LỜI NÓI ĐẦU
Luật tố tụng dân sự (TTDS) là ngành luật quy định thủ tục giải quyết vụ án dân
sự ( VADS) gồm: thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án, thủ tục chuẩn bị xét xử, thủ tục hòa
giải, thủ tục phiên tòa sơ thẩm (PTST), thủ tục phúc thẩm, thủ tục tái thẩm và giám đốc
thẩm.
Cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam, luật tố tụng dân sự đã có
quá trình phát triển từ năm 1945 sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa được
thành lập. Đặc biệt, ba pháp lệnh: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
(PLTTGQCVADS) 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
(PLTGQCVAKT) 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
(PLTTGQCTCLĐ) 1996 là những cơ sở pháp lý để Tòa án tiến hành thủ tục giải quyết
các VADS, VAKT, các TCLĐ. Tuy nhiên các Pháp lệnh này mới chỉ dừng lại ở việc quy
định những nguyên tắc, thủ tục cơ bản mà còn thiếu nhiều những quy định cụ thể phát
sinh trong thủ tục giải quyết. Trong quá trình áp dụng, nhiều quy định trong các pháp
lệnh này không còn phù hợp hoặc thiếu đồng bộ so với những VBPL hiện hành như Bộ
luật dân sự, Bộ luật lao động.
Do đó ta khẳng định rằng BLTTDS 2004 là kết quả của sự pháp điển hóa quan
trọng các quy định của pháp luật TTDS, trong đó có những quy định về PTSTDS. Các
quy định về PTSTDS đã khắc phục được nhiều điểm bất cập , chưa khả thi của
PLTTGQCVADS; PLTTGQCVAKT, PLTTGQTCLĐ, đồng thời thể hiện việc đổi mới
trong hoạt động xét xử của Tòa án.
PTDSST là trung tâm của thủ tục TTDS nên PTSTDS luôn được sự quan tâm của
các nhà nghiên cứu pháp luật trong và ngoài nước.
Vì vậy, em đã chọn đề bài “ Nhận xét, đánh giá về thủ tục tiến hành phiên tòa sơ
thẩm” làm bài tập học kỳ của mình để qua đó giúp chúng ta tìm hiểu sâu hơn về thủ tục
tố tụng này trong quy định của pháp luật và trong thực tễn áp dụng; đồng thời đưa ra
những đề xuất nhỏ góp phần hoàn thiện pháp luật quy định về vấn đề về thủ tục tiến
hành phiên tòa sơ thẩm.
Do thời gian có hạn cũng như năng lực nghiên cứu, đánh giá còn nhiều hạn chế
cùng với thời gian có hạn nên bài tập của em chắc chắn sẽ không tránh khỏi những
thiếu sót nhất định. Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo để bài tập của em
Để giải quyết được các VADS, việc tiến hành PTST phải thực hiện một cách chu
đáo, nghiêm túc, phải tuân thủ đầy đủ những nguyên tắc của TTDS được quy định tại
các điều, từ Điều 3 đến Điều 24 BLTTDS. Ngoài ra, vì có mặt của các bên đương sự
trong vụ án là rất cần thiết cho nên PTST phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm
đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc trong giấy báo mở lại phiên tòa
trong trường hợp phải hoãn phiên tòa ( Điều 196 BLTTDS).
Ngoài yêu cầu trên, BLTTDS còn quy định PTSTDS phải được tiến hành theo
phương thức xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục ( Điều 197).
Trong trường hợp đặc biệt do BLTTDS quy định thì việc xét xử có thể tạm ngừng
không quá 5 ngày làm việc. Hết thời hạn tạm ngừng, việc xét xự vụ án được tiếp tục
( Khoản 2 Điều 197)
II. Thủ tục tiến hành PTDSST theo quy định của pháp luật hiện hành:
Thủ tục PTST được quy định tại Chương XIV BLTTDS (từ Điều 212-Điều 239),
bao gồm các thủ tục: bắt đầu phiên tòa, hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án.
1. Chuẩn bị khai mạc PTST:
Theo quy định tại Điều 212 BLTTDS, việc chuẩn bị khai mạc phiên tòa do thư
ký tòa án thực hiện. Khi chuẩn bị khai mạc phiên tòa, thư ký tiến hành các công việc
như: ổn định trật tự trong phòng xử án; kiểm tra, xác định sự có mặt, vắng mặt của
những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án; nếu có người
2
vắng mặt thì cần phải làm rõ lý do; phổ biến nội quy phiên tòa bao gồm các quy định;
yêu cầu mọi người trong phòng xử án đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án.
