Một số biện pháp giúp học sinh lớp 9 rèn luyện kỹ năng làm bài nghị luận xã hội về một vấn đề tư tưởng đạo lý góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn ngữ văn - Pdf 53

1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Cùng với các môn học khác trong nhà trường môn Ngữ văn có vai trò
quan trọng giáo dục tư tưởng tình cảm cho học sinh. Nhà văn hào Nga Mácxim
Gor-ki nói: “Học văn là học làm người” học sinh học tốt môn Ngữ văn sẽ có tác
động tốt đến việc học các môn khác và ngược lại. Chương trình đã nêu rất rõ
mục tiêu tổng quát của môn Ngữ văn: “Môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt quan
trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường THCS, góp phần hình
thành những con người có trình độ học vấn phổ thông cơ sở”.[1] Môn Ngữ văn
luôn luôn là phương tiện, là người bạn tốt trên đường đời của mỗi học sinh, giúp
các em sống tốt hơn, đẹp hơn.
Dạy môn Ngữ văn không chỉ đơn thuần là trang bị kiến thức làm nền tảng,
cơ sở đề các em học sinh bước vào đời, tiếp xúc với xã hội hoặc tiếp tục học lên
cao hơn; học văn các em sẽ hoàn thiện hơn về phẩm chất đạo đức hướng tới
“chân, thiện, mỹ”. Sản phẩm thu được trong quá trình dạy không chỉ là hệ thống
kiến thức mà các em còn được bồi đắp về tâm hồn, hình thành kĩ năng, vốn sống
cho học sinh. Rèn luyện văn nghị luận xã hội giúp học sinh không chỉ hoàn thiện
kĩ năng trình bày quan điểm của mình, mà còn cung cấp tri thức vô cùng phong
phú về những vấn đề xã hội, để các em có những hiểu biết về những vấn đề xã
hội đã và đang diễn ra trong cuộc sống của chúng ta.
Để đảm bảo được chức năng này văn nghị luận có một vai trò đặc biệt.Cũng
chính vì thế mà được chú trọng rèn luyện cho học sinh. Xuất phát từ tầm quan
trong ấy Văn nghị luận được đưa vào chương trình trở thành tiêu chí đánh giá
đối với học sinh không chỉ trong những bài kiểm tra, thi học sinh giỏi, thi vào
lớp 10 và ngay cả thi tốt nghiệp THPT rồi đến kì thi Đại học. Hơn thế nữa nếu
học sinh không có nguyện vọng học tiếp thì những kiến thức học từ văn nghị
luận sẽ là một hành trang quý giá cung cấp kiến thức, kĩ năng mọi mặt đời sống
cho học sinh giúp các em ứng xử giao tiếp trong cuộc sống. Song có thể thấy
một mâu thuẫn trong quá trình dạy học là hoc sinh quá quen với tư duy văn học ,
Các em chỉ nhạy bén với những vấn đề gần gũi đặc biệt là các hiện tượng liên
quan đến các em. Còn việc rèn luyện kĩ năng vốn sống bồi dưỡng tư tưởng tình

các em có những hiểu biết về những vấn đề xã hội đã và đang diễn ra trong cuộc
sống của chúng ta.
Kiểu bài nghị luận xã hội, học sinh cần làm rõ vấn đề nghị luận, sau đó
mới đi vào đánh giá, bình luận, rút ra bài học cho bản thân. Thực tế cho thấy
nhiều học sinh mới chỉ dừng lại ở việc làm rõ vấn đề nghị luận mà coi nhẹ khâu
thứ hai, vẫn coi là phần trọng tâm của bài nghị luận...Vì những yêu cầu trên mà
việc rèn luyện giúp cho học sinh có kĩ năng làm tốt một bài văn nghị luận xã hội
là một việc làm rất cần thiết. Qua đó, giúp các em mở rộng vốn sống rèn luyện
tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẫm mỹ, từ đó hình thành và phát triển
nhân cách cho các em.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Sáng kiến tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
Đề tài nghiên cứu: nghị luận xã hội về một vấn đề tư tưởng, đạo lí
Nghiên cứu đề tài giúp học sinh nắm được một số biện pháp nâng cao kỹ
năng làm bài văn nghị luận xã hội về một vấn đề tư tưởng, đạo lí.
Đối tượng áp dụng: học sinh lớp 9 trường TH &THCS Thiệu Minh,
Thiệu Hóa
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài bản thân tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
- Nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết về văn nghị luận.
- Điều tra, vấn đáp khảo sát tình hình thực tế về viết kĩ năng viết văn nghị
luận ở học sinh.
- Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, số liệu.
- Phương pháp thực nghiệm.

