Lời mở đầu
Sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của nớc ta trong những năm gần đây đã mở ra
rất nhiều cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp, không phân biệt thành phần kinh
tế, hình thức sở hữu, loại hình kinh doanh. Nhng chính quá trình đổi mới đó cũng đã
tạo ra những thách thức không nhỏ cho mỗi doanh nghiệp. Nền kinh tế thị trờng
hoạt động tuân theo các quy luật kinh tế khách quan tất yếu dẫn đến sự đào thải các
đơn vị kinh tế không đáp ứng đợc các yêu cầu khắt khe của cơ chế thị trờng, nhờng
chỗ cho các đơn vị kinh tế hoạt động có hiệu quả.
Hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả tức là thu nhập phải bù đắp chi phí
và có lợi nhuận, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nớc. Để làm đợc điều này
doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến mẫu mã, đổi mới công nghệ, nâng cao chất
lợng sản phẩm, sử dụng tiết kiệm chi phí, liên tục tìm cách giảm giá thành trong sản
xuất sản phẩm.
Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp
cũng phải đổi mới hệ thống quản lý, hoàn thiện các công cụ quản lý, trong đó có hệ
thống kế toán. Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một khâu
quan trọng trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp bởi nó không chỉ cung cấp các
thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm mà còn giúp nhà quản lý phân
tích hiệu quả sản xuất kinh doanh để có các biện pháp tối đa hoá lợi nhuận.
Là một đơn vị trực thuộc Công ty vải sợi may mặc miền Bắc, Xí nghiệp may
xuất khẩu Lạc Trung là một đơn vị chuyên sản xuất hàng may mặc phục vụ nhu cầu
tiêu dùng trong và ngoài nớc. Đây là mặt hàng đa dạng, phong phú và đồng thời là
một trong những sản phẩm xuất khẩu chính của Việt Nam. Quá trình thực tập tại xí
nghiệp cho thấy phần hành kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm thực
sự đóng vai trò quan trọng trong công tác kế toán tại xí nghiệp, nó đã và đang cung
cấp thông tin cho nhà quản lý trong việc ra các quyết định kinh doanh.
Bên cạnh những thành tựu đạt đợc, phần hành kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm tại xí nghiệp vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần nghiên cứu và
1
tiếp tục hoàn thiện. Xuất phát từ nhận thức nh vậy, em chọn đề tài Hoàn thiện kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp may xuất khẩu
Nh vậy, tại các doanh nghiệp sản xuất, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền
toàn bộ các hao phí về các yếu tố đầu vào mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành
hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định.
Có sự khác biệt giữa chi phí và chi tiêu. Chi tiêu cho sản xuất là khái niệm gắn
liền với các nghiệp vụ tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất nh: mua sắm tài sản
cố định (TSCĐ), mua nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ.... Do đó, khái niệm chi tiêu
mang tính thời điểm và gắn với các nghiệp vụ kinh tế cụ thể. Ngợc lại, chi phí sản
xuất phản ánh một quá trình hao phí cho sản xuất trong một thời kỳ nhất định. Chỉ
đợc tính vào chi phí của kỳ hạch toán những khoản hao phí có liên quan đến khối l-
ợng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ, chứ không phải mọi khoản chi ra trong kỳ hạch
toán. Nh vậy, chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau về bản chất, quy mô và
3
thời gian phát sinh, nhng chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Chi tiêu là cơ sở
để phát sinh chi phí. Có những khoản chi tiêu kỳ này nhng tính chi phí vào kỳ sau
(chi mua nguyên vật liệu nhập kho trong kỳ, nhng cha xuất dùng), có những khoản
tính vào chi phí kỳ này nhng thực tế cha chi tiêu (chi phí trả trớc).
2. Phân loại
chi phí sản xuất.
Do chi phí sản xuất có rất nhiều loại nên cần thiết phải phân loại chi phí theo
các tiêu thức khác nhau, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý và hạch
toán chi phí.
2.1. Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố.
