Giáo dục giới tính cho học sinh khối 8 trường THCS đông hải về giữ gìn vệ sinh cơ thể và quan hệ bạn bè trong tuổi dậy thì - Pdf 53

MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu.
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
3. Giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
3.1 Phương pháp trần thuật
3.2 Phương pháp giảng giải
3.3 Phương pháp vấn đáp
3.4 Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan
3.5 Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ
3.6 Phương pháp dạy học đặt vấn đề và giải quyết vấn đề
3.7 Phương pháp giao cho học sinh làm các bài tập ở nhà
3.8 Giáo viên lồng ghép giáo dục cho học sinh về quan hệ bạn bè
trong tuổi dậy thì khi dạy sinh học 8 và đặc biệt là chương sinh sản.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận.
2. Kiến nghị.

I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.

1
1
1

đổi, đôi điều rắc rối, những nỗi băn khoăn tưởng như không ai giải đáp được.
Rắc rối vậy mà biết mấy tự hào, bởi mình đang lớn lên, đang trưởng thành.
Do không hiểu biết rõ và tâm lí muốn làm người lớn, học sinh THCS nói
chung và ngay chính tại địa bàn phường Đông Hải, với những học trò cũ của
trườngTHCS Đông Hải nói riêng, mấy năm về trước cũng đã có vài trường hợp
học sinh vừa học hết cấp 2 đã phải nghỉ học , lập gia đình và sinh con do đã có
bầu ở tuổi vị thành niên.
Vì thế việc “Giáo dục giới tính cho học sinh khối 8 trường THCS Đông
Hải về giữ gìn vệ sinh cơ thể và quan hệ bạn bè trong tuổi dậy thì” là một việc
vô cùng quan trọng, nó không chỉ giúp các em có cái nhìn rõ ràng hơn về cơ thể
mà qua đó còn biết cách bảo vệ cơ thể và có những mối quan hệ bạn bè trong
sáng hơn, lành mạnh hơn.
Với kinh nghiệm qua nhiều năm dạy bộ môn Sinh học lớp 8, để góp phần
giáo dục học sinh tôi mạnh dạn đưa ra một ý kiến rút ra được trong suốt quá
trình dạy học Sinh học 8 là: “Giáo dục giới tính cho học sinh khối 8 trường
THCS Đông Hải về giữ gìn vệ sinh cơ thể và quan hệ bạn bè trong tuổi dậy thì”
2. Mục đích nghiên cứu.
Trang bị cho học sinh phát triển toàn diện, có tri thức, có đạo đức, sức
khỏe, thẩm mỹ, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng
lực và các kỹ năng sống cần thiết, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục hiện
nay.
Phân loại các loại bài dạy trong chương trình sinh học 8 có thể lồng ghép
“Giáo dục giới tính cho học sinh khối 8 trường THCS Đông Hải về giữ gìn vệ
sinh cơ thể và quan hệ bạn bè trong tuổi dậy thì”. Nhằm định hướng cho HS
hiểu và ý thức được một số vấn đề về giới tính đang được quan tâm hiện nay, có
liên quan trực tiếp tới quá trình dạy và học môn Sinh học ở trường THCS.
Giúp học sinh ham mê, yêu thích bộ môn sinh học.
Học sinh biết được các khái niệm: tuổi dậy thì, hiện tượng xuất tinh, hiện
tượng kinh nguyệt, thụ tinh và thụ thai.
Trang bị cho các em biết cách giữ vệ sinh ở tuổi dậy thì, biết cách giữ mối