2


2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

đoạn văn ngắn đến bài văn ngắn. Với từng kiểu bài cần đưa ra những vấn đề
trong quá trình dạy để học sinh biết cách nhận diện bài và liên hệ thực tế cho
đúng yêu cầu.
2.1.4. Các bước làm văn nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý
Được rèn kĩ năng qua 4 bước:
Bước 1: Tìm hiểu đề và tìm ý: Tức là tìm hiểu dạng nghị luận, đối tượng
nghị luận, phạm vi nghị luận. Tìm ý: là thao tác đặt câu hỏi để tìm các luận điểm
chính: câu hỏi để giải nghĩa, câu hỏi bàn luận, câu hỏi tìm bài học nhận thức.
Bước 2: Lập dàn bài: Phần mở bài phải dẫn dắt và nêu vấn đề nghị luận.
Phân thân bài: Chủ yếu làm rõ 3 ý : Tìm ra tư tưởng đạo lý. Bàn luận về tư
tưởng đạo lý. Bài học nhận thức được rút ra.
Bước 3:Viết bài: Triển khai các ý ở phần mở bài, thân bài kết bài thành
các đoạn văn đảm bảo rõ luận điểm và liên kết.
3


Bước 4: Đọc và sửa chữa: Sửa chữa các lỗi nhỏ như chỉnh tả, liển kết câu
2.1.5. Cách làm nghi luận về một vấn đề tưởng đạo lý.
Ở kiểu bài nghị luận xã hội về tư tưởng, đạo lí, học sinh qua những trải
nghiệm của bản thân, trình bày những hiểu biết, ý kiến, quan niệm, cách đánh
giá, thái độ...của mình về các vấn đề xã hội, từ đó rút ra được bài học (nhận thức
và hành động) cho bản thân. Để làm tốt khâu này, học sinh không chỉ biết vận
dụng những thao tác cơ bản của bài văn nghị luận (như giải thích, phân tích,
chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ...) mà còn phải biết trang bị cho mình
kiến thức về đời sống xã hội. Bài văn nghị luận xã hội nhất thiết phải có dẫn
chứng thực tế. Cần tránh tình trạng hoặc không có dẫn chứng hoặc lạm dụng dẫn
chứng mà bỏ qua các bước đi khác của quá trình lập luận.
Mặt khác với kiểu bài nghị luận xã hội về tư tưởng, đạo lí, học sinh cần
làm rõ vấn đề nghị luận, sau đó mới đi vào đánh giá, bình luận, rút ra bài học
cho bản thân. Thực tế cho thấy nhiều học sinh mới chỉ dừng lại ở việc làm rõ

%
SL
%
9
31
1
3.2
5
16.1
18
58.1
7
22,6
Từ bảng số liệu trên có thể nhận thấy thực trạng trong quá trình dạy và học
của giáo viên và học sinh đó là:
Giáo viên dạy: Dạy Tập làm văn thường khô và khó nên tâm lý giáo viên
không đầu tư vào phân môn này. Giáo viên đã có ý thức ra bài tập rèn luyện kĩ
năng làm văn cho học sinh tuy nhiên hệ thống bài tập chưa nhiều, đôi khi chưa
cung cấp đầy đủ cách làm các dạng văn nghị luận dẫn đến học sinh lúng túng
khi xác định hệ thống luận điểm.
4


Về phía học sinh học: Những năm gần đây học sinh có xu thế ngại học văn,
sợ học văn hầu hết các em không hứng thú với việc học văn mà chủ yếu thiên về
các môn tự nhiên dẫn đến kĩ năng làm văn của nhiều học sinh còn hạn chế nên
khi viết bài văn về một vấn đề tư tưởng đạo lý các em thường lúng túng, diễn đạt
chung chung, sơ sài chưa thể hiện được những suy nghĩ của mình trước một hiện
tượng đời sống, thậm chí không có bố cục của bài Tập làm văn, nghĩa là các em
chưa biết cách trình bày suy nghĩ của mình về vấn đề tư tưởng đạo lý. Từ đó các

* Cách kiểm tra:
- Sử dụng kĩ thuật điền khuyết để kiểm tra khái niệm
Gv dùng bảng phụ hoặc máy chiếu sẵn ngữ liệu khuyết để học sinh điền khuyết.
VD: Hãy điền vào chỗ trống để hoàn thành khái niệm dưới đây:
“ Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí là............. về một vấn đề thuộc
lĩnh vực .....có ý nghĩa quan trọng đối .........”
- Dùng kĩ thuật ghép đôi để kiểm tra những yêu cầu làm bài nghị luận:
5