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất của doanh nghiệp đợc chia
thành các yếu tố khác nhau, phản ánh cùng một nội dung kinh tế. Bao gồm:
- Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ các chi phí về các loại nguyên vật
liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế... mà doanh nghiệp sử
dụng cho các hoạt động sản xuất trong kỳ.
- Chi phí nhân công: Bao gồm toàn bộ số tiền công phải trả, tiền trích bảo hiểm
y tế (BHYT), bảo hiểm xã hội (BHXH), kinh phí công đoàn (KPCĐ) mà doanh
nghiệp phải chịu.
ợc cấu thành từ các khoản chi tiêu mà chỉ phát huy tác dụng trong một kỳ hạch toán.
- Chi phí đợc cấu thành từ các khoản chi tiêu từ kỳ trớc: trong trờng hợp một
khoản chi tiêu tại một thời điểm nhng phát huy tác dụng cho hoạt động sản xuất của
nhiều kỳ hạch toán sau đó thì nó đợc phân bổ vào chi phí sản xuất của nhiều kỳ. Vì
vậy, chi phí sản xuất của kỳ này có thể đợc cấu thành từ các khoản chi tiêu kỳ trớc
dới hình thức chi phí phân bổ dần.
- Chi phí đợc cấu thành từ các khoản chi tiêu của kỳ sau: trong trờng hợp một
khoản chi tiêu cha đủ bằng chứng để ghi nhận trong kỳ này, nhng doanh nghiệp đã
dự toán trớc và hiện tại nó đã phát huy tác dụng thì doanh nghiệp có thể tính trớc
vào chi phí. Vì vậy, chi phí sản xuất của kỳ này có thể bao gồm một phần khoản chi
tiêu sẽ thực hiện ở kỳ sau dới hình thức trích trớc theo dự toán.
2.4. Phân loại chi phí sản xuất theo quan hệ với đối tợng chịu chi phí.
5
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất đợc chia thành 2 loại:
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí sản xuất chỉ liên quan tới một đối tợng
tính giá thành. Đối với loại chi phí này, kế toán căn cứ vào quy mô phát sinh chi phí
để tính trực tiếp vào giá trị của đối tợng gánh chịu chi phí (phân bổ trực tiếp).
- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí sản xuất liên quan đến nhiều đối tợng
chịu chi phí. Những chi phí này kế toán phải tiến hành phân bổ cho các đối tợng có
liên quan theo một tiêu chuẩn phân bổ thích hợp (phân bổ gián tiếp).
Việc phân loại chi phí theo tiêu thức này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác
định phơng pháp tập hợp chi phí, phân bổ chi phí cho các đối tợng liên quan một
cách chính xác để phục vụ công tác tính giá thành sản phẩm.
2.5. Phân loại chi phí theo quan hệ với công nghệ sản xuất.
Trong quan hệ với quy trình công nghệ sản xuất, chi phí sản xuất đợc phân
chia thành 2 loại:
- Chi phí ban đầu: là chi phí đợc cấu thành từ nguyên vật liệu chính sử dụng để
sản xuất sản phẩm.
- Chi phí chế biến: là chi phí đợc cấu thành từ các yếu tố chi phí có công dụng
chế biến nguyên vật liệu chính thành sản phẩm.
điểm quy trình sản xuất sản phẩm và đáp ứng đợc yêu cầu quản lý chi phí sản xuất
của doanh nghiệp giúp cho tổ chức tốt nhất của công việc kế toán tập hợp chi phí
sản xuất. Từ khâu ghi chép ban đầu, tổng hợp số liệu, tổ chức tài khoản và sổ chi tiết
đều phải theo đúng đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất cần phải căn cứ vào :
- Đặc điểm và công dụng của chi phí trong sản xuất
- Cơ cấu tổ chức sản xuất yêu cầu và trình độ quản lý sản xuất trong doanh
nghiệp.
- Quy trình công nghệ sản xuất và đặc điểm của sản phẩm.
