xây dựng công trình (hoặc báo cáo kinh tế kỹ thuật đối với
dự án chỉ lập báo cáo kinh tế kỹ thuật) kèm theo quyết định đầu tư của cấp có thẩm
quyền, các quyết định điều chỉnh dự án (nếu có).
9
2.
Dự toán và quyết định phê duyệt dự toán cho từng công việc, hạng mục
công trình, công trình đối với trường hợp chỉ định thầu hoặc tự thực hiện và các
công việc thực hiện không thông qua hợp đồng.
Văn bản lựa chọn nhà thầu theo quy định của luật đấu thầu.
3.
Hợp đồng giữa bên giao thầu và bên nhận thầu (bao gồm các tài liệu kèm
theo hợp đồng như: điều kiện hợp đồng, đề xuất của nhà thầu, các sửa đổi bổ sung
bằng văn bản...)
4.
Bảo lãnh tạm ứng (nếu có) theo quy định cụ thể của hợp đồng.
5.
nộp thuế, phí có liên quan.
- Tạm ứng hợp đồng: Là khoản kinh phí mà bên giao thầu ứng trước cho bên
nhận thầu để triển khai thực hiện các công việc trong hợp đồng. Việc tạm ứng phù
thuộc vào loại hợp đồng, phải được ghi trong hợp đồng về mức tạm ứng, số lần tạm
ứng và việc thu hồi tạm ứng. Tạm ứng hợp đồng là xác định tỷ lệ tạm ứng so với giá
trị hợp đồng, mức thu hồi tạm ứng, thời hạn thu hồi tạm ứng. Số tiền tạm ứng sẽ
được thu hồi bằng cách giảm trừ trong các lần thanh toán.
- Thanh toán từng lần: Tiến độ thanh toán được xác định trong hợp đồng hay
xác định mức thanh toán theo tiến độ thi công thực tế khi nhà thầu hoàn thành công
việc. Hồ sơ thanh toán phải thực hiện theo đúng các biểu mẫu quy định, các tài liệu
đi kèm với hợp đồng, tài liệu bổ sung (nếu có).
- Bên giao thầu và bên nhận thầu phải quy định thời hạn thanh toán sau khi đã
nhận đủ hồ sơ hợp lệ, thanh toán cho các trường hợp bị chậm trễ: bồi thường về tài
chính cho các khoản thanh toán bị chậm trễ tương ứng với mức độ chậm trễ, mức
độ bồi thường lần đầu không nhỏ hơn mức lãi suất do ngân hàng thương mại quy
định tương ứng với từng thời kỳ.
- Xác định rõ các nội dung về điều chỉnh, bổ sung ngoài hợp đồng như: phạm
vi áp dụng, phương pháp xác định, thời điểm áp dụng, thời hạn thanh toán, khối
lượng điều chỉnh, bổ sung.
• Giai đoạn thứ 2: Chủ đầu tư kiểm soát hồ sơ thanh toán
- Kiểm tra khối lượng theo bản vẽ thiết kế và hồ sơ dự thầu so với khối lượng
thực tế thi công đã được nghiệm thu theo từng giai đoạn thanh toán.
- Kiểm tra tính đúng đắn của việc áp dụng, định mức, đơn giá vật liệu, nhân
công và máy thi công (kể cả giá điều chỉnh, bổ sung)
- Kiểm tra việc tính toán bảng xác định khối lượng hoàn thành, bảng tính giá
trị đề nghị thanh toán.
- Xác định giá trị đề nghị thanh toán sau khi giảm trừ các giá trị tạm ứng còn
tỷ lệ giảm trừ của thư giảm giá, bảo đảm thực hiện hợp đồng hay bất kỳ khoản
được phép không tính vào giá trị tài sản hình thành qua đầu tư dự án, giá trị tài sản
12
hình thành qua đầu tư: tài sản cố định, tài sản lưu động; đồng thời phải đảm bảo
đúng nội dung, thời gian lập, thẩm tra và phê duyệt theo quy định.
- Báo cáo phải thực hiện theo đúng trình tự, các bước lập, báo cáo quyết toán
phải được chuyển đến đúng cấp chức năng và phê duyệt để tổ chức thẩm tra, phê
duyệt kịp thời.
- Đơn vị, cá nhân lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành phải có
đủ điều kiện năng lực được quy định theo pháp luật. Trong trường hợp đơn vị, cá
nhân không đủ điều kiện năng lực thì không được phép thẩm tra báo cáo quyết toán.