VD: Em hãy nối cột A với nội dung của cột B sao cho phù hợp để
thể hiện những yêu cầu khi làm bài nghị luận về vấn đề tư
tưởng đạo lí:
Cột A
Cột B
Nội dung
Rõ ràng, sinh động.
Hình thức
Làm sáng tỏ các vấn đề tư tưởng đạo lí bằng cách giải thích,
chứng minh, so sánh, đối chiếu, phân tích...để chỉ ra chỗ đúng
(hay chỗ sai) của một tư tưởng nào đó nhằm khẳng định tư
tưởng của người viết
Lời văn
Bài văn phải có bố cục 3 phần rõ ràng, luận điểm đúng đắn, lập
luận chặt chẽ, mạch lạc
* Cách hệ thống lí thuyết về bài nghị luận về tư tưởng đạo lí
Sau khi kiểm tra xong kiến thức GV sẽ dùng hệ thống kiến thức bằng cách sử
dụng kĩ thuật “Trình bày 1 phút”. Để hệ thống toàn bộ lí thuyết về làm văn nghị
luận GV đặt câu hỏi khái quát để HS trả lời 1 phút.
VD: Thế nào là văn nghị luận? Bài nghị luận cần nắm vững những yêu cầu

hoặc sờ được.
chân lý ( danh ngôn, châm
ngôn tục ngữ), cũng có thể
là vấn đề bức xúc cập nhật
do cuộc sống hiện đại đặt ra
6


VD: Suy nghĩ của em về ô
nhiễm môi trường hiện nay.
Tình trạng nghiện điện tử ở lứa
tuổi học đường…
Phương pháp Xuất phát từ hiện tượng sau đó
lập luận
phân tích các biểu hiện nguyên
nhân, biện pháp-> Rồi lại rút ra
ý kiến người viết được khái quát
thành chân lý.
Ví dụ : Từ việc chỉ ra
hiện tượng rác thải, phân tích
nguyên nhân, mặt hại, ý kiên,
người viết phải đưa ra nhận thức
hành động về tư tưởng tốt đẹp
đó là thói quen văn minh văn
hóa trong cộng đồng
Định hướng Theo các ý: Biểu hiện, nguyên
khi làm bài
nhân, tác dụng/ tác hại, biện
pháp


luận sau đó cũng sai. Trong quá trình hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề giáo viên
cũng chỉ nhắc nhở chung chung các em đọc kĩ đề nhưng chưa có cách thức hay
một con đường dễ nhát cho các em tìm hiểu. Cách làm của bản thân giúp học
sinh nhận diện như sau:
Cách 1 : Tìm hiểu đề thể hiện ở nội dung nghị luận
Những vấn đề tư tưởng đạo lý hết sức phong phú và đa dạng. Học sinh rất dễ
nhầm lẫn và khó xác định. Nên trong quá trình dạy đặc biệt là các bài mở đầu tôi
thường quy về các dạng nội dung nghị luận và đặt câu hỏi Đề thuộc dạng đề gì?
Vấn đề nhận thức :lí tưởng, mục đích sống, nghề nghiệp, ước mơ
Vấn đề đạo đức, tâm hồn, tính cách : Lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha,
bao dung độ lượng, tính trung thực dũng cảm chăm chỉ, cần cù, thái độ hòa nhã,
khiêm tốn, thói ích kỉ, ba hoa, vụ lợi.
Vấn đề về quan hệ gia đình: tình mẫu tử, tình phụ tử, tình anh em.
Vấn đề về quan hệ xã hội: tình đồng bào, tình thầy trồ, tình bạn.
Vấn đề về cách ứng xử, đối nhân xử thế của con người trong cuộc sống
7


Với cách làm này học sinh có thể dễ dàng nhận diện các nội dung nghi luận
trong từng đề.
Cách 2 : Tìm hiểu đề thể hiện trong dạng thức đề thi:
Dạng thức đề thi được thể hiện ở mệnh lệnh làm bài. Khi cho học sinh
tiếp xúc với đề tôi luôn nhắc nhở các em xác định yêu cầu của đề bởi:
Có đề thể hiện rõ yêu cầu nghị luận, có đề chỉ đưa ra yêu cầu nghị luận
mà không đưa ra một yêu cầu cụ thể nào.
Có đề nêu trực tiếp vấn đề nghị luận, có đề gián tiếp đưa ra vấn đề nghị
luận qua một câu danh ngôn, một câu ngạn ngữ, một câu chuyện...Chú ý các
bước cơ bản của bài văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí. Đây cũng là trình tự
thể hiện hệ thống lập luận trong bài viết. Học sinh cần tranh thủ những hướng
dẫn quan trọng trong sách giáo khoa để nắm chắc kĩ năng làm bài như ở trên.