Đây là thủ tục bắt buộc đảm bảo cho phiên tòa diễn ra có sự tham dự đầy đủ của
những người tham gia tố tụng, kiểm tra lại xem có những trường hợp nào phải hoãn
phiên tòa không đồng thời còn nhằm xác lập trật tự của phiên tòa trước khi khai mạc.
2. Thủ tục bắt đầu phiên tòa sơ thẩm:
2.1. Khai mạc phiên tòa:
Khai mạc phiên tòa là thủ tục tố tụng bắt buộc phải thực hiện trước khi HĐXX
Như vậy, các quy định về thủ tục bắt đầu phiên tòa của BLTTDS rất chi tiết và cụ
thể. Với quy định của BLTTDS về thủ tục bắt đầu phiên tòa thì vai trò của Thẩm phánchủ tọa phiên tòa là rất lớn. Tất cả các hoạt động của Thẩm phán tại thủ tục này nhằm
3
đảm bảo cho việc quản lý vụ án của Tòa án được chặt chẽ, đảm bảo cho việc xét xử
được đúng đối tượng, đúng thủ tục tố tụng và những người tham gia tố tụng được biết
rõ quyền và nghĩa vụ của mình tại PTSTDS.
3. Thủ tục hỏi tại phiên tòa sơ thẩm:
Theo quy định tại các Điều từ Điều 217 đến Điều 231 BLTTDS thì thủ tục hỏi
được tiến hành tuần tự theo các bước: hỏi đương sự về thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu và
thỏa thuận giải quyết vụ án; các bên đương sự trình bày về vụ án; tiến hành hỏi; công
bố các tài liệu của vụ án và xem xét vật chứng.
3.1. Hỏi đương sự về thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu và thỏa thuận giải quyết vụ
án:
Căn cứ vào nguyên tắc tự định đoạt của đương sự, trong quá trình tố tụng, các
đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi, bổ sung các yêu cầu của mình; có quyền thỏa
thuận giải quyết với nhau về các vấn đề có tranh chấp không trái pháp luật và đạo đức
xã hội. Vì vậy Điều 217 quy định trước khi hỏi về nội dung vụ án chủ tọa phiên tòa hỏi
đương sự về các vấn đề cần thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu.
Sau khi chủ tọa phiên tòa đã hỏi các bên đương sự và dành cho họ quyền được
thay đổi, bổ sung hay rút yêu cầu thì HĐXX sẽ xem xét vấn đề này khi có đương sự đề
nghị. Để bảo đảm quyền lợi của đương sự trong phạm vi pháp luật cho phép, Điều 218
quy định như sau:
“ HĐXX chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu việc thay
đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản
tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu.
Trong trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và
việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì HĐXX chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với
phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút.”
để chứng minh cho đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp. Bị đơn có quyền bổ sung ý
kiến;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan trình bày ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu, đề
nghị của nguyên đơn, bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan và chứng cứ để chứng minh cho đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý kiến.”
Tại phiên toà, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
có quyền bổ sung chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị của mình (Điều 221
BLTTDS). Những quy định này cho thấy chủ trương đổi mới hoạt động tư pháp của
Đảng và Nhà nước đã được thể chế hóa. Đó là kết quả của việc mở rộng quyền dân chủ
trong hoạt động tư pháp và vai trò của đương sự, của những NTGTT khác trong việc
cung cấp chứng cứ cho tòa án, thực hiện nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình.
3.3. Tiến hành hỏi tại phiên tòa sơ thẩm:
Theo quy định tại Điều 222 BLTTDS, các chủ thể có quyền tham gia vào quá
trình hỏi tại phiên tòa gồm có: các thành viên của HĐXX, người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của đương sự, đương sự, những NTGTT khác và Kiểm sát viên ( nếu có).
Trình tự hỏi từng người về từng vấn đề của vụ án được tiến hành theo thứ tự chủ tọa
phiên tòa trước rồi đến Hội thẩm nhân dân, kế đến là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự, tiếp theo là đương sự rồi đến những NTGTT khác. Trường hợp có
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa thì kiểm sát viên sẽ tiến hành hỏi sau đương sự.