3


1. Cơ sở lý luận.
“Giáo dục giới tính cho học sinh về giữ gìn vệ sinh cơ thể và quan hệ bạn
bè trong tuổi dậy thì”- khả năng đáp ứng của bộ môn sinh học, đặc biệt sinh học
8 đối với đề tài này là rất lớn, tin tưởng đội ngũ giáo viên của chúng ta có thể
tiếp cận và thực hiện được.
Thực tế việc giáo dục toàn diện cho học sinh, trong đó có “Giáo dục giới
tính cho học sinh về giữ gìn vệ sinh cơ thể và quan hệ bạn bè trong tuổi dậy thì”
ở nước ta còn hạn chế và gặp không ít khó khăn như: giáo viên bộ môn với 45
phút phải lo chuyển tải các nội dung bài dạy, phương tiện dạy học bộ môn sinh
học ở nhiều nơi còn thiếu và không đồng bộ. Trong thời gian qua nhiệm vụ này
được xem là của giáo viên chủ nhiệm. Trong khi đó giáo viên chủ nhiệm cả tuần
cũng chỉ có một tiết sinh hoạt lớp. Thầy cô giáo chủ nhiệm được giao phụ trách
học sinh nhưng không có thời gian nắm tình hình của từng em ...
Chính vì vậy mà tôi mạnh dạn đưa ra vấn đề : “Giáo dục giới tính cho học
sinh khối 8 trường THCS Đông Hải về giữ gìn vệ sinh cơ thể và quan hệ bạn
bè trong tuổi dậy thì” nhằm góp phần nhỏ bé vào công cuộc phát triển toàn diện
cho học sinh.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
a. Khái quát về chức trách, nhiệm vụ được giao.
Bản thân nhiều năm liền được nhà trường phân công giảng dạy bộ môn
sinh nhất là sinh học 8, nên việc lồng ghép “Giáo dục giới tính cho học sinh
khối 8 trường THCS Đông Hải về giữ gìn vệ sinh cơ thể và quan hệ bạn bè
trong tuổi dậy thì” vào bộ môn sinh học có nhiều thuận lợi thu được nhiều thành
quả quan trọng.
b. Thuận lợi - khó khăn.
Thuận lợi:
Bộ môn sinh học 8 nghiên cứu về con người với các đặc điểm tiến hóa vượt

kỹ năng sống, tâm huyết, yêu ngành, yêu trẻ, hết lòng vì học sinh thân yêu.
Trong chương trình sinh 8, nội dung xuyên suốt nói về cơ thể con người thật
gần gũi nhưng thật hết sức bí ẩn và thú vị, dễ lồng ghép “Giáo dục giới tính cho
học sinh khối 8 về giữ gìn vệ sinh cơ thể và quan hệ bạn bè trong tuổi dậy thì”,
kích thích hứng thú học tập cho học sinh.
Học sinh thuộc địa bàn còn tương đối khó khăn, năng lực nhận thức hạn chế,
vận dụng chưa cao, kiến thức xã hội yếu, nên đòi hỏi giáo viên ngoài việc giảng
dạy kiến thức cho các em, kết hợp lồng ghép “Giáo dục giới tính cho học sinh
khối 8 trường THCS Đông Hải về giữ gìn vệ sinh cơ thể và quan hệ bạn bè
trong tuổi dậy thì” thông qua bộ môn sinh học 8 đòi hỏi phải khéo léo, kiên trì,
có kinh nghiệm, am hiểu tình hình địa phương.
Đời sống của bà con tương đối nghèo nàn, trình độ dân trí thấp, nhận thức
của nhân dân còn hạn chế, nhiều gia đình ít quan tâm đến việc học của con em
làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giảng dạy và giáo dục học sinh.
d. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra.
Được sự quan tâm đầu tư của các cấp ủy đảng, của ngành giáo dục của các
nhà trường đối với công tác giảng dạy bộ môn sinh học ở trường phổ thông nói
chung với việc lồng ghép giáo dục giới tính cho học sinh thông qua chương trình
sinh học 8 nói riêng.
Giáo viên đã phân loại kiến thức giáo dục giới tính dựa vào nội dung bài
học, khả năng nhận thức của các em từ đó đưa ra những phương pháp dạy học
kết hợp lồng ghép giáo dục giới tính cụ thể cho từng bài hiệu quả .
Sử dụng các phương pháp dạy học theo hướng tích cực. Khơi gợi được tính
thích khám phá, say mê nghiên cứu của các em.
Các em ngoài việc lĩnh hội được trọn vẹn kiến thức về sinh học người trong
chương trình sinh học 8 một cách vững chắc mà còn cơ bản hình thành và phát
triển được các kỹ năng nắm bắt, hiểu, vận dụng và xử lý được các kiến thức đó
vào cuộc sống, vào việc vệ sinh cơ thể, tránh xa các tác động xấu ảnh hưởng đến
học tập và tương lai của các em.
Trang thiết bị, phục vụ cho công tác dạy còn khó khăn từng bước được đầu