Tùy thuộc vào mỗi dạng đề bài để có dàn ý khái quát cho phù hợp.rèn luyện khả
năng ghi nhớ cho học sinh bằng cách đặt ghi nhớ cho các phần.[1]
8


Mở bài
- Giới thiệu về tư tưởng đạo lý
Đặt từ khóa cho 3 phần theo kết cấu của bài văn, như sau: phần mở bài gồm
có 3 ý: Gợi - Đưa - Báo
+ Gợi: là Gợi ý ra vấn đề cần nghị luận.
+ Đưa: sau khi gợi thì Đưa vấn đề cần nghị luận ra.
+ Báo: là Báo phải làm gì về vấn đề đưa ra nghị luận.
Thân bài:
Giải nghĩa- nhận xét đánh giá- bài học nhận thức
Thực chất là một tập hợp các đoạn văn nhỏ nhằm giải quyết một vấn đề
chung. Để tìm ý cho phần thân bài thì ta có thể dùng công thức sau đây để đặt
câu hỏi nhằm tìm ý càng nhiều, càng dồi dào thì càng tốt.
Giải – Phân – Bác- Đánh
)+ Giải: Giải thích rõ nội dung tư tưởng, đạo lí (bằng cách giải thích các từ
ngữ, khái niệm...)
+ Phân: Phân tích các mặt đúng của tư tưởng đạo lí (dúng dẫn chứng cuộc
sống và văn học để chứng minh.
+ Bác: Bác bỏ những biểu hiện sai lệch liên quan đến tư tưởng đạo lí (Dùng
dẫn chứng từ cuộc sống và và văn học để chứng minh)
+ Đánh: Đánh giá ý nghĩa tư tưởng, đạo lí đã nghị luận
Kết bài: Theo công thức Tóm - Rút - Phấn
+ Tóm: Tóm tắt, khái quát lại vấn đề đã nghị luận.
+ Rút: Rút ra ý nghĩa, bài học từ vấn đề đã nghị luận
+ Phấn: Phấn đấu, bày tỏ thái độ của bản thân vấn đề tư tưởng đạo lý
Bước 4 Kĩ năng viết bài : Đây là bước cuối cùng đẻ học sinh hoàn thiện

- Giải thích: Khái niệm cần giải thích là tự tin: Tự tin là tin vào chính mình, vào
năng lực của bản thân trước mọi hoàn cảnh.
- Bàn luận
Đức tính tự tin: Nhưng con có tính người tự tin thường chủ động, bản lĩnh
trước mọi tình huống, luôn có ý thức khẳng định mình trước mọi người, tin ở
khả năng ở chính mình.
Sự tự tin giúp con người dễ đi đến thành công hơn tự tin thường là người
có khả năng giao tiếp tốt, có những quyết định nhạy bén sáng suốt, nắm bắt
được cơ hội cho mình. Thiếu tự tin là phần lớn nguyên nhân của sự thất bại.
Cần phân biệt tự tin với tự cao tự đại. Để tự tin con người phải có thái độ
cầu tiến, không ngưng học hỏi.Trái ngược với tự tin là tự ti.
Phê phán những con người tự cao tự đại, tự ti.
- Bài học nhận thức và hành động
Tự tin cần được rèn luyện từ những việc nhỏ nhất như phát biểu ý kiến xây dựng
bài, tha, gia các hoạt động tập thể... và được rèn luyện qua cả một quá trình.
Tuổi trẻ cần phải tích cực học tập, rèn luyện bồi đắpvới những gí trị đạo đức:
chân thành, trung thực, tự tin.
Kết bài: Khẳng định lại vai trò của tự tin
2.3.4.2. Dạng bài trong đó tư tưởng, đạo lí được nói tới một cách gián tiếp.
Ở dạng này vấn đề tư tưởng, đạo lí: xuất phát từ ngữ liệu - được ẩn trong
một câu danh ngôn, một câu ngạn ngữ, một câu chuyện, một văn bản ngắn. Xuất
xứ của một câu danh ngôn, ngạn ngữ, câu chuyện, văn bản ngắn này cũng rất đa
dạng: Trong sách giáo khoa, trên báo chí, trên internét, đặc biệt trong cuốn “Quà
tặng cuộc sống, cuộc sống quanh ta, bài học cuộc đời, hạnh phúc ở quanh ta...”.
Chính vì thế giáo viên cần hướng cho học sinh biết đọc tham khảo, kể cho các
em nghe những câu chuyện có liên quan, có nội dung thiết thực với các em hàng
ngày. Nhưng một thực tế cho thấy nếu giáo viên không có cách định hướng ngay
từ đầu cho các em thì học sinh sẽ xa vào phân tích câu chuyện, ý kiến hay câu
danh ngôn biến bài văn nghị luận thành bài văn phân tích. Khi làm bài cần chú ý
cách nói bóng bẩy, hình tượng thường xuất hiện trong những câu danh ngôn, tục

