BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
DƯƠNG THỊ AN
YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính–Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN THỊ HẢI LÝ
TP. Hồ Chí Minh – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
DƯƠNG THỊ AN
YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính–Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BẢNG BIỂU ............................................................................................................... 4
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU .............................................................................................................. 1
1.1 Lý do chọn đề tài ....................................................................................................................... 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................................................. 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu.................................................................................................................... 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................................... 2
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................................ 2
1.6 Ý nghĩa khoa học của đề tài...................................................................................................... 3
1.7 Kết cấu của đề tài ...................................................................................................................... 3
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM ............................. 4
2.1 Cơ sở lý luận về khả năng sinh lời của NHTM ....................................................................... 4
2.1.1 Các chỉ số đo lường khả năng sinh lời của NHTM ......................................................... 4
2.1.1.1
Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) ................................................................ 4
2.1.1.2
Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hửu (ROE) .......................................................... 4
2.1.1.3
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) .......................................................................... 5
2.2 Các yếu tố tác động khả năng sinh lời của NHTM................................................................. 5
2.2.1 Các yếu tố nội tại ngân hàng............................................................................................. 5
2.2.1.1
An toàn vốn ............................................................................................................... 6
3.6 Trình tự thực hiện mô hình hồi quy ...................................................................................... 22
TÓM TẮT CHƯƠNG 3.................................................................................................................. 23
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...................................................................................... 24
4.1 Bảng thống kê mô tả................................................................................................................ 24
4.2 Ma trận hệ số tương quan ...................................................................................................... 25
4.3 Kiểm định các khuyết tật cho mô hình .................................................................................. 25
4.4 Kết quả mô hình hồi quy (1) – không xét đến tính sở hữu .................................................. 30
4.5 Kết quả mô hình hồi quy (2) - có xét đến tính sở hữu .......................................................... 33
TÓM TẮT CHƯƠNG 4.................................................................................................................. 37
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN ............................................................................................................. 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH NH TMCP TRONG MẪU NGHIÊN CỨU
PHỤ LỤC 2: TỔNG HỢP DỮ LIỆU CÁC NGÂN HÀNG TMCP TRONG MẪU
NGHIÊN CỨU
PHỤ LỤC 3: MÔ HÌNH HỒI QUY
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHTM
Ngân hàng thương mại
TMCP
Thương mại cổ phần
ROA
Lợi nhuận trên tổng tài sản
Tỷ lệ lạm phát
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1
Bảng mô tả biến nghiên cứu
Bảng 4.1
Bảng thống kê mô tả cho biến ROA, ROE, NIM
Bảng 4.2
Ma trận hệ số tương quan giữa các biến độc lập
Bảng 4.3
Bảng kiểm định VIF cho biến ROA, ROE, NIM
Bảng 4.4
Kết quả kiểm định Hausm
Bảng 4.5
Kết quả kiểm định phương sai thay đổi
Bảng 4.6
hàng đánh giá được năng lực của một ngân hàng trong việc tối đa hóa lợi nhuận trên
tổng tài sản hay đồng vốn đầu tư, từ đó đưa ra các chính sách hoạt động, đổi mới, đa
dạng hóa sản phẩm để kinh doanh đạt hiệu quả. Vì vậy, việc đánh giá khả năng sinh
lời của NHTM cũng như xem xét các yếu tố ảnh hưởng là đề tài không mới, nhưng
luôn được quan tâm bởi các nhà nghiên cứu cũng như các nhà quản trị và điều hành
hoạt động Ngân hàng.
Cho tới nay trên thế giới cũng đã có nhiều bài nghiên cứu thực nghiệm về khả
năng sinh lời dựa trên việc xem xét ảnh hưởng của các yếu tố nội tại ngân hàng và
các yếu tố kinh tế vĩ mô đến khả năng sinh lời của ngân hàng, được thực hiện trên
phạm vi một Quốc gia hay nhiều Quốc gia. Các yếu tố nội tại ngân hàng bị ảnh hưởng
bởi các quyết định nội bộ về quản lý và hội đồng quản trị, còn các yếu tố kinh tế vĩ
mô như GDP, tỷ lệ lạm phát nằm ngoài tầm kiểm soát của Ngân hàng. Nghiên cứu
2
của Aburime (2005), Al-Tatimi (2010) đều kết luận rằng khả năng sinh lời của các
Ngân hàng bị tác động bởi các yếu tố nội tại ngân hàng và các yếu tố kinh tế vĩ mô .