- Bảo đảm đúng nội dung, thời gian lập, thẩm tra và phê duyệt theo quy định
hiện hành. Báo cáo quyết toán thể hiện đầy đủ các nội dung thực hiện, các phụ lục
đi kèm. Thời gian trong báo cáo phải logic và phù hợp từng bước công việc thực
hiện, nội dung thẩm tra phải thể hiện đầy đủ, có xác nhận của đơn vị có liên quan.
- Thông qua công tác quyết toán dự án hoàn thành nhằm đánh giá kết quả quá
trình đầu tư, xác định năng lực sản xuất, giá trị tài sản mới tăng thêm do đầu tư
mang lại; xác định rõ trách nhiệm của chủ đầu tư, các nhà thầu, cơ quan cấp vốn,
cho vay, kiểm soát thanh toán, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan; đồng
thời qua đó rút kinh nghiệm nhằm không ngừng hoàn thiện cơ chế chính sách của
nhà nước, nâng cao hiệu quả công tác quản lý vốn đầu tư trong cả nước.
1.4.2 Nội dung quản lý chi phí trong khâu quyết toán vốn đầu tư
- Nguồn vốn đầu tư thực hiện dự án tính đến ngày khóa sổ lập báo cáo quyết
toán (chi tiết theo từng nguồn vốn đầu tư)
- Chi phí đầu tư đề nghị quyết toán chi tiết theo cơ cấu: Xây dựng, mua sắm và
lắp đặt thiết bị, chi phí khác, chi tiết theo hạng mục, khoản mục chi phí đầu tư. Nội
dung chi chí đầu tư được ghi trong báo cáo quyết toán:
+
- Trường hợp tài sản được bàn giao cho nhiều đơn vị sử dụng phải xác định
đầy đủ danh mục và giá trị của tài sản bàn giao cho từng đơn vị.
- Hồ sơ trình duyệt quyết toán
- Kết luận thanh tra, biên bản kiểm tra, báo cáo kiểm toán của các cơ quan:
Thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhà nước (nếu có); kèm theo báo cáo tình hình chấp
hành các báo cáo trên của chủ đầu tư.
1.4.3 Nội dung thẩm tra, phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành
1.4.3.1 Khái niệm
Thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành là kiểm tra tính hợp pháp của việc đầu tư
xác định chính xác số vốn đầu tư thực tế đã sử dụng để xây dựng dự án, công trình,
xác định giá trị tài sản do kết quả đầu tư đem lại được bàn giao đưa vào sản xuất,
khai thác sử dụng.
Tất cả các dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B sử dụng vốn nhà nước
khi hoàn thành đều phải kiểm toán quyết toán trước khi trình cấp có thẩm quyền
thẩm tra, phê duyệt quyết toán, các dự án còn lại thực hiện kiểm toán quyết toán
theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền.
14
1.4.3.2 Hình thức thẩm tra
Tùy theo điều kiện cụ thể về quy mô dự án và bộ máy chuyên môn thẩm tra
thực thuộc, người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán có thể áp dụng một trong hai
hình thức sau:
- Hình thức tự thẩm tra: Người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán sử dụng
cơ quan chuyên môn thuộc quyền quản lý có đủ năng lực để trực tiếp thẩm tra quyết
toán hoặc quyết định thành lập tổ tư vấn thẩm tra trước khi phê duyệt quyết toán dự
án hoàn thành.
- Hình thức thuê tổ chức kiểm toán độc lập: Người có thẩm quyền phê duyệt
quyết toán cho phép chủ đầu tư thuê tổ chức kiểm toán độc lập, hoạt động hợp pháp
thành phố thuộc tỉnh quản lý: Phòng Tài chính - Kế hoạch tổ chức thẩm tra.
- Đối với các dự án còn lại: Người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán giao
cho đơn vị có chức năng thuộc quyền quản lý tổ chức thẩm tra quyết toán dự án
hoàn thành trước khi phê duyệt.
Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền phê duyệt quyết toán quyết định
thành lập tổ công tác thẩm tra để thực hiện thẩm tra trước khi phê duyệt quyết toán;
thành phần của tổ công tác thẩm tra quyết toán gồm thành viên của các đơn vị có
liên quan.