Với đề bài này có thể triển khai các kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý như sau
*Phân tích đề:
- Kiểu bài: Nghị luận xã hội (nghị luận về một vườn đề tư tưởng đạo lí)
- Nội dung nghị luận: tình yêu và lòng biết ơn mẹ.
- Phạm vi kiến thức: hiểu về ý thơ của Nguyến Duy, những hiểu biết và suy
nghĩ của cá nhân về tình mẹ trong cuộc sống của mỗi người.
* Tìm ý và lập dàn ý:
- Giải thích ý thơ của Nguyễn Duy và xác định vấn đề cần bàn luận
* Công lao của người mẹ với con là vô cùng lớn lao:
- Sữa nuôi phần xác: Nuôi dưỡng con về thể chất
- Hát nuôi phần hồn: Nuôi dưỡng con về tinh thần
* Lẽ phải ở đời là: Làm con phải yêu thương và thấm thía công ơn mẹ.
Vậy vấn đề bàn luận: Đạo làm con là yêu thương và biết ơn mẹ.
- Nội dung bàn luận:
- Khẳng định: Đạo làm con phải yêu thương, biết ơn mẹ là hoàn toàn đúng
đắn và mang tính nhân văn cao đẹp vì:
+ Mẹ là người trao cho con cuộc sống, đưa con đến với thế giới này.
+ Mẹ chắt lọc sự sống của thể chất mình cho con và chăm lo cho con bằng
tất cả tình yêu và đức hi sinh của mình.
+ Tình yêu và sự chăm lo của mẹ cho con bền bỉ, tận tuỵ và vị tha, vượt
mọi khoảng cách thời gian, không gian... không đòi hỏi đền đáp bao giờ....
- Những biểu hiện về tình yêu và lòng biết ơn của con với mẹ
+ Cảm nhận và thấm thía những khát vọng mẹ gửi gắm ở con.
+Cố gắng học tập và rèn luyện để thực hiện những khát vọng ấy của mẹ,
xứng đáng với tình yêu và sự hi sinh của mẹ.
11


+ Thương yêu và biết ơn mẹ bằng những việc làm cụ thể hàng ngày: giúp
đỡ việc gia đình, chăm sóc khi mẹ đau ốm, động viên an ủi mẹ khi mẹ buồn....

+ Suy nghĩ và việc làm của em bé là hoàn toàn đúng vì trong xã hội của chúng ta
có không ít những người gặp những hoàn cảnh khó khăn, hoặc éo le, bất hạnh.
Họ rất cần sự quan tâm, sẻ chia giúp đỡ của những người xung quanh để có cuộc
sống bình thường như bao người khác, để họ vươn lên vượt qua số phận (VD)
+ Tình yêu thương đó cần được thể hiện ra bằng những hành động cụ thể, thiết
thực.Ở đây việc làm của em bé tuy nhỏ nhưng ý nghĩa lại vô cùng lớn lao, chứng
tỏ em đã biết quan tâm và giúp đỡ các bạn xung quanh mình. Việc làm của em
đã đánh thức, khơi dậy ở mỗi chúng ta những tình cảm tương tự như vậy. (VD)
+ Tình yêu thương, lòng nhân ái là tình cảm tốt đẹp của người Việt Nam. Biết
yêu thương, quan tâm, chia sẻ với những người xung quanh, cuộc sống sẽ ngày
càng tốt đẹp hơn.
+ Phê phán thái độ thờ ơ, vô cảm trước nỗi bất hạnh, hoàn cảnh khó khăn của
người khác.
12


- Bài học nhận thức và hành động:
+ Xã hội của con người không thể thiếu tình yêu thương, nhất là khi chúng ta
gặp khó khăn, trở ngại trong cuộc sống. Hãy yêu thương tất cả mọi người và
bằng những việc làm nhỏ nhất giúp đỡ nhau để làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn.
+ Cuộc sống hiện đại phức tạp, nền kinh tế thị trường phần nào ảnh hưởng đến
suy nghĩ, lối sống của nhiều người, nên tình yêu thương, tính cộng đồng càng có
ý nghĩa hết sức quan trọng trong thời đại ngày nay. Đặc biệt là lớp trẻ cần không
ngừng tu dưỡng về đạo đức để có một lối sống đẹp.
Ví dụ 3: Vấn đề tư tưởng đạo lý được nói gián tiếp qua một ý kiến
Dạng đề về nhận định, ý kiến cần lưu ý để nhấn mạnh cho học sinh khi làm bài
phải gạch chân những từ quan trọng để giải thích.và dạng bài này khi bàn luận
cần nhìn nhận ở nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề, có thể một ý kiến có một
tư tưởng đạo lý. Nhưng một ý kiến có nhiều tư tưởng đạo lý. Phải hướng dẫn
học sinh cách nhận diện để lập luận đầy đủ.