Nghiên cứu của Ongore (2011) cho thấy khả năng sinh lời của Ngân hàng có thể bị
ảnh hưởng bởi tính sở hữu.
Xuất phát từ các lý do trên và tầm quan trọng của việc phải đẩy mạnh khả năng
cạnh tranh nâng cao khả năng sinh lời của hệ thống NHTM tại Việt Nam, tác giả chọn
thực hiện đề tài “Yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại
Việt Nam”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của NHTM
Việt Nam giai đoạn 2007-2017. Bao gồm các yếu tộ nội tại ngân hàng: chất lượng tài
sản, tính thanh khoản, hệ số an toàn vốn, hiệu quả quản lý; các yếu tố vĩ mô: GDP, tỷ
lệ lạm phát; và tính sở hữu.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
4
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý luận về khả năng sinh lời của NHTM
2.1.1 Các chỉ số đo lường khả năng sinh lời của NHTM
Để đo lường khả năng sinh lời của các NHTM, có nhiều chỉ số được sử dụng
trong đó ROA, ROE và NIM là những chỉ số thường được sử dụng nhất (Alexandru
và cộng sự, 2008)
2.1.1.1 Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA)
Theo Khrawish (2011), ROA là tỷ lệ thu nhập thuần sau thuế chia Tổng tài
sản.
Theo Hassan & Bashir (2003), ROA thể hiện khả năng sinh lời có thể tạo ra
trên một đơn vị tài sản, phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận trong sử dụng tài sản tài
chính của ngân hàng cũng như các nguồn lực đầu tư thực khác. ROA cao hơn cho
thấy Ngân hàng hiệu quả hơn trong việc sử dụng nguồn lực của mình (Wen, 2010).
ROA là chỉ số quan trọng để đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng.
Lợi nhuận sau thuế
ROA= —––––––––––––––––––––––
Tổng tài sản
2.1.1.2 Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hửu (ROE)
ROE là tỷ số đo lường tỷ suất sinh lợi của cổ đông trên phần vốn của họ, phản
ánh ngân hàng có thể tạo ra bao nhiêu lợi nhuận trên số vốn mà các cổ đông đã đầu
tư. ROE không phải là chỉ số đại diện cho khả năng sinh lời tốt nhất vì ROE không
xem xét đến mức độ rủi ro cao từ việc sử dụng đòn bẩy cao, không chịu tác động của
nhà nước bởi các quy định của nhà nước liên quan đến đòn bẩy. Các ngân hàng có
vốn chủ sở hữu cao thường có chỉ số ROA cao hơn nhưng ROE lại thấp hơn.
Theo Khrawish (2011), ROE là tỷ lệ thu nhập thuần sau thuế chia cho tổng số
vốn chủ sở hửu. ROE càng cao thì hiệu quả trong việc sử dụng vốn cổ đông càng cao.
Các yếu tố nội tại ngân hàng nằm trong phạm vi của ngân hàng có thể tác động
được và giữa các ngân hàng khác nhau thì các yếu tố này cũng khác nhau. Bao gồm
quy mô vốn, quy mô của các khoản nợ, chính sách lãi suất, năng suất lao động, rủi ro
tín dụng, chất lượng quản lý… Bài nghiên cứu này sử dụng phương pháp CAMEL
6
để kiểm tra sức khỏe tài chính của các NHTM. Phương pháp CAMEL là phương pháp
đánh giá tình trạng vững mạnh của các tổ chức tài chính, thường được các học giả sử
dụng để nghiên cứu các yếu tố nội tại của ngân hàng (Dang, 2011). CAMEL là viết
tắt của Capital, Asset Quality, Management, Earnings và Liquidity. Hệ thống đánh
giá CAMEL do Cục Quản lý các tổ hợp tín dụng Hoa Kỳ xây dựng, song không chỉ
có Hoa Kỳ mà còn có nhiều nước trên thế giới áp dụng. Sau khủng hoảng kinh tế
châu Á 1997, hệ thống đánh giá CAMEL được Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Nhóm Ngân
hàng Thế giới khuyến nghị áp dụng ở các nước bị khủng hoảng như một trong các
biện pháp để tái thiết khu vực tài chính.