1.4.4 Giá thanh toán, giá quyết toán công trình
• Giá thanh toán: Khi có khối lượng hoàn thành được nghiệm thu Chủ đầu tư
lập hồ sơ thanh toán gửi lên Kho bạc Nhà Nước. Giá thanh toán có thể cho từng
việc, từng hạng mục. Một công trình có thể thanh toán thành nhiều lần tùy theo kế
hoạch vốn và tiến độ thanh toán theo hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu
• Giá quyết toán: Giá quyết toán công trình là toàn bộ chi phí hợp lý, hợp pháp
đã thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa công trình vào khai thác sử dụng
- Tất cả các công trình xây dựng, sau khi hoàn thành đưa vào khai thác sử
dụng, Chủ đầu tư phải có trách nhiệm thực hiện quyết toán vốn đầu xây dựng công
trình theo yêu cầu của người quyết định đầu tư và các đơn vị nhận thầu phải quyết
toán kết quả tài chính để báo cáo cấp trên. Đây chính là công tác xác định giá quyết
toán công trình. Toàn bộ nội dung chi phí của dự án khi quyết toán công trình sẽ là
những chi phí thực tế để thực hiện dự án trên cơ sở thanh quyết toán các hợp đồng
kinh tế kí kết sau khi trúng thầu hoặc chỉ định thầu theo quy định của pháp luật và
bao gồm 6 nội dung: chi phí xây dựng; chi phí thiết bị; chi phí quản lý dự án; chi
phí tư vấn xây dựng; chi phí khác và chi phí thực tế đã đền bù và giải phóng mặt
bằng theo quy định của pháp luật. Toàn bộ chi phí này được gọi là giá vốn công
trình hình thành nên giá trị tài sản cố định của nhà đầu tư.
- Quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình được thực hiện theo hai loại giá:
Giá thực tế của vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã sử dụng hàng năm và giá quy đổi về
Tổng mức
đầu tư sơ bộ
Thiết kế cơ sở
Lập
dự án
Thẩm
định phê
duyệt
Tổng mức đầu tư
- Suất đầu tư
- Giá chuẩn (chi phí chuẩn)
- Chỉ số giá xây dựng
Quyết định đầu tư
Báo cáo đầu
tư xây dựng
công trình
Giấy phép đầu tư XDCT
Quy
hoạch
Dự án đầu tư
- ĐM dự
toán
-Đơn giá
XDCT
Hoàn thành
bàn giao
Hồ
sơ
mời
đấu
thầu
Hợp
đồng
dựng
Hồ
sơ
đấu
thầu
Giá
dự
thầu
Giá
hợp
đồng
18
1.5 Ý nghĩa, vai trò, mục tiêu chất lượng quản lý chi phí trong khâu thanh
toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình
Để quản lý nguồn vốn ngân sách cho đầu tư xây dựng đạt hiệu quả, sử dụng tiết
kiệm và và mang lại lợi ích thì nhà nước phải sử dụng các chế tài đủ mạnh, phân bổ
vốn một cách hợp lý, tránh giàn trải cũng như quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn
của chủ đầu tư, cơ quan cấp phát vốn. Quản lý chi phí tốt sẽ góp phần chống lãng
phí, thất thoát vốn của nhà nước cho đầu tư xây dựng
1.6 Kinh nghiệm quản lý chi phí của một số nước trên thế giới và bài học
rút ra cho Việt Nam
1.6.1 Mô hình quản lý chi phí một số nước trên thế giới
a. Đối với các dự án của Chính phủ Anh: Chủ đầu tư uỷ nhiệm cho Kỹ sư
chuyên ngành và Kiến trúc sư là công ty tư nhân (hoặc Nhà nước tuyển) để phác
thảo dự án và thiết kế sơ bộ. Trong giai đoạn này, Kỹ sư chuyên ngành và Kiến trúc
sư được hỗ trợ bởi Tư vấn thiết kế và Tư vấn quản lý chi phí (Quantity Surveyor) là
các công ty tư nhân. Khái toán chi phí được tính trên đơn vị m2 để xác định lượng
vốn cho dự án và được Tư vấn quản lý chi phí tính toán dựa trên các thông tin cơ
bản về dự án, dựa trên diện tích một mét vuông sàn. Khi lượng vốn dành cho dự án
được chấp thuận, thiết kế sơ bộ sẽ được trình cho Chủ đầu tư. Dự toán sơ bộ được
xác định dựa trên thiết kế. Khi các quyết định về thiết kế được đưa ra, Tư vấn quản
lý chi phí sẽ lập dự toán và dự toán này có liên quan đến dự toán sơ bộ đã được
duyệt. Nếu bị vượt quá dự toán sơ bộ được duyệt, dự toán sơ bộ hoặc thiết kẽ sẽ
được cảnh báo. Chi phí dự phòng trong dự toán sơ bộ sẽ giúp giải quyết các vấn đề
xảy ra. Khi xong thiết kế thi công, Tư vấn quản.lý chi phí sẽ lập biểu khối lượng
bao gồm chi tiết tất cả các hạng mục công việc theo yêu cầu thiết kế. Biểu khối
lượng sẽ được áp giá và sau đó sẽ được sử dụng để phân tích hồ sơ thầu của các
Nhà thầu.