để sống hết mình, để cảm nhận từng hơi thở trong khoảnh khắc của đời mình.
13


Đã là con người thì cần phải có ước mơ, lý tưởng và khát khao thực hiện
những điều đó. Tuy nhiên, cuộc sống luôn ẩn chứa những khó khăn, thử thách và
những điều tốt đẹp không bỗng dưng mà có. Thay vì để khó khăn đánh bại, ta
hãy đón nhận chúng như một cơ hội để rèn luyện bản lĩnh của chính mình, để ta
thêm trưởng thành.
Khi ta chọn làm “bông hoa sen nở trong ánh mặt trời” đó là lúc ta sống
hết mình và cống hiến hết mình. Ta sẽ có cơ hội được toả sáng, được khẳng
định, lưu lại dấu chân trên con đường đã đi và tận hưởng những điều tuyệt diệu
mà cuộc sống mang lại. Đó cũng chính là cách khiến cuộc sống của ta thêm ý
nghĩa và trở nên có ích. Đó mới là cuộc sống đích thực của con người. dẫn
chứng: Ví dụ như tinh thần chiến đấu quả cảm của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi,
Nguyễn Viết Xuân, Võ Thị Sáu... Cách sống và tình yêu nước của nhân vật văn
học; cách sống cống hiến hết mình của Bác Hồ, hi sinh cuộc đời riêng cho đất
nước... ”.
+ Tại sao không nên chọn cách sống như “nụ búp” ?
Nếu ta không dám đối mặt trước những khó khăn, thử thách của cuộc
sống vì ta sợ sai lầm, sợ sẽ thất bại, sợ bị cười chê… để rồi mãi mãi ta sống
trong vỏ bọc hèn nhát của mình. Đó là lối sống mòn, sống thừa, sống vô ích mà
không được ai biết đến. Một “cuộc sống đang mòn ra, đang rỉ đi, đang nổi
váng.”
Cuộc sống không mục tiêu, ước mơ, hoài bão thật vô vị. Sống như thế
thực chất chỉ là tồn sự tại mà thôi, là chết ngay cả khi đang sống.
Ví dụ: Cách sống của những kẻ phản quốc làm tay sai cho giặc thù; cách
sống của một bộ phận giới trẻ dựa dẫm vào sự bao bọc của bố mẹ và gia đình... ”
Mở rộng, nâng cao : Liệu có phải lúc nào ta cũng sống hết mình ? Nếu
cứ hết mình như thế sẽ có lúc ta kiệt sức. Vậy ta cần phải biết lượng sức mình,

Dẫn chứng trong cuộc sống
Ví dụ 1. Hồ Chí Minh: Một lãnh tụ vĩ đại, một nhà cách mạng lỗi lạc
đồng thời là một nhà văn, nhà thơ. Để có được điều đó Người phải tự học, ý chí
vươn lên trong cuộc sống, quan trọng hơn Bác còn là người biết hy sinh mình
cho tổ quốc nhân dân.( Dùng dẫn chứng cho ước mơ, nghị lực, thông minh, sáng
tạo...)[1]
Ví dụ 2. Thầy Nguyễn Ngọc Ký: Bị bẩm sinh bị liệt cả hai bàn tay đã
kiên trì luyện tập, nuôi dưỡng ước mơ nên đã biến đôi bàn chân thành đôi bàn
tay kì diệu, sau này trở thành nhà giáo ưu tú-> Chiến thắng bản thân là chiến
thắng vĩ đại nhất.( Dùng dẫn chứng cho nghị lực sống, ước mơ, niềm tin, vượt
lên trên số phận...)[1]
Ví dụ 3. Nick VuJicic: Người đàn ông không tay chân nổi tiếng với nghị
lực phi thường đã truyền niềm tin và sức mạnh cho hàng triệu người trên thới
giới đã đến Việt Nam vào hồi tháng 5 năm 2014 vừa qua. Anh bị hội chứng bẩm
sinh có tay chân nhưng chỉ là các chi rất nhỏ.Nhưng nhờ những nỗ lực phi
thương, vượt qua trở ngại, khó khăn tâm lý anh không gục ngã, đánh máy tính
bằng phương pháp “gót và ngón chân”. Khi 17 tuổi Nick VuJicic đã tự mình lập
nên tổ chức phi chính phủ Life without Limits (cuộc sống không giới hạn). Từ
đó anh được mời đi diễn thuyết khắp thế giới về cuộc sống của người khuyết tật
với hy vọng và quá trình tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống. Đến nay, anh đã diễn
thuyết trước hơn 3 triệu người trên 24 quốc gia và 5 châu lục, anh còn viết văn
và xuất bản thành sách.Trở thành vận động viên bơi nổi tiếng[1]
Dẫn chứng trong văn chương về các chủ đề :
- Chủ đề quê hương:
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi.[2]
- Chủ đề về mẹ:
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru.[2]
“Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa”- Nguyễn Duy