2.2.1.1 An toàn vốn
Vốn chủ sở hữu là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân
hàng.
Theo Athanasoglou et al (2005) vốn chủ sở hữu là số tiền của quỹ có sẵn để
hỗ trợ hoạt động kinh doanh của ngân hàng và được sử dụng trong tình huống các
tình huống bất lợi.
Vốn chủ sở hữu tạo ra thanh khoản cho ngân hàng, làm giảm nguy cơ vỡ nợ.
Ngân hàng càng chấp nhận nhiều rủi ro, càng đòi hỏi phải có nhiều vốn tự có để hỗ
trợ hoạt động và bù đắp tổn thất tiềm năng liên quan đến mức độ rủi ro cao hơn. Mức
độ an toàn vốn là mức vốn đủ để cho các ngân hàng chịu được các rủi ro tín dụng, thị
trường và rủi ro hoạt động mà các ngân hàng gặp phải để tiếp cận tiềm năng và bảo
đảm tính thanh khoản của ngân hàng.
Theo Dang (2011), mức độ an toàn vốn được đánh giá trên cơ sở tỷ lệ an toàn
để đo lường hiệu quả quản lý là lợi nhuận trên doanh thu (Rahman và cộng sự, 2009;
Sangmi và Nazir, 2010). Lợi nhuận hoạt động trên tổng doanh thu càng cao thì việc
quản lý càng hiệu quả hơn.
8
Theo Theo Nzongang và Atemnkeng trong Olweny và Shipho (2011), lợi
nhuận và lợi tức của cổ đông là kết quả của các quyết định của ban quản lý và các
quyết định chính sách tổng thể.
2.2.1.4 Thanh khoản
Thanh khoản là một yếu tố khác tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
Thanh khoản là khả năng thực hiện nghĩa vụ của ngân hàng, chủ yếu là đối với người
gửi tiền. Theo Dang (2011) mức độ thanh khoản cao có liên quan tích cực đến khả
năng sinh lời của ngân hàng. Chỉ số tài chính phổ biến nhất phản ánh tính thanh khoản
của một ngân hàng theo tác giả trên là tiền gửi của khách hàng trên tổng số tiền cho
vay của ngân hàng.
Các học giả khác sử dụng chỉ số tài chính khác nhau để đo lường tính thanh
khoản. Ví dụ Ilhomovich (2009) sử dụng tỷ số tiền mặt để đo lường mức độ thanh
khoản của các ngân hàng tại Malaysia. Tuy nhiên, nghiên cứu được tiến hành ở Trung
Quốc và Malaysia cho thấy mức độ thanh khoản không có mối quan hệ với các hoạt
động của các ngân hàng (Said và Tumin, 2011).
2.2.2 Yếu tố kinh tế vĩ mô
Theo các nghiên cứu trước, các yếu tố kinh tế vĩ mô chính tác động đến tỷ suất
sinh lợi của ngân hàng bao gồm: GDP, tỷ lệ lạm phát, lãi suất, chính sách tiền tệ,
chính sách tài khóa và bất ổn chính trị đều ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các
ngân hàng. Tuy nhiên, các yếu tố kinh tố vĩ mô được sử dụng phổ biến và lặp lại ở
rất nhiều nghiên cứu là GDP và tỷ lệ lạm phát. Chính vì vậy, luận văn sẽ sử dụng hai
yếu tố kinh tế vĩ mô này để nghiên cứu tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
2.2.2.1 Tăng trưởng kinh tế (GDP)
lạm phát đều tác động đến lợi nhuận ngân hàng ở Trung Quốc.
Trong các bài nghiên cứu về đề tài này thì mối quan hệ giữa lạm phát và khả
năng sinh lời của ngân hàng đang là vấn đề gây tranh cãi. Nếu tỷ lệ lạm phát có thể
dự đoán trước được thì ngân hàng có thể điều chỉnh lãi suất để tăng khả năng sinh lời.