Lớp Sĩ số
SL
TL% SL
TL% SL
TL% SL
TL%
33
0
0%
10
30,3% 18
54,5% 5
15,2%
8A
Kết quả về chất lượng giáo dục kỹ năng sống:
Năm học
Tự tin vào bản thân
Xử lý tốt tình huống
trong cuộc sống
2014-2015(chưa lồng ghép
35%
25%
giáo dục giới tính)
3. Giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề.
Nội dung “Giáo dục giới tính” được tích hợp trong các nội dung của các bài
học đặc biệt là chương sinh sản, nên các phương pháp “Giáo dục giới tính” cũng
được tích hợp vào các phương pháp giảng dạy bộ môn. Tuy nhiên, muốn đạt
được mục tiêu của “Giáo dục giới tính” là không chỉ giúp cho người học có kiến
thức mà phải hình thành cho họ sự quan tâm, có hành vi đúng với bản thân, với
quan hệ bạn bè, nên không chỉ đừng lại ở phương pháp dạy truyền thống mà nên

trứng không được thụ tinh và cũng là hiện tượng sinh lý bình thường, đánh dấu
tuổi dậy thì chính thức ở người con gái, tuổi đã có khả năng sinh con.
* Thụ tinh –Thụ thai:
Nếu trứng gặp được tinh trùng trong ống dẫn trứng ( ở 1/3 phía ngoài), sẽ
xảy ra sự thụ tinh để tạo thành hợp tử. Hợp tử phân chia và bám vào lớp niêm
mạc tử cung đã được chuẩn bị sẵn để làm tổ và phát triển thành thai gọi là sự thụ
thai.
3.2. Phương pháp giảng giải.
Đây cũng là phương pháp dùng lời nói, thường sử dụng khi giải thích các
vấn đề. GV nêu ra các dẫn chứng để làm rõ những kiến thức mới và khó về giới
tính.
VD: Khi nói về cấu tạo cơ quan sinh dục nam: Giáo viên có thể giải thích
cho học sinh vị trí của tinh hoàn là nằm ngoài cơ thể vì việc sản xuất tinh trùng
tại ống sinh tinh cần nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ cơ thể (330C– 340C).
3.3. Phương pháp vấn đáp.
Trong phương pháp này GV đưa ra câu hỏi, HS trả lời, cũng có khi HS hỏi
GV trả lời hoặc giữa HS và HS…
Ví dụ: Các biện pháp giữ gìn vệ sinh cơ thể trong tuổi dậy thì:
1/ Đối với nam giới:
+ Hỏi: Tuổi dậy thì của nam giới xuất hiện ở lứa tuổi nào?
+ Đáp: Khoảng 11 – 12 tuổi.
+ Hỏi: Dấu hiệu nào đánh dấu dậy thì chính thức ở nam?
+ Đáp: Xuất tinh lần đầu. Quanh quy đầu là nơi đọng các chất dịch sinh
dục, vài giọt nước tiểu, mồ hôi. Cần giữ gìn vệ sinh: kéo bao quy đầu ra sau, rửa
sạch sẽ bằng nước sạch và xà phòng tắm diệt khuẩn.
* Giảng giải: Ngoài ra còn có những dấu hiệu khác:
- Lớn nhanh, cao vượt, cơ bắp phát triển, vai rộng ngực nở. Chọn quần áo
kích cở phù hợp với cơ thể.
7