I. Mục tiêu BI HC

a. Kiến thức:
- Cỏch lm bi ngh lun vờ t tng, o lớ
b. Kỹ năng:
- Vn dng kin thc ó hc lm c mt bi ngh lun vờ t tng,
o lớ
c. Thỏi : cú thỏi vn dng tt khi lm bi
II. CHUN B:

1. GV: SGV - SGK - Son giỏo ỏn
- Thit b dy hc: Bng ph, bỳt d
2. HS: SGK - Son bi- c thờm sỏch bỏo
III. TIN TRèNH T CHC CC HOT ễNG DY HC

1. n nh t chc lp:
2. Kiờm tra bi c:
? Th no l ngh lun vờ mt vn ờ, t tng o lý nhng yờu cu vờ ni
dung v hỡnh thc ca kiu bi ny( Vn dng k nng trỡnh by 1 phỳt)
3. Tin trinh gi dy [3]
HOT ễNG CA GV V HS

NễI DUNG CHNH

Hot ng 1:

I, bi bi ngh lun v mt vn
t tng, o lý.
- Yờu cu hs c to 10 ờ trong SGK
1, Ging nhau: Cỏc ờ ờu nờu yờu cu

Hỏi: Ngày nay đạo lý ấy có ý nghĩa
gỡ?( Rèn kĩ năng nhận xét đánh giá,
mở rộng, bài học nhận thức)

2, Khác nhau
- Đề có kèm theo mệnh đề 1,3,10
- Đề không kèm theo mệnh đề (đề mở)
II, Cách làm bài bài nghị luận về
một vấn đề tư tưởng, đạo lý.
1, Tìm hiểu đề và tìm ý:
a, Tìm hiểu đề
Tính chất của đề: bài nghị luận về một
vấn đề tư tưởng, đạo lý.
Yêu cầu nội dung: Hiểu nội dung và
rút ra tư tưởng đạo lý
b, Tìm ý:
* Nghĩa đen:
- Nước là sự vật tự nhiên, thể lỏng, mát
cơ động, linh hoạt trong mọi địa hình,
có vai trò đặc biệt trong đời sống.
Nguồn: Nơi bắt đầu của mọi dòng chảy
* Nghĩa bóng
Nước : những thành quả mà con người
được hưởng thụ, bao gồm các giá trị
vật chất (cơm ăn, áo mặc, nhà ở, điện
thắp sáng, phương tiện giao thông, tiện
nghi cuộc sống, thuốc men chữa bệnh)
các gía trị tinh thần (văn hoá nghệ
thuật, lễ tết, lễ hội …)
- Nguồn: Tổ tiên, tiền nhân, tiền bối,

( Vận dụng kĩ năng đặt câu hỏi)
Hỏi: Đánh giá như thế nào về câu tục
ngữ? Rèn kĩ năng nhận xét đánh giá,
nêu bài học
Hỏi: Kết bài làm nhiệm vụ gì?

Hướng dẫn kĩ năng viết bài
Hỏi: em thường gặp những cách mở
bài nào?
Gọi 2 hs đọc 2 mở bài SGK
Đọc lại phần dàn bài ở trên để tập viết
từng đoạn.
Hs viết → đọc cả lớp nhận xét, rút kinh
nghiệm
Hỏi: Kết bài bằng những cách nào?
cho vd?(rèn kĩ năng viết bài)
Gv nhấn mạnh; đây là công việc cần
thiết cần tuân thủ.
Gọi hs đọc “ghi nhớ”

* ý nghĩa của đạo lý:
Là một trong những nhân tố tạo nên
sức mạnh tinh thần của dân tộc
- Là một trong những nguyên tắc đối
nhân xử thế mang vẻ đẹp văn hoá của
dân tộc.
2, Lập dàn bài
a, Mở bài:
- Giới thiệu câu tục ngữ và nội dung
đạo lý: đạo lý làm người, đạo lý cho

động.
vd: Câu tục ngữ đã nhắc nhở mọi
người ghi nhớ một đạo lí cảu dân tộc,
đạo lí của người được hưởng thụ. Hãy
sống và làm việc theo truyền thống tốt
18


đẹp đó.
- Kết bài có tính chất tổng kết.
“ Câu tục ngữ ngắn gọn mà hàm ý sâu
xa, nói về nghĩa vụ của những người
đang được hưởng thành quả.
4, Đọc lại bài viết và sửa chữa
* Ghi nhớ (SGK )
Nêu yêu cầu của bước 4
IV. CỦNG CỐ

- Các bước làm bài nghị luận về tư tưởng đạo lý
- Các kĩ năng làm bài nghị luận về tư tưởng đạo lý.
V.HƯỚNG DẪN HỌC Ở NHÀ

-Tiếp tục rèn luyện cách viết các luận điểm ở phần thân bài
VI. RÚT KINH NGHIỆM SAU GIỜ DAY.