Việc hỏi được tiến hành riêng cho từng người, xong người này mới đến người
khác ( các Điều 223, 224, 225 và 226 BLTTDS). Các câu hỏi được đặt ra phải liên quan
đến vụ án và về những vấn đề đương sự, người bảo vệ quyền đương sự trình bày chưa
rõ. Đương sự được hỏi có thể tự trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự trả lời thay, sau đó đương sự bổ sung. Mục đích của tố tụng hỏi ở phiên
tòa là để xem xét, thẩm tra các tài liệu, chứng cứ của vụ án, thông qua đó làm sáng tỏ
các tình tiết của vụ án, nhất là những vấn đề của vụ án, nhất là về những vấn đề của vụ
án mà các bên đương sự còn có những ý kiến khác nhau. Các Điều 224, 225, 226 và
4. Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm:
BLTTDS đã quy định mở rộng quyền tranh luận của đương sự, đề cao vai trò chủ
động của đương sự trong việc tranh luận ở tại phiên tòa.
Trong BLTTDS đã dành hẳn một Mục với bốn điều luật, từ Điều 232 đến Điều
235 quy định về hoạt động tranh luận tại phiên tòa. Điều đó thể hiện tầm quan trọng của
hoạt động tranh luận trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án và xu hướng đổi
mới hoạt động tư pháp ở nước ta. Các quy định của BLTTDS về tranh luận tại phiên tòa
phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp được nêu trong
Nghị quyết số 08- NQ/ TW của Bộ chính trị.
4.1. Những người tham gia tranh tụng:
Căn cứ vào Điều 232 BLTTDS, những người tham gia tranh luận gồm có: đương
sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự,
cơ quan, tổ chức khởi kiện.
So với pháp luật TTDS trước đây, thứ tự người phát biểu tranh luận đã có sự thay
đổi. Trước đây khi tranh luận đương sự trình bày quan điểm của mình về việc đánh giá
6
chứng cứ, hướng giải quyết vụ án trước, sau đó người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của đương sự sẽ trình bày bổ sung (nếu có). Sự thay đổi của BLTTDS nhằm nâng cao
chất lượng, hiệu quả của tranh luận và đề cao vai trò của người bảo vẹ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự. người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người
có kiến thức pháp lý và kinh nghiệm tranh luận tại phiên tòa. Vì thế, quy định tại Điều
232 BLTTDS sẽ giúp cho quá trình xác định sự thật của vụ án được nhanh chóng và
chính xác hơn.
4.2. Nội dung tranh luận:
Để tránh phiên tòa đi chệch hướng, sa đà vào những tình tiết không cơ bản của
vụ án, pháp luật quy định các bên khi tham gia tranh luận cần tập trung vào hai nội
dung quan trọng sau đây:
+ Phân tích, đánh giá chứng cứ, tranh luận bảo vệ lý lẽ của mình, trong đó có
b) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn phát biểu. Bị đơn có
quyền bổ sung ý kiến;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan phát biểu. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý kiến.”
+ Trong trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì họ tự mình phát biểu khi
tranh luận theo thứ tự nguyên đơn phát biểu trước, sau đó đến bị đơn, rồi mới đến người
có quyền, nghĩa vụ liên quan.
Thời gian tranh luận tại phiên tòa dài hay ngắn là do tính chất phức tạp của từng
vụ án chứ BLTTDS không quy định cụ thể. Nhưng để cho đương sự và người đại diện
của họ có thể thực hiện được việc tranh luận bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình, Điều 223 BLTTDS quy định như sau: “Người tham gia tranh luận có quyền đáp
lại ý kiến của người khác. Chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận,
tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến, nhưng có
quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án.” Không hạn chế thời gian tranh
luận là điểm mới của BLTTDS, thể hiện tinh thần mở rộng tranh tụng, tạo điều kiện cho
đương sự có khả năng mở rộng tranh tụng, tạo điều kiện cho đương sự có khả năng sử
dụng mọi phương pháp chứng minh theo luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình. Trước kia, khoản 1 điều 51 PLTTGQVADS quy định người tham gia tranh luận
chỉ được phát biểu một lần đối với mỗi ý kiến mà mình không đồng ý.
4.5. Phát biểu của Kiểm sát viên:
Đối với những VADS mà theo quy định của BLTTDS quy định trình tự phát biểu
của Viện kiểm sát tại phiên tòa như sau: “Trong trường hợp Kiểm sát viên tham gia
phiên toà thì sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp
xong, chủ toạ phiên toà đề nghị Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc
giải quyết vụ án” (Điều 234).
4.6. Trở lại việc hỏi:
Tòa án chỉ có thể quyết định được VADS khi các tình tiết, sự kiện của vụ án đã
Theo Điều 239 thì thủ tục tuyên án được thực hiện như sau:
“Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc
biệt được phép của chủ toạ phiên toà. Chủ toạ phiên toà hoặc một thành viên khác của
Hội đồng xét xử đọc bản án và sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc thi hành
bản án và quyền kháng cáo.
Trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người
phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết.”