nam nên thường xuyên vệ sinh, nếu không tốt gây ra các bệnh về da liễu hay là
nơi trú ẩn của những vi khuẩn gây bệnh.
- Bộ phận sinh dục và vú phát triển. Phải chọn và mặc quần áo lót phù hợp
với cơ thể đồng thời phải kín đáo và không gây khó chịu cho cơ thể.
Trong thời gian dậy thì cả nam và nữ đều có hiện tượng xuất hiện mụn
trứng cá. Đó là vì các tuyến nhờn bên dưới da tăng cường hoạt động, đào thải
nhiều qua da. Khi một chút bã nhờn không thoát khỏi mặt da nó dần dần tích lại
thành một “cục” nhỏ màu trắng trắng vàng vàng, chính là trứng cá. Không nên
nặn mụn, vì nặn khiến mụn lan ra. Còn nếu “không thể dừng được” bạn chỉ nặn
các nốt “đã chín” và dễ nặn. Trước khi nặn nên rửa tay sạch để tránh gây nhiễm
trùng. Nên ăn nhiều rau, quả, thức ăn nhiều chất xơ giúp bài tiết dễ dàng, uống
nhiều nước; cũng nên rửa mặt sạch sẽ, chà xát mặt nhẹ nhàng giúp máu lưu
thông, nhưng chớ rửa quá nhiều khiến da mặt khô, các tuyến tiết thêm chất
nhờn, có thể làm trứng cá nặng thêm.
Ngoài ra, trong thời gian này cả nam và nữ thường mắc một chứng “bệnh”
mà dễ bị người khác phát hiện nhất, đó là bệnh hôi nách. Thực ra đây không
8


phải là bệnh gì, mà cũng có cách xử lý được. Dậy thì làm cho các tuyến mồ hôi
tăng cường hoạt động, nách ẩm ướt hơn. Mùi ở nách là do các vi khuẩn phân
hủy mồ hôi này. Mỗi người một mùi, có người coi là đặc điểm nhận dạng, là sự
hấp dẫn riêng. Nhưng cũng có bạn thấy mùi hôi khó chịu. Bạn có thể giảm mùi
bằng cách mặc áo vải cô-tông thấm ẩm và thoáng khí để mồ hôi dễ bay hơi và
quan trọng là tắm rửa, thay quần áo thường xuyên thì nách không kịp hôi. Có
bạn dùng chanh hoặc phèn chua xát vào nách sau khi tắm thấy đỡ mùi hôi, bạn
thử xem. Ngoài ra còn có thể dùng thuốc khử mùi.
3.4. Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan.
Các phương tiện trực quan như: tranh ảnh, băng hình, phim ảnh... Đó là các
phương tiện rất hữu ích cho việc giảng dạy các kiến thức về giáo dục giới tính

10


11


Những ngôi mộ ảo dựng lên từ nỗi ăn năn của những người mẹ tuổi teen
Dù còn nguyên vẹn hay không các em vẫn có tên, ngày sinh ra cũng là
ngày mất.
*Em nghĩ như thế nào khi hiện nay số lượng trẻ em vị thành niên có
thai ngày càng nhiều?
HS: Đây là một hiện tượng xấu, cần phải tránh. Muốn vậy phải trang bị cho
bản thân mình kiến thức về sức khỏe sinh sản ở tuổi vị thành niên, tránh quan hệ
tình dục ở lứa tuổi này. Phải có ý thức bảo vệ, giữ gìn bản thân, đó là tiền để cho
cuộc sống sau này .
Thông tin bổ sung:
Hiện nay, hàng năm trên thế giới có khoảng 16 triệu trẻ em gái từ 15 – 19
tuổi sinh con, chiếm 10% tổng số trẻ em sinh ra trên toàn thế giới. Ở Việt Nam,
hằng năm ở lứa tuổi vị thành niên có khoảng 300000 trường hợp phá thai (chiếm
hơn 20% tổng số người nạo phá thai) và đang có chiều hướng gia tăng.

Từ đó GV có thể chốt về cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai:
1. Nguyên tắc tránh thai
- Ngăn trứng chín và rụng.
12


- Tránh không để tinh trùng gặp trứng.
- Chống sự làm tổ của trứng đã thụ tinh.
2. Biện pháp tránh thai

* Giải quyết vấn đề: - Đề xuất các giả thuyết.
- Lập kế hoạch giải.
- Thực hiện kế hoạch giải.
* Kết luận: - Thảo luận kết quả và đánh giá.
- Phát biểu kết luận.
- Đề xuất vấn đề mới.
Ví dụ: Bài “ Đại dịch AIDS: Thảm họa của loài người ”
• Tạo tình huống có vấn đề:
GV cho HS quan sát một số hình ảnh về con đường lây nhiễm HIV/AIDS
và yêu cầu HS nêu được các con đường lây nhiễm HIV/AIDS là gì?