2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Sau khi áp dụng đề tài vào dạy học năm học 2017-2018. Cũng với đề khi
khảo sát cho học sinh làm tôi thu được kết quả sau:
Lớp


%
0

Qua bảng số liệu về chất lượng dạy học kiểu bài nghị luận về một vấn đề
tư tưởng, đạo lí được nâng cao rõ rệt. Sau khi áp dụng đề tài vào thực tế giảng
dạy, các em làm bài đúng hướng, có nhận xét đánh giá đúng kiểu bài, biết rút ra
những bài học cho bản thân mình. Các em đã hiểu bản chất của kiểu văn này,
không thấy khó và viết văn không bị khô khan như trước nữa.Rèn luyện được
các kĩ năng cơ bản của người học sinh. Biết lấy dẫn chứng từ thực tế cuộc sống
đời thường để đưa vào bài; nhiều bài đã có sức hút và lay động được người đọc,
người nghe. Đặc biệt các em đã biết phân biệt hai kiểu bài nghị luận xã hội: nghị
luận về một sự việc, hiện tượng đời sống và nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
Hơn thế nữa đã trang bị cho các em các kiến thức từ thực tiến cuộc sống.
Đối với bản thân: đã nhận thức sâu sắc về kiểu bài và biết cách vận dụng
giảng dạy kiểu bài phù hợp.Không còn lúng túng trong quá trình lên lớp.
Đối với đồng nghiệp: trao đổi thêm một cách dạy mới phong phú và hiệu
quả. Sáng kiến kinh nghiệm là tài liệu tham khảo cho giáo viên bộ môn Ngữ
văn.
.
Đối với nhà trường: Sáng kiến kinh nghiệm đã góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục qua các bài kiểm tra định kỳ, bài khảo sát học kỳ, thi học sinh
giỏi, thi vào THPT ở môn Ngữ văn năm sau cao hơn năm trước
3. KẾT LUẬN
19


Tóm lại, đối với học sinh lớp 9 về tâm sinh lí chưa phát triển toàn diện, khả
năng suy luận chưa cao, vì vậy việc cung cấp các bài lí thuyết này không phải
dễ dàng. Do đó, đối với giáo viên đứng lớp phải sáng tạo trong cách dạy, phải

và có sự tham khảo thêm từ bên ngoài, nên chắc chắn cũng không tránh khỏi
những sai sót. Rất mong các đồng nghiệp tham khảo và góp ý chân thành để
nâng cao chất lượng dạy – học bộ môn.
Xác nhận của Hiệu trưởng
Thiệu Hoá, ngày 20 tháng 04 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh nghiệm
do mình viết, không sao chép của người khác.
Người viết SKKN.
Hoàng Thị Xinh.

MỤC LỤC
20


PHẦN

NỘI DUNG

TRANG

1.1. Lí do chọn đề tài

1

1.2 Mục đích nghiên cứu

2

1.3 Đối tượng nghiên cứu


TÀI LIỆU THAM KHẢO
21


[1] Một số bài viết trên các tạp chí điện tử- Nguồn Internet.
[2] Sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập 2 - NXB Giáo dục- năm 2009.
[3] Sách giáo viên Ngữ văn 9, tập 2 - NXB Giáo dục - năm 2009.
[4] Những bài văn nghị luận đặc sắc- NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
[5] Rèn luyện kỹ năng nghị luận - Bảo Quyến - NXB Giáo dục - 2003.
[6] Sách ôn thi vào lớp 10- NXB Giáo dục Việt Nam.

DANH MỤC
22


CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Hoàng Thị Xinh
Chức vụ và đơn vị công tác:
TT

1.

2.

Tên đề tài SKKN
Phương pháp giúp học sinh
tiếp cận văn bản nhật dụng
Phương pháp dạy tốt dạng bài

2008-2009

PGD

B

2012-2013

PGD

B

2013-2014

PGD

C

2014-2015

PGD

A

GDCD
Đổi mới phương pháp dạy
3.

học văn bản kịch trong
trường THCS


2015-2016
SGD

B

PGD
SGD

A
C

2016-2017
23


sinh lớp 6 làm tốt bài văn tả
cảnh góp phần nâng cao chất
lượng dạy - học văn tả cảnh ở
Trường TH &THCS Thiệu
Minh
“Một số biện pháp giúp học
sinh lớp 9 rèn kĩ năng làm bài
Nghị luận xã hội về một vấn
9

đề tư tưởng, đạo lí góp phần

PGD


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status