Dựa vào những căn cứ trên, đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong
Doanh nghiệp có thể là: Bộ phận, phân xởng sản xuất, đội sản xuất, hoặc từng giai
7
đoạn công nghệ hay toàn bộ qui trình công nghệ hay từng sản phẩm, đơn đặt hàng,
hạng mục công trình...
Tập hợp chi phí sản xuất đúng đối tợng là qui định hợp lý có tác dụng phục vụ
tốt cho việc tăng cờng quản lý chi phí sản xuất và phục vụ cho công tác tính giá
thành sản phẩm đợc đúng đắn.
4. Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất.
Phơng pháp tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Phơng pháp tập hợp trực tiếp áp dụng đối với chi phí có liên quan trực tiếp đến
đối tợng kế toán tập hợp chi phí đã xác định và công tác hạch toán ghi chép ban đầu
cho phép quy nạp trực tiếp các chi phí này vào đối tợng tập hợp chi phí có liên quan.
Phơng pháp phân bổ gián tiếp:
Phơng pháp phân bổ gián tiếp đợc áp dụng khi một loạt chi phí có liên quan
đến nhiều đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất không thể tập hợp trực tiếp cho
từng đối tợng. Do đó phải lựa chọn tiêu chuẩn để tiến hành phân bổ chi phí cho các
đối tợng liên quan theo trình tự phân bổ sau:
-Xác định hệ số phân bổ :
C
H =
Ti
- Kết chuyển và phân bổ trị giá nguyên vật
liệu trực tiếp sử dụng cho sản xuất kinh
doanh trong kỳ vào TK phản ánh chi phí
sản xuất theo các đối tợng đợng đã qui
định.
(TK154 nếu hạch toán theo phơng pháp kê
khai thờng xuyên TK632 nếu hạch toán
theo phơng pháp kiểm kê định kỳ )
Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
TK152
T
K6
21
TK154
Vật liệu dùng trực tiếp
cho chế tạo SP
Kết chuyển chi
phí NVLTT
Vật liệu dùng không hết
để lại PX, tổ đội SX
Phế liệu thu hồi,
VL dùng không
hết nhập kho
TK152
TK133
6. Kế toán tập hợp chi phí và phân bổ chi
phí nhân công trực
tiếp:
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho
thuộc các ngành công nghiệp, nông, lâm, ng nghịêp , XDCB, GTVT, Bu điện...
Nội dung kết cấu của TK622 "Chi phí nhân công trực tiếp"
TK622
- Tập hợp chi phí sản xuất bao gồm :
Tiền lơng tiền công lao động và các
khoản trích theo lơng quy định
- Kết chuyển và phân bổ chi phí nhân
công trực tiếp cho các đối tợng chịu chi
phí có liên quan
TK622 không có số d cuối kỳ
Tài khoản 622 việc tính toán phân bổ chi phí nhân công trực tiếp có thể đợc
phản ánh ở Bảng phân bổ tiền lơng và BHXH ( Bảng phân bổ số1 )
Tuỳ theo đặc điểm sản xuất của từng Doanh nghiệp mà TK622 có thể mở
các chi tiết cần thiết.
11
Sơ đồ số 2:
Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp
TK334 TK622 TK154
Tiền lơng và phụ cấp lơng phải
trả cho công nhân TTSX
TK338
Các khoản trích tiền lơng của
CN TTSX- TT phát sinh
Kết chuyển chi phí
nhân công TT
TK335
DN trích trớc tiền lơng nghỉ
phép của CN TTSX
TK111,112
TK6272 : Chi phí vật liệu
TK6273 : Chi phí dụng cụ sản xuất
TK6274 : Chi phí khấu hao tài sản cố định
TK6277 : Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK6278 : Chi phí bằng tiền khác
Tuỳ theo yêu cầu quản lý của từng ngành từng Doanh nghiệp có thể mở thêm
một số tài khoản cấp 2 khác để phản ánh một số nội dung chi phí hoặc yếu tố chi phí
thích hợp
- Trình tự hạch toán chi phí sản xuất chung theo sơ đồ sau.