* Giải quyết vấn đề: HS quan sát hình ảnh kết hợp hiểu biết thực tế nêu ra
các con đường lây nhiễm HIV/AIDS là:
- Qua đường máu.
- Quan hệ tình dục không an toàn.
- Lây từ mẹ sang con.
GV hướng dẫn HS thảo luận để bảo vệ giả thiết của mình, bác bỏ các giả
thiết khác.
Tiếp theo GV cho HS xem một số hình ảnh mà còn không ít người hiểu
nhầm là sẽ lây nhiễm HIV/AIDS:

Bắt tay
Tiếp xúc thông thường Dùngchung bát đĩa
*Kết luận:
+ Các con đường lây nhiễm HIV/AIDS là:
- Qua đường máu.

Muỗi đốt

14

Ở tuổi đang lớn này, giao lưu bạn bè rất phát triển, quan hệ mở rộng ra
nhiều. Bạn trẻ đang làm quen dần với cuộc sống xã hội, tập giao tiếp với mọi
người. Bạn bè trở thành một phần rất quan trọng trong cuộc sống.
1/ Quan hệ bạn bè rộng rãi và sâu sắc hơn:
Bạn trẻ chúng ta có một hình thức chơi bạn bè đặc biệt phổ biến đó là nhóm
bạn, hội bạn. Nhóm, hội có nhiều loại rất đa dạng, có thể là gần nhà nhau, cũng
có thể là “cùng chí hướng” như hóm học tập, hội đá bóng, hội âm nhạc,… Các
nhóm bạn chơi đóng vai trò quan trọng trên bước đường trưởng thành của mỗi
bạn trẻ, bởi đây là bước đầu ta tập hòa mình vào một tập thể, học tập ở các bạn
những đức tính tốt, học cách quan hệ và yêu quí mọi người. Nhóm bạn là nơi
nâng đỡ tinh thần, chia sẻ mọi vui buồn và giúp bạn trẻ tự tin hơn. Đôi khi “tinh
15


thần hội” trở thành cực đoan, phát triển thành hiện tượng “bè phái”, coi thường
các bạn ngoài hội một cách vô lý, gây đố kỵ giữa các nhóm bạn, đôi khi còn dẫn
đến xô xát.
2/ Ý thức về giới tính, những xao động tình cảm của tuổi mới lớn:
Đến tuổi này ý thức của chúng ta về giới tính trở nên rõ rệt hơn trước. Có
thể bạn chú ý hơn đến cách ăn mặc, kiểu đầu tóc sao cho đẹp trai, xinh gái.
Trong các cuộc chuyện trò, bạn thích bàn luận về giới kia. Ý thức về giới len lỏi
vào trong quan hệ bạn bè. Gán ghép bạn này với bạn khác là một trò đùa khá
được ưa chuộng, nhiều khi làm cho người bị gán ghép phải bối rối. Một số bạn ở
tuổi này bắt đầu để ý đến những bạn khác giới. Giữa đám đông bạn bè, có thể có
một bạn nào đó trở thành “đối tượng”, mà bạn hay nghĩ tới, thích lại gần. Đó là
những rung động trong sáng buổi ban đầu, có thể khiến bạn muốn hoàn thiện
mình để đẹp hơn trong mắt “người ta”. Sự hấp dẫn có thể khá mạnh mẽ, làm bạn
xúc động, nhưng bạn hãy tin rằng tình cảm lúc này phần nhiều là cảm tính, rồi
nó sẽ qua đi tự nhiên như nó đến vậy thôi. Tình cảm tuổi học trò rất đáng quý, ta
hãy nâng niu nó, nhưng hãy chờ đợi những tình cảm thật sự sâu sắc sau này.