Tại Vương quốc Anh, không có Nhà thầu thuộc nhà nước (chỉ có các cơ quan
đã được hoàn thành. Đây là loại dự toán có tính chính xác cao nhất, dao động hơn
kém khoảng 5%, có 16 nhóm đơn giá chi tiết.
d. Tại Trung Quốc: Ở Trung Quốc đặc biệt coi trọng quản lý chi phí ngay từ
khâu dự án. Hiện nay Trung Quốc vẫn đang thực hiện cơ chế kết hợp giám sát nhà
nước (giai đoạn lập dự án) và giám sát xã hội (giai đoạn thực hiện đầu tư). Các giai
đoạn của quá trình đầu tư và quản lý chi phí qua từng giai đoạn như sau:
20
- Giai đoạn quyết định đầu tư: Kiến nghị vốn dự án, lập và duyệt tổng mức
đầu tư (ước toán đầu tư), lập và duyệt khái toán điều chỉnh (tương ứng với bước
thiết kế tổng thể hay thiết kế sơ bộ).
- Giai đoạn thiết kế: Xét duyệt tổng khái toán điều chỉnh (tương ứng với bước
thiết kế sơ bộ hay thiết kế kỹ thuật), lập và xét duyệt dự toán (tương ứng với bước
thiết kế bản vẽ thi công)
- Giai đoạn mời thầu và mở thầu: Lập và duyệt giá mời thầu, giá trúng thầu và
giá hợp đồng xây lắp.
- Giai đoạn thi công: Thẩm tra, khống chế chi phí phát sinh, chi phí bồi thường
theo điều khoản hợp đồng, giá kết toán.
- Giai đoạn hoàn thành, bàn giao, đưa vào sử dụng: Quyết toán tài chính, chỉnh
lý, lưu trữ, cung cấp thông tin tư liệu giá, chi phí xây dựng.
1.6.2 So sánh về quá trình hình thành và quản lý chi phí, giá xây dựng của
một số nước trên thế giới và Việt Nam
1.6.2.1 Sự giống nhau
a. Về trình tự hình thành chi phí, giá
- Chi phí và giá xây dựng được chính xác hóa dần từng bước trong quá trình
đầu tư xây dựng, từ ý tưởng dự án, thực hiện dự án và kết thúc xây dựng, đưa dự án
vào khai thác sử dụng. Chi phí và giá xây dựng ở bước sau có độ chính xác cao hơn
bước trước.
b. Cơ sở để tính chi phí và giá xây dựng
Mỗi nước có những quy định khác nhau:
- Tại Anh: Mặc dù không có quy định mức thống nhất, nhưng nguyên tắc đo bóc
tiên lượng lại được coi như là chuẩn mực để xác định khối lượng khi định giá xây
dựng.
- Tại Mỹ: Cơ quan nhà nước không ban hành các tiêu chuẩn và căn cứ thống
nhất để tính chi phí và giá công trình, tất cả các loại định mức, chỉ tiêu, tiêu chuẩn
chi phí để tính chi phí và giá xây dựng thường do các công ty tư vấn công trình có
danh tiếng biên soạn và cung cấp.
c. Thị trường xây dựng thông qua hệ thống thông tin
Tại hầu hết các nước, hệ thống thông tin, dữ liệu đang rất phát triển, như ở
Hồng Kông, các thông tin về giá xây dựng (chỉ số đầu vào, chỉ số giá thành, chỉ số
giá cả) hiện đang được công bố định kỳ thường xuyên; tại Mỹ , tổ chức tư vấn và
22
môi giới thông tin biên soạn và công bố chỉ số giá xây dựng trên cơ sở thu thập từ
các công trình xây dựng. Tại hầu hết các nước phát triển và đang phát triển hình
thành cơ chế hành nghề của các kỹ sư tư vấn, trong đó có kỹ sư định giá xây dựng.