Sơ đồ số 3:
Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung
TK 334,338
Chi phí nhân viên
TK 627
các khoản giảm chi phí
TK111,112,152
13
phân xởng SXC (FL thu hồi ,VT xuất
dùng không hết)
TK152
Chi phí vật liệu
TK 153,142
Chi phí dụng cụ
sản xuất
Kết chuyển chi phí SXC đã
tập hợp phân bổ cho các đối
tợng
TK 154
TK 214
Chi phí khấu hao
nhập (sau khi trừ các khoản thu hồi; bồi thờng của ngời phạm lỗi nếu có). Vì thế,
cần thiết phải hạch toán riêng giá trị thiệt hại của những sản phẩm ngoài định mức
và xem xét từng nguyên nhân gây ra sản phẩm hỏng để có biện pháp xử lý. Toàn bộ
giá trị thiệt hại có thể theo dõi riêng trên tài khoản 1381 (chi tiết sản phẩm hỏng
ngoài định mức), sau khi trừ đi số phế liệu thu hồi và bồi thờng (nếu có), thiệt hại
thực về sản phẩm hỏng sẽ đợc tính vào giá vốn hàng bán hay chi phí khác trừ vào quỹ
dự phòng tài chính.
Trình tự hạch toán có thể đợc phản ánh qua sơ đồ sau:
Sơ đồ số 4:
Hạch toán thiệt hại về sản phẩm hỏng ngoài định mức
TK 152, 153,334
TK 1381
(SPHNĐM)
TK 632, 415
Chi phí sửa chữa Giá trị thiệt hại thực về
SP hỏng ngoài định mức
TK 154, 155,
157, 632
TK 1388, 152..
Giá trị sản phẩm Giá trị phế liệu thu hồi
15
hỏng không sửa
chữa đợc
và các khoản bồi thờng
8. 2. Hạch toán thiệt hại do ngừng sản xuất:
Trong thời gian ngừng sản xuất vì những nguyên nhân chủ quan hoặc do khách
quan (thiên tai, dịch hoạ, thiếu nguyên vật liệu ), các doanh nghiệp vẫn phải bỏ ra
một khoản chi phí để duy trì hoạt động nh tiền công lao động, khấu hao TSCĐ, chi
phí bảo dỡng. Những khoản chi phí chi ra trong thời gian này đợc coi là thiệt hại về
ngừng sản xuất. Với những khoản chi phí về ngừng sản xuất theo kế hoạch dự kiến,
TK154 dùng để tập hợp chi phí sản xuất và cung cấp số liệu để tính giá thành
sản phẩm, lao vụ, gia công chế biến vật liệu ở các doanh nghiệp sản xuất thuộc
ngành kinh tế ( công nghiệp, nông nghiệp, ng nghiệp, XDCB, GTVT...) các doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ ( vận tải, du lịch, bu đện, khách sạn,...)
Nội dung kết cấu TK154 nh sau :
TK154
D1: Chi phí sản xuất của sản phẩm dở
dang đầu kỳ
- Kết chuyển các chi phí sản xuất sản
phẩm
- Chi phí NVL-TT, chi phí SXC, chi phí
NCTT
- Kết chuyển chi phí kinh doanh dở dang
cuối kỳ ( Nếu doanh nghệp áp dụng ph-
ơng pháp kiểm kê định kỳ TK 631)
- Giá trị phế liệu thu hồi giá trị sản phẩm
không sửa chữa đợc
- Giá trị NVL xuất dùng không hết nhập
lại kho (Tk 152)
- Giá thành tiêu thụ của SF đã chế tạo
song nhập kho hoặc chuyển đi bán
- Chi phí thực tế khối lợng lao vụ dịch vụ
đã hoàn thành cung cấp cho khách hàng
17
- Kết chuyển chi phí sản xuất kinh
doanh dở dang đầu kỳ nếu doanh nghiệp
hạch toán theo phơng pháp kiểm kê định
kỳ ( Tk 631)
D2: Chi phí sản xuất của sản phẩm dở
dang cuối kỳ
TK155
18
Cuối tháng kết chuyển CF
SXC
Giá thành sản xuất thành