Ngân hàng có thể quản lý chi phí hoạt động hoặc điều chỉnh lãi suất nếu tỷ lệ lạm
10
phát được dự báo trước hoàn toàn, từ đó làm doanh thu cao hơn chi phí đem lại lợi
nhuận cao hơn. Nếu lạm phát không được dự báo trước đầy đủ, các khoản vay với
mức lãi suất thấp sẽ không bù đủ chi phí dẫn đến lợi nhuận giảm.
2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm
2.3.1 Các nghiên cứu thực nghiệm về tính sở hữu
Ongore (2011) lập luận rằng hành vi mạo hiểm và định hướng đầu tư của các
cổ đông có ảnh hưởng lớn đến các quyết định của các nhà quản lý trong các công việc
hàng ngày của các công ty. Theo Ongore (2011), khái niệm về tính sở hữu có thể
được định nghĩa theo hai loại: sự tập trung sở hữu và sự pha trộn sở hữu. Đề cập đến
tỷ lệ cổ phần nắm giữ (cổ phần lớn nhất) trong công ty bởi một vài cổ đông và sau đó
xác định danh tính của các cổ đông.
Morck et al. trong Wen (2010) giải thích rằng sự tập trung sở hữu vấn đề sau
có thể xảy ra. Các cổ đông chi phối có quyền lực và động cơ để giám sát chặt chẽ ban
lãnh đạo. Điều này lần lượt có tác động đến khả năng sinh lời. Một mặt theo dõi chặt
chẽ quản lý có thể giảm chi phí đại lý và tăng cường khả năng sinh lời của công ty.
Mặt khác, sở hữu tập trung có thể tạo ra một vấn đề liên quan đến việc xem xét quyền
của thiểu số và cũng ảnh hưởng đến sự đổi mới của quản lý (Ongore, 2011; Wen,
2010).
Liên quan đến mối quan hệ giữa tính sở hữu và khả năng sinh lời của ngân
hàng các học giả khác nhau đã đưa ra kết quả khác nhau. Theo Claessens và cộng sự
(1998) hiệu suất của các ngân hàng trong nước cao hơn so với các đối tác nước ngoài
đại được hỗ trợ, giảm chi phí liên quan đến các doanh nghiệp có phí và cải thiện hiệu
quả hoạt động. Điều này cho thấy rằng trong khu vực nghiên cứu trên các ngân hàng
nước ngoài đã được tìm thấy là có lợi hơn so với các ngân hàng trong nước. Lý do
chính đằng sau những khẳng định này là các ngân hàng nước ngoài được cho là mạnh
mẽ và hiệu quả.
Tuy nhiên, có những học giả cho rằng các ngân hàng trong nước hoạt động tốt
hơn các ngân hàng nước ngoài. Cadet (2008) cho rằng ngân hàng nước ngoài không
phải lúc nào cũng hiệu quả hơn các ngân hàng trong nước ở các nước đang phát triển,
và thậm chí ở một đất nước có thu nhập thấp.
12
Chen và Lia (2009) cũng ủng hộ quan điểm trên rằng các ngân hàng nước
ngoài hoạt động không tốt hơn, thậm chí khả năng sinh lời thấp hơn so với các ngân
hàng trong nước liên quan đến các nước đang phát triển, đặc biệt là ở Mỹ Latinh.
Nghiên cứu được tiến hành ở Thổ Nhĩ Kỳ bởi Tufan et al. (2008) cũng thấy rằng các
ngân hàng trong nước hoạt động tốt hơn các ngân hàng nước ngoài. Ngoài ra còn có
các học giả khác cho rằng hiệu suất của các ngân hàng trong và ngoài nước khác nhau
giữa các vùng. Claessens et al. (1998), kết luận rằng các ngân hàng trong nước hoạt
động tốt hơn ở các nước phát triển hơn. Họ tiếp tục khẳng định rằng sự gia tăng tỷ
trọng của các ngân hàng nước ngoài dẫn đến lợi nhuận thấp hơn của các ngân hàng
trong nước ở các nước đang phát triển.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng khả năng sinh lời của ngân hàng có thể bị ảnh
hưởng bởi các yếu tố bên trong và bên ngoài (Athanasoglou et al. 2005; Al-Tamimi,
2010; Aburime, 2005.) Hơn nữa, mức độ ảnh hưởng có thể bị ảnh hưởng bởi quyết
định của ban quản lý. Quyết định quản lý, lần lượt bị ảnh hưởng bởi lợi ích của các
chủ sở hữu được xác định bởi sở thích đầu tư của họ và mức độ chấp nhận rủi ro
(Ongore, 2011).