III. Nhận xét và đánh giá:
PTSTDS là một chế định lớn, quan trọng của pháp luật TTDS. Các quy định của
BLTTDS về PTST đã có nhiều điểm mới, tiến bộ, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ
trong việc giải quyết các VADS, phù hợp với chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế của
Đảng và Nhà nước ta. Quyền tự định đoạt của các đương sự được tôn trọng và phát huy,
nâng cao trách nhiệm của những NTHTT.
Thứ nhất, về thủ tục khai mạc và bắt đầu phiên tòa, trước đây các VBPLTTDS
quy định về thủ tục bắt đầu phiên tòa rất sơ sài. BLTTDS có hẳn một mục gồm 4 điều
luật quy định về thủ tục bắt đầu phiên tòa. Nội dung các điều luật không có nhiều vấn
đề mới so với các quy định của các VBPL trước nhưng chi tiết, cụ thể hơn. Điểm mới
của thủ tục này là bổ sung quy định về khai mạc phiên tòa và thư ký tòa án báo cáo với
HĐXX về sự có mặt và vắng mặt của những người tham gia phiên tòa đã được triệu tập.
Trong thực tiễn xét xử những năm qua cho thấy, mặ dù các VBPL không quy định
nhưng khi tiến hành PTST các tòa án vẫn thực hiện các thủ tục trên. Việc quy định của
BLTTDS nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn,bảo đảm tính trang nghiêm của phiên tòa
đồng thời HĐXX chủ động giải quyết khi có NTGTT vắng mặt.
Thứ hai, thủ tục hỏi tại phiên tòa: Đây là thủ tục có nhiều thay đổi nhất. Ngay
tên gọi cũng đổi từ “ thủ tục xét hỏi” thành “thủ tục hỏi tại phiên tòa”. Cách gọi đó
phản ánh đúng bản chất của thủ tục giải quyết VADS khác với thủ tục giải quyết vụ án
hình sự. Đối với VADS, mục đích của phần hỏi tại phiên tòa hỏi để làm rõ yêu cầu,
9
thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Trong trường hợp các đương
sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thỏa thuận của họ là tự nguyện,
không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội thì HĐXX ra quyết định công nhận sự thỏa
thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án (Điều 220). Nếu các đương sự không thỏa
thuận được với nhau thì HĐXX sẽ nghe các đương sự trình bày. Đối với việc tham gia
phiên tòa của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, BLTTDS quy định
họ thay mặt các đương sự trình bày yêu cầu và chứng cứ chứng minh cho yêu cầu, sau
đó đương sự bổ sung ý kiến. Khi đến phần các đương sự được hỏi tại phiên tòa người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể trình bày thay đương sự. Quy
định này bảo đảm nâng cao được chất lượng phiên tòa, phát huy tối đa khả năng và vai
trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong việc tham gia tố
tụng.
10
Điều 222 BLTTDS quy định, chủ tọa phiên tòa là người hỏi trước, sau đó đến hội
thẩm nhân dân, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự, những
NTGTT khác và KSV là người hỏi sau cùng. Quy định này thể hiện chủ trương đổi mới
của Đảng và Nhà nước ta trong hoạt động tư pháp theo xu hướng thực hiện dân chủ
trong phiên tòa dân sự, tránh sự can thiệp của VKS vào việc giải quyết các tranh chấp
dân sự. Về nội dung hỏi, HĐXX không hỏi về toàn bộ nội dung vụ án mà chỉ hỏi về
những vấn đề mà đương sự trình bày chưa rõ hoặc có mâu thuẫn. Ngoài ra, Điều 228
BLTTDS còn quy định khi cần thiết, HĐXX cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem
băng ghi hình, đĩa ghi hình. Đây là sự thể hiện việc ứng dụng công nghệ trong hoạt
động xét xử.
Thứ ba, thủ tục tranh luận tại phiên tòa:
Tranh luận tại phiên tòa là hoạt động trung tâm của phiên tòa. BLTTDS đã dành
hẳn một mục với bốn điều luật, từ Điều 232 đến Điều 235 quy định về tranh luận tại
phiên tòa. Điều đó thể hiện xu hướng đổi mới hoạt động tư pháp ở nước ta là mở rộng
quyền tranh luận của đương sự, đề cao vai trò chủ động của đương sự trong việc tranh
và trách nhiệm của hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, điều luật này quy định
hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, thẩm phán biểu quyết sau cùng. Bên cạnh đó, để
đảm bảo nguyên tắc xét xử liên tục, phát huy trách nhiệm của các thành viên HĐXX
trong việc giải quyết vụ án, tránh việc tạm ngừng tuyên án kéo dài, điều luật còn quy
định về thời gian nghị án tối đa không quá 5 ngày làm việc, kể từ khi kết thúc tranh luận
tại phiên tòa. Ngoài ra, một điểm mới về nghị án được quy định tại Điều 237 BLTTDS
là qua nghị án, nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc hỏi chưa đầy
đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì HĐXX quyết đinh trở lại việc hỏi và tranh luận.