phẩm bán không qua kho
TK632
Gía thành sản xuất thành
phẩm gửi bán thẳng
TK157
Dck: xxx
9. 2. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp trong trờng hợp doanh
nghiệp áp dụng phơng pháp kiểm kê định kỳ:
Đối với doanh nghiệp loại này, kế toán sử dụng TK631 "Giá thành sản xuất"
để tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp. Còn TK154 "Chi phí sản xuất kinh
doanh dở dang" chỉ dùng để phản ánh chi phí sản xuất của những sản phẩm, công
việc lao vụ dịch vụ còn đang sản xuất dở dang cuối kỳ
Nội dung kết cấu TK631
TK 631
- Kết chuyển trị giá sản phẩm còn dở
dang đầu kỳ
- Kết chuyển chi phí sản xuất thực tế
phát sinh trong kỳ
- Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ kết
chuyển sang bên nợ TK154
Giá thành sản phẩm nhập kho, lao vụ,
dịch vụ hoàn thành kết chuyển vào
TK632 "giá vốn hàng bán"
TK 631 không có số d cuối kỳ
Các doanh nghiệp sản xuất tuỳ theo đặc điểm sản xuất mà mở chi tiết TK631
Cuối kỳ kết chuyển CF
NVL- TT
Giá trị SP hỏng
không SC đợc
Bồi thờng vật
chất
TK622 TK811
Cuối kỳ kết chuyển CF-
NCTT
CF bất thờng
TK627
Cuối kỳ kết chuyển
(PB)CF- SXC
Gía thành thực tế của sản phẩm hoàn
thành trong kỳ
TK632
Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
TK154
20
10. Phơng pháp đánh giá sản phẩm dở dang:
Sản phẩm dở dang là khối lợng sản phẩm, công việc còn đang trong quá trình
sản xuất, chế biến, đang nằm trên dây truyền công nghệ hoặc đã hoàn thành một vài
qui trình chế biến nhng vẫn phải gia công chế biến tiếp mới trở thành phẩm.
Các doanh nghiệp sản xuất thờng có qui trình sản xuất liên tục và xen kẽ lẫn
nhau nên ở thời điểm cuối tháng hoặc cuối quý, cuối năm thờng có một khối lợng
sản phẩm đang sản xuất dở dang.Trong trờng hợp này, chi phí sản xuất đã tập hợp
trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm, công việc đã hoàn thành trong kỳ
mà còn liên quan đến cả những sản phẩm, công việc còn đang sản xuất dở dang nữa.
Đánh giá sản phẩm dở dang là tính toán chính xác phần chi phí sản xuất mà
sản phẩm dở dang cuối kỳ phải chịu. Việc đánh giá sản phẩm dở dang hợp lý là một
Phơng pháp này đơn giản dễ tính toán, khối lợng công việc tính toán ít xác
định chi phí dở dang cuối kỳ đợc kịp thời phục vụ cho việc tính giá thành đợc nhanh
chóng... tuy nhiên mức độ chính xác không cao vì chỉ tính một khoản mục chi phí
NVL trực tiếp.
Phơng pháp này áp dụng thích hợp đối với những doanh nghiệp có qui trình
công nghệ chế biến liên tục, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn
10. 2. Đánh giá sản phẩm dở dang theo khối lợng sản phẩm hoàn thành tơng đ-
ơng.
Theo phơng pháp này, căn cứ vào số lợng sản phẩm dở kiểm kê cuối kỳ và
mức độ hoàn thành của chúng để tính đổi ra sản lợng sản phẩm hoàn thành tơng đ-
ơng và trên cơ sở hoàn thành tơng đơng để tính chi phí sản xuất SPDD theo công
thức.