1.6.3 Bài học rút ra cho Việt Nam
Kiểm soát chi phí trong giai đoạn thiết kế đặc biệt được coi trọng ở các nước
phát triển, tổ chức tư vấn kiểm soát chi phí từ khi lập dự toán sơ bộ trong giai đoạn
thiết kế cơ sở và tư vấn thiết kế phải xác định thiết kế không được vượt dự toán
được cảnh báo. Điều này đặc biệt rất có ý nghĩa đối với Việt Nam trong khi chưa
hình thành các tổ chức tư vấn quản lý chuyên nghiệp thì cần tăng cường kiểm soát
chi phí sau khi hình thành thiết kế cơ sở và nâng cao vai trò kiểm soát chi phí trong
thiết kế của tổ chức tư vấn thiết kế.
Trong giai đoạn xây dựng công trình phải xây dựng được kế hoạch thanh toán
vốn dựa trên tiến độ thi công và cam đoan thực hiện tiiến độ của nhà thầu, xác định
- Nghị định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình nghị định số
112/2009/ND-CP ngày 14 tháng 12 năm 2009 về quản lý chi phí đầu tư xây dựng
công trình nghị định này thay thế cho nghị định số 99/2007/ND-CP ngày 13 tháng
06 năm 2007 về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình và nghị định số
03/2008/ND-CP ngày 07 tháng 01 năm 2008 về sử đổi, bổ sung một số điều của
24
nghị định số 99/2007/ND-CP ngày 13 tháng 06 năm 2007 về quản lý chi phí đầu tư
xây dựng công trình.
Thông tư số 04/2010/TT-BXD ngày 26 tháng 05 năm 2010 thông tư hướng
dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình thông tư này thay thế cho
thông tư số 05/2007/TT-BXD ngày 25 tháng 07 năm 2007 của Bộ Xây Dựng về
hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình.
Thông tư số 10/2011/TT-BTC ngày 26 tháng 01 năm 2011 thông tư quy định
về quản lý, sử dụng chi phí quản lý dự án của các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn
ngân sách nhà nước. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2011
và thay thế Thông tư số 117/2008/TT-BTC ngày 05/12/2008 của Bộ Tài chính hướng
dẫn quản lý, sử dụng chi phí quản lý dự án đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Thông tư số 86/2011/TT-BTC ngày 17-06-2011 của Bộ Tài chính quy định về
quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn
vốn ngân sách nhà nước. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 05 tháng 08 năm 2011.
Thông tư này thay thế các thông tư số 27/2007/TT-BTC ngày 03-04-2007; số
130/2007/TT-BTC ngày 2-11-2007; số 88/2009/TT-BTC ngày 29-04-2009; số
209/2009/TT-BTC ngày 05-11-2009 hướng dẫn về quản lý, thanh toán vốn đầu tư
và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước
- TT 19/2011/TT-BTC ngày 14 tháng 02 năm 2011 thông tư quy định về quyết
toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước thay thế Thông tư số 33/2007/TTBTC ngày 09/4/2007 hướng dẫn quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà
nước và Thông tư số 98/2007/TT-BTC ngày 09/8/2007 sửa đổi, bổ sung một số
quản lý đầu tư xây dựng, nhưng lại thực hiện phương châm “gọt chân cho vừa
giầy”. Chẳng hạn như: Chủ đầu tư tìm mọi cách để lách được qua những thủ tục
quy định về thẩm định dự án của cơ quan Nhà nước dẫn đến dự án không đủ kinh
phí để thực hiện, kéo dài thời gian xây dựng do phải làm thủ tục bổ sung vốn.
+ Trường hợp các dự án thực hiện trái các trình tự quy định trong quản lý đầu
tư xây dựng như dự án chưa có đủ điều kiện quy định đã được ghi kế hoạch cấp
vốn, thậm chí đã được khởi công xây dựng
Cơ cấu đầu tư chưa thật hợp lý, bố trí đầu tư còn dàn trải, tuy nhiên nhà nước đã
ưu tiên dành trên 50% vốn nhà nước vào đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, công trình
phúc lợi nhưng hiệu quả chưa cao, tốc độ giải ngân vốn ngân sách nhà nước chậm.