2.3.2 Các nghiên cứu nước ngoài về khả năng sinh lời của các Ngân hàng
giá các yếu tố quyết định lợi nhuận của ngân hàng Trung Quốc trong giai đoạn 20002005. Phát hiện của họ cho thấy mức độ rủi ro, mức vốn hóa và thanh khoản cao hơn
dẫn đến lợi nhuận cao hơn cho NHTM quốc doanh, trong khi mức rủi ro cao hơn và
chi phí thấp hơn dẫn đến lợi nhuận cao hơn cho ngân hàng TMCP.
Garcia-Herrero et al. (2009) sử dụng phương pháp GMM hai bước để giải
thích lợi nhuận thấp của các ngân hàng TMCP Trung Quốc trong giai đoạn 19972004. Kết quả của họ cho thấy lợi nhuận cao hơn có thể đạt được bởi các ngân hàng
có mức vốn hóa cao, số lượng tiền gửi lớn hơn. Phát hiện này cũng cho thấy rằng các
ngân hàng TMCP Trung Quốc có lợi nhuận cao hơn trong một thị trường ngân hàng
ít tập trung hơn. Cuối cùng, kết quả chỉ ra rằng các ngân hàng TMCP có lợi nhuận
cao hơn các NHTM quốc doanh trong giai đoạn kiểm tra.
Phương pháp GMM hai bước cũng được Tan và Floros (2012a) sử dụng để
kiểm tra tác động của lạm phát đối với khả năng sinh lời của ngân hàng ở Trung Quốc
14
trong giai đoạn 2003-2009. Kết quả của họ cho thấy rằng các ngân hàng Trung Quốc
với mức độ đa dạng hóa, chi phí đầu tư và mức thuế thấp hơn có lợi nhuận cao hơn;
nghiên cứu này cũng cho thấy rằng thị trường ngân hàng và thị trường chứng khoán
phát triển cao hơn dẫn đến cải thiện lợi nhuận trong các NHTM Trung Quốc. Cuối
cùng, kết quả cho thấy các ngân hàng NHTM Trung Quốc có lợi nhuận cao hơn trong
môi trường lạm phát cao.
Tan và Floros (2012b) sử dụng phương pháp ước lượng hệ thống GMM một
bước để kiểm tra tác động của tăng trưởng GDP đến khả năng sinh lời của ngân hàng
ở Trung Quốc trong giai đoạn 2003-2009. Phát hiện của họ cho thấy rằng các NHTM
Trung Quốc có lợi nhuận thấp hơn trong giai đoạn bùng nổ kinh tế (tốc độ tăng trưởng
GDP cao hơn).
Tan và Floros (2012c) nghiên cứu tác động của biến động thị trường chứng
khoán đến hiệu suất ngân hàng ở Trung Quốc trong giai đoạn 2003-2009. Kết quả
của họ cho thấy các NHTM quốc doanh và TMCP có mức thuế cao hơn ROE thấp
hơn, các ngân hàng TMCP có mức vốn hóa cao hơn thì ROE thấp hơn. Ngoài ra, bài
Goaied (2008) xem xét tác động của đặc điểm ngân hàng, cơ cấu tài chính và điều
kiện kinh tế vĩ mô đến lợi nhuận của các ngân hàng Tunisia trong giai đoạn 1980 đến
2000. Cho rằng các ngân hàng nắm giữ một lượng vốn khá cao thường có mức sinh
lời cao hơn, trong khi quy mô có mối liên hệ tiêu cực với khả năng sinh lời của ngân
hàng.
Molyneux và Thornton (1992) xem xét khả năng sinh lời của khu vực ngân
hàng ở các quốc gia khác nhau. Lấy khoảng 18 dữ liệu của các nước châu Âu trong
giai đoạn 1986-1989. Bài nghiên cứu này tìm thấy mối quan hệ tích cực đáng kể giữa
lợi nhuận và mức lãi suất, tập trung ngân hàng và quyền sở hữu của chính phủ trong
quá trình nghiên cứu.