Đối với chi phí bỏ vào một lần ngay từ đầu quy trình công nghệ (nh: chi phí
NVL trực tiếp, chi phí vật liệu chính trực tiếp sản xuất):
D
1
+ C
D
2
= x Q
d
Q
h t
+ Q
d
Đối với các chi phí bỏ dần vào trong quá trình sản xuất (nh: chi phí nhân
công trực tiếp chi phí sản xuất chung) :
` D
1
Phơng pháp có u điểm tính toán nhanh chóng có lập các bảng tính sẵn giúp cho
việc sản xuất dở dang cuối kỳ đợc nhanh chóng hơn. Tuy nhiên mức độ chính xác
không cao vì chi phí thực tế không thể đúng nh chi phí định mức đợc.
Phơng pháp này áp dụng đối với doanh nghiệp đã xác định đợc định mức chi
phí sản xuất cho từng giai đoạn và việc thực hiện quản lý đã đi vào nề nếp.
II Các phơng pháp tính giá thành.
1. Giá thành và các loại giá thành.
1. 1. Khái niệm giá thành .
Giá thành là chi phí sản xuất tính cho một khối lợng hoặc đơn vị sản phẩm
(công việc, lao vụ ) do doanh nghiệp đã sản xuất hoàn thành.
Quá trình sản xuất ở một doanh nghiệp một mặt doanh nghiệp phải bỏ ra
những chi phí sản xuất; mặt khác, kết quả của sản xuất doanh nghiệp thu đợc những
sản phẩm, công việc, lao vụ nhất định đã hoàn thành, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của
xã hội. Những sản phẩm công việc lao vụ dịch vụ đã hoàn thành gọi là thành phẩm
cần phải tính đợc giá thành tức là những chi phí đã bỏ ra để sản xuất ra chúng.
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lợng hoạt
động sản xuất, phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản, vật t, lao động, tiền vốn
trong quá trình sản xuất, cũng nh các giải pháp kinh tế, kỹ thuật mà doanh nghiệp đã
23
thực hiện nhằm đạt đợc mục đích sản xuất đợc khối lợng sản phẩm nhiều nhất với
chi phí sản xuất tiết kiệm và hạ giá thành. Giá thành sản phẩm còn là căn cứ để tính
toán xác định hiệu quả kinh tế các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
1. 2. Các loại giá thành sản phẩm.
Để giúp cho việc nghiên cứu để quản lý tốt giá thành sản phẩm kế toán cần
phân biệt các loại giá thành khác nhau. Có 2 cách phân loại giá thành chủ yếu:
Phân loại giá thành theo thời gian và cơ sở số liệu tình giá thành:
Căn cứ vào thời gian và cơ sở số liệu tính giá thành, giá thành sản phẩm chia
làm 3 loại:
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành sản phẩm đợc tính trên cơ sở chi phí sản
xuất kế hoạch và sản lợng kế hoạch. Việc tính toàn giá thành kế hoạch do bộ phận
- Đặc điểm tổ chức sản xuất và cơ cấu sản xuất.
- Quy trình công nghệ sản xuất, chế tạo sản phẩm.
- Đặc điểm sử dụng sản phẩm, nửa thành phẩm.
- Các yêu cầu quản lý, yêu cầu cung cấp thông tin cho việc ra quyết định trong
doanh nghiệp.
- Khả năng trình độ quản lý, hạch toán.
3. Kỳ tính giá thành
Kỳ tính giá thành là thời kỳ mà bộ phận kế toán giá thành cho các đối tợng
tính giá thành.
Xác định kỳ tính giá thành cho từng đối tợng tính giá thành thích hợp, sẽ giúp
cho tổ chức công việc tính giá thành sản phẩm đợc khoa học, hợp lý, đảm bảo cung
cấp số liệu thông tin về giá thành thực tế của sản phẩm, lao vụ kịp thời, trung thực
phát huy đợc vai trò kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm của
kế toán.
Mỗi đối tợng tính giá thành phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức của sản phẩm
đợc khoa học, hợp lý, cung cấp số liệu thông tin về giá thành thực tế của sản phẩm,
lao vụ kịp thời, trung thực phát huy đợc vai trò kiểm tra ttình hình thực hiện kế
hoạch giá thành sản phẩm của kế toán.
25