Quy định này nhằm mở rộng hơn nữa khả năng tranh tụng tại phiên tòa, thể hiện tư duy
mới, thể hiện tính dân chủ cao, tính thận trọng của việc xét xử, bảo đảm cho tòa án
được tuyên một cách khách quan, công bằng và toàn diện. Tuy nhiên, quy định này dễ
dẫn đến việc xét xử bị kéo dài, quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự không được
bảo vệ kịp thời, không phát huy được trách nhiệm của các thành viên HĐXX trong việc
giải quyết vụ án.
Theo Điều 239 BLTTDS thì thủ tục tuyên án có ba nội dung mới giúp cho việc
tuyên án phù hợp với hực tế hơn. Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án phải đứng
dậy, trừ trường hợp đặc biệt như sức khỏe yếu, bệnh tật…không thể đứng được được
phép của chủ tọa phiên tòa có thể ngồi nghe tuyên án. Theo các pháp lệnh của thủ tục
trước kia thì có chủ tọa phiên tòa mới được đọc bản án. BLTTDS quy định việc tuyên
án có thể do chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của HĐXX đứng đọc. Quy
định này nhằm giải quyết tình huống bản án quá dài một người không thể đứng đọc
hoặc đến ngày tuyên án sức khỏe của chủ tọa không tốt…
Ngoài ra, BLTTDS còn quy định trong trường hợp có đương sự không biết Tiếng
Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án
sang ngôn ngữ mà họ biết.
Từ sự tìm hiểu những quy định của pháp luật tố tụng hiện hành về thủ tục tiến
hành PTST cùng với những đánh giá, nhận xét trên em xin đề xuất một số ý kiến về các
quy định của BLTTDS về PTST:
- Một là, BLTTDS quy định người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền thay mặt
nhiều tranh cãi, phạm vi yêu cầu bao gồm các loại yêu cầu hay phạm vi giá trị của yêu
cầu. Theo em, về yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là yêu
cầu được đưa ra tại buổi hòa giải cuối cùng. Để bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các đương sự thì các đương sự phải được biết trước các yêu cầu của
đương sự phía bên kia để chuẩn bị tài liệu, chứng cứ để phản đối yêu cầu đó. Vì vậy, tại
phiên tòa đương sự được quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu nhưng không được vượt quá
yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu. Việc không được vượt quá
yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu có nghĩa là không được
đưa thêm yêu cầu mới, không được tăng giá trị yêu cầu gây bất lợi cho các đương sự
khác.
- Bốn là, khi thay đổi địa vị tố tụng của các đương sự thì tư cách đương sự trong hồ sơ,
quan hệ pháp luật tranh chấp…sẽ thay đổi. Vì vậy, cần quy định rõ kể từ thời điểm thay
đổi địa vị tố tụng các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo địa vị được
thay đổi đồng thời trong biểu mẫu sổ thụ lý VADS cần có thêm cột ghi chú tất cả những
thay đổi đó. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần có hướng dẫn cách giải quyết
những vấn đề phát sinh từ việc thay đổi địa vị tố tụng các đương sự theo quy định tại
Điều 219, như tên vụ án, tư cách đương sự trong hồ sơ vụ án, quan hệ pháp luật tranh
chấp…
- Năm là, theo Điều 288 BLTTDS theo yêu cầu của KSV, NTGTT hoặc khi cần thiết,
HĐXX cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình. Nhưng hiện
tại không phải tòa án nào cũng có thể thực hiện được quy định này. Do đó, đòi hỏi sự
cần thiết phải tăng cường cơ sở vật chất cho các tòa án.
- Sáu là, Điều 239 BLTTDS quy định trong trường hợp có đương sự không biết tiếng
Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án
sang ngôn ngữ mà họ biết. Nhưng hiểu thế nào là sau khi tuyên án? Theo em, bản án
của tòa án là phán quyết nhân danh Nhà nước giải quyết tranh chấp dân sự. Việc dịch
bản án phải chính xác, do đó cần có thời gian để người phiên dịch dịch bản án sang
tiếng nước ngoài. Khoảng thời gian này vừa đủ cho người phiên dịch có thể thực hiện
13
MỤC LỤC:
LỜI NÓI ĐẦU:
15