Demirguc-Kunt và Maksimovic (1998) đã xác định mối quan hệ tích cực giữa
quy mô và lợi nhuận. Họ nhận thấy rằng vốn chủ sở hữu cao hơn có thể dễ dàng đáp
ứng thanh khoản, có thêm tiền để cho vay làm tăng lợi nhuận của ngân hàng.
Havrylchyk et al. (2006) tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa vốn và lợi nhuận của các
16
ngân hàng. Một ngân hàng hiệu quả hơn nên có lợi nhuận cao hơn vì nó có thể tối đa
hóa thu nhập lãi ròng của mình.
Miller và Noulas (1997) tìm thấy mối quan hệ tiêu cực giữa rủi ro tín dụng và
lợi nhuận. Cho thấy rằng rủi ro cao liên quan đến các khoản vay gây khó khăn trong
việc tối đa hóa lợi nhuận của một ngân hàng.
Demirguc-Kunt & Huizinga (2001) và Bikker and Hu (2002) tìm thấy mối
quan hệ tiêu cực giữa vốn hóa thị trường chứng khoán và khả năng sinh lời của ngân
hàng.
Naceur và Goaied (2001) tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân
hàng Tunisia trong giai đoạn 1980-1995. Bài nghiên cứu cho thấy rằng các ngân hàng
phát triển tốt nhất là các ngân hàng có năng suất lao động và năng suất vốn tốt hơn,
có danh mục tiền gửi cao so với tổng tài sản và có vốn chủ sở hữu cao.
thập từ BCTC 22 NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2006-2015. Tác giả sử dụng phân
tích mô hình hồi quy nhằm nhận diện các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến ROA và
ROE của các NHTMCP Việt Nam . Kết quả cho thấy rằng cho thu nhập phi lãi trên
tài sản, vay trên tổng tài sản, dự phòng rủi ro tín dụng trên cho vay, chi phí trả lãi trên
nợ phải trả ảnh hưởng cùng chiều với khả năng sinh lời của ngân hàng. Trong khi đó,
nợ xấu, chi phí hoạt động trên thu nhập và quy mô hội đồng thành viên có tương quan
nghịch với khả năng sinh lời. Nghiên cứu chưa tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống
kê về ảnh hưởng của các biến đại diện cho quản trị rủi ro thanh khoản, cấu trúc nguồn
vốn, kiểm soát chi phí và quy mô.
Lê Long Hậu & Phạm Xuân Quỳnh (2017) nghiên cứu mối quan hệ giữa thu
nhập ngoài lãi và hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Sử dụng dữ liệu từ
báo cáo tài chính của 26 NHTM Việt Nam giai đoạn 2006 - 2016. Kết quả ước lượng
dữ liệu bảng bằng 2 mô hình (mô hình tác động cố định FEM và mô hình tác động
ngẫu nhiên REM), cho thấy thu nhập ngoài lãi có mối tương quan cùng chiều với hiệu
quả kinh doanh và hiệu quả kinh doanh có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng, khả năng
sinh lời tăng nếu tăng thu nhập từ các hoạt động dịch vụ, đầu tư, kinh doanh. Bên
cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hiệu quả kinh doanh của các NHTM bị
18
tác động bởi các yếu tố nội tại ngân hàng như tỷ lệ dư nợ cho vay, tỷ lệ vốn chủ sở
hữu, tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ lệ tiền gửi khách hàng, và các yếu tố vĩ mô như tăng
trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát.
Nguyễn Hữu Tài & Nguyễn Thu Nga (2017), nghiên cứu tác động của rủi ro
tín dụng đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng từ cách tiếp cận phi tham số. Thu thập
các dữ liệu từ 30 NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn 2009-2015, xây dựng mô hình
đánh giá hiệu quả kinh doanh ngân hàng bao gồm và không bao gồm biến rủi ro tín
dụng như một biến đầu vào của quá trình kinh doanh, với giả định hiệu quả thay đổi
theo quy mô; tương ứng với các biến số trong mô hình; sử dụng phần mềm DEAP