nhiễm độc thai nghén (phù, huyết áp cao và nguy cơ sản giật) ảnh hưởng đến
tính mạng. Con của các bà mẹ đó thường thiếu cân và nguy cơ tử vong cao hơn
rất nhiều so với con của các bà mẹ đã trưởng thành.
4.2.2/ Về kinh tế và xã hội:
- Bị hạn chế cơ hội học tập.
- Ít cơ hội phát triển nghề nghiệp, khó tìm việc làm.
- Là gánh nặng về kinh tế cho bản thân và gia đình.
- Cha mẹ trẻ dễ bị ức chế, tự ti và tuyệt vọng, nhất là người mẹ.
- Con cái của cha mẹ vị thành niên dễ phải gánh chịu khó khăn về kinh tế,
tâm lí, xã hội.
4. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng
nghiệp và nhà trường.
Nhờ giáo dục giới tính thông qua bộ môn mà học sinh nắm được những kỹ
năng sống cơ bản. Trong từng tiết dạy nhờ giáo dục, uốn nắn, động viên, nhắc
nhở mà các em tiến bộ rõ rệt về kỹ năng giao tiếp. Cách xưng hô với bạn bè có
cải thiện, thân mật hơn. Mối quan hệ giữa thầy cô, bạn bè gần gũi hơn, thân thiết
hơn. Kỹ năng nói của các em cũng tiến bộ rõ nét. Các em không còn rụt rè, e
ngại khi học về giới tính hay cấu tạo cơ quan sinh dục nữa.
Hơn nữa các em đã biết giải thích những hiện tượng xảy ra chính trên cơ
thể mình, các em đã biết giữ vệ sinh thân thể, vệ sinh trường lớp, nhà cửa.
Không kì thị, xa lánh những người chẳng may bị bệnh HIV-AIDS.
Các em đã biết được những dấu hiệu thay đổi trên cơ thể ở độ tuổi dậy thì
giúp các em không phải hốt hoảng lo sợ khi thấy mình có dấu hiệu thay đổi bất
thường. Từ đó các em biết cách rèn luyện thân thể, các em nữ biết cách giữ vệ
sinh kinh nguyệt, phòng tránh các bệnh phụ khoa. Giúp các em nhận thức rõ về
giới từ đó tránh được các điều đáng tiếc xảy ra ở tuổi vị thành niên.
Đặc biệt kết quả khảo sát về ý thức, thái độ, trình độ nhận thức của học sinh
về giới tính, sức khỏe sinh sản, biện pháp giữ gìn vệ sinh cơ thể và quan hệ bạn bè

8A

33

Giỏi
SL
6

Khá
TL%
SL
18,18% 19

Trung bình
Yếu
TL%
SL
TL%
SL
57,58% 8
24,24% 0

TL%
0

17


Kết quả thu được về chất lượng giáo dục kỹ năng sống qua các năm ( lớp 8)
Năm học

2. Kiến nghị
Đối với Giáo viên:
Để lồng ghép giáo dục giới tính cho học sinh một cách có hiệu quả, người
thầy phải thực sự kiên trì, nhẫn nại, lòng yêu nghề, hết mình với học sinh, có
trách nhiệm cao trong công việc, không ngừng trau dồi kiến thức, kinh nghiệm..
chỉ có điều đó mới thật sự giúp người thầy hoàn thành tốt công việc, đồng thời
giúp các em yêu thích hơn, tích cực hơn trong từng tiết học.
Cần có sự đồng thuận cao của các thầy cô giáo ở tất cả các bộ môn.
Đối với nhà trường:
Tăng cường công tác dự giờ, thao giảng, hội giảng, sinh hoạt chuyên đề cấp
tổ, cấp trường dạy minh họa chuyên đề kỹ năng sống cho học sinh, nhằm trao
đổi kinh nghiệm nâng cao giáo dục giới tính, sức khỏe sinh sản cho các em
thông qua bộ môn nói chung và bộ môn sinh học 8 nói riêng.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

TP. Thanh Hóa, ngày 19 tháng 3 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Hàn Thị Hà
18


TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Trần Xuân Nhĩ (1983) Giải phẩu sinh lí người. NXB Giáo dục, Hà Nội
2. Tạ Thuý Lan, Võ Văn Toàn (2002). Một số vấn đề về sinh lí sinh dục và
sinh sản. NXB ĐHQG Hà Nội.
3. Nguyễn Quang Vinh, Trần xuân Nhĩ (1987). Giải phẫu sinh lí người. NXB
Giáo dục, Hà Nội
4. Nguyễn Quang Vinh, Trần Đăng Cát, Đỗ Mạnh Hùng. Sinh học 8, NXB
Giáo dục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status