MỘT SỐ HÌNH THỨC VÀ BIỆN
PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO CHO
HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
GDCD PHẦN CÔNG DÂN VỚI
ĐẠO ĐỨC Ở TRƯỜNG PTDTBT
ĐINH NÚP, HUYỆN ĐỒNG XUÂN,
TỈNH PHÚ YÊN
- Mục tiêu môn học GDCD ở bậc THPT
Trong chương trình giáo dục THPT ở nước ta, mục tiêu dạy
học và giáo dục đạo đức cho HS được tích hợp, lồng ghép trong
tất cả các môn học và các hoạt động giáo dục. Trong số các
môn học và hoạt động giáo dục ở trường THPT, GDCD được
coi là môn học giữ vai trò quan trọng nhất trong việc giáo dục
đạo đức cho HS. Chỉ thị số 30/1998/CT-BGD & ĐT của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 20 tháng 5 năm 1998 đã
chỉ rõ: “Môn GDCD ở trường THPT có vị trí hàng đầu trong
việc định hướng phát triển nhân cách của HS thông qua việc
cung cấp hệ thống tri thức cơ bản về giá trị đạo đức - nhân văn,
đường lối chính sách lớn của Đảng, Nhà nước và pháp luật, kế
thừa các truyền thống đạo đức, bản sắc dân tộc Việt Nam; trung
thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tiếp thu
những giá trị tốt đẹp của nhân loại và thời đại”. Xuất phát từ vị
trí kể trên, mục tiêu của phần công dân với đạo đức trong
chương trình môn GDCD ở trường THPT được xác định như
sau:
- Về kiến thức: Hiểu biết chung về một số phạm trù cơ
bản của đạo đức, một số truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân
Nội dung
1. Quan niệm về đạo đức
2. Vai trò của đạo đức trong sự
phát triển của cá nhân, gia đình
và xã hội
Bài 11: Một số phạm trù cơ bản 1. Nghĩa vụ
của đạo đức học
2. Lương tâm
3. Nhân phẩm và danh dự
4. Hạnh phúc
Bài 12: Công dân với tình yêu, 1. Tình yêu
hôn nhân và gia đình
2. Hôn nhân
3. Gia đình, chức năng của gia
đình, các mối quan hệ gia đình
và trách nhiệm của các thành
viên
Bài 13: Công dân với cộng 1. Cộng đồng và vai trò của
đồng
cộng đồng đối với cuộc sống
của con người
2. Trách nhiệm của công dân
đối với cộng đồng
Bài 14: Công dân với sự nghiệp 1. Lòng yêu nước
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
2. Trách nhiệm xây dựng Tổ
quốc
theo hướng đồng tâm và phát triển, từ quan hệ với bản thân
(Tự hoàn thiện bản thân) đến quan hệ với người khác (Công
dân với tình yêu, hôn nhân và gia đình) và mở rộng ra quan hệ
với cộng đồng, đất nước và nhân loại (Công dân với cộng
đồng; Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
Công dân với những vấn đề cấp thiết của nhân loại).
Các nội dung nói trên được sắp xếp theo bài học với thời
lượng cụ thể như sau:
- Phân phối nội dung chương trình phần công dân với đạo
đức trong môn GDCD ở trường THPT hiện nay
ST
T
Bài học
Số
tiết
1
Bài 10. Quan niệm về đạo
1
2
Bài 11. Một số phạm trù cơ bản của
đạo đức
2
Bài 16. Tự hoàn thiện bản thân
1
(Nguồn: Tác giả)
Toàn bộ mục tiêu và nội dung chương trình phần công
dân với đạo đức nêu trên phản ánh rõ đặc thù tri thức của các
bài dạy trong phần này.
Đặc thù tri thức của phần công dân với đạo đức trong
môn GDCD ở trường THPT bao gồm những điểm sau đây:
- Một là, nội dung tri thức trong phần công dân với đạo
đứcmang tính khái quát, trừu tượng. Nguyên nhân là do phần
này được xây dựng trên cơ sở kế thừa một số vấn đề lí luận
thuộc bộ môn Đạo đức học như: quan niệm về đạo đức, vai
trò của đạo đức đối với cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội.
Bên cạnh đó, hệ thống tri thức đạo đức của môn học còn gắn
liền với những khái niệm, phạm trù có tính khái quát, trừu
tượng như đạo đức, nghĩa vụ, lương tâm, nhân phẩm, danh
dự, hạnh phúc; các phẩm chất của nhân cách con người như
nhân nghĩa, hòa nhập, hợp tác, lòng yêu nước; các quan hệ
đạo đức trong đời sống hôn nhân, gia đình, Tổ quốc, nhân
loại,... Đặc thù kể trên đặt ra yêu cầu rất riêng cho người GV
trong quá trình giảng dạy nội dung này, trong đó cần đặc biệt
chú ý đến hệ thống phương tiện dẫn chứng, minh họa nhằm
giúp cụ thể hóa và từng bước minh họa các tri thức trừu tượng
thông qua các thao tác giải thích và chứng minh.
- Hai là, nội dung tri thức trong phần công dân với đạo
các hành vi, thói quen đạo đức trong đời sống thực tiễn thông
qua mối quan hệ với bản thân, gia đình và cộng đồng xã hội.
Xuất phát từ năng lực trên mà phân môn này hướng đến được
xác định từ chính vị trí, mục tiêu, chuẩn kiến thức, kĩ năng
gắn với hệ thống giá trị, chuẩn mực đạo đức cần lĩnh hội ở
cấp học này và đặc điểm đối tượng HS bậc học này. Hệ thống
năng lực kể trên sẽ được kết tinh ở niềm tin, ý chí về các giá
trị đạo đức và khả năng liên hệ, thực hành vận dụng trong đời
sống sinh hoạt hàng ngày của bản thân các em. Cái đích mà
bài học hướng đến là thông qua hệ thống tri thức để giúp hình
thành ở HS niềm tin đạo đức và rèn luyện hành vi ứng xử phù
hợp với các chuẩn mực đạo đức của xã hội. Chính từ đặc điểm
này mà mục tiêu này sẽ khó đạt được nếu người GV áp đặt
HS bằng hệ thống thuyết lý thuần tuý. Dạy tri thức đạo đức
phải tạo ra được sự chuyển biến tự giác từ ý thức bên trong
mỗi HS. Muốn làm được điều đó, quá trình dạy học cần đặc
biệt chú trọng đến yếu tố cảm xúc thông qua các hình tượng
nghệ thuật.
- Bốn là, các chuẩn mực, giá trị đạo đức được giảng dạy
trong phần công dân với đạo đứcluôn gắn liền với thực tiễn
sinh động của cuộc sống. Ngoài ra, do mọi hành vi, hoạt động
của con người dù ở bất kỳ lĩnh vực nào, trong phạm vi nào
cũng đều liên quan và có thể đánh giá về mặt đạo đức. Vì thế,
tri thức của bài học dường như liên quan đến hầu hết quan
điểm, tư tưởng và hành động của con người trong đời sống
thường nhật. Do đó, trong quá trình dạy học người GV phải
sinh. Mặt khác, khi tiến hành dạy học theo hướng trải nghiệm
giáo viên cũng cần quan tâm đến hiệu quả của mỗi phương
pháp mà mình áp dụng.
* Về đánh giá kết quả học tập của học sinh
Cần sử dụng nhiều hình thức đánh giá, nhiều bộ công cụ
đánh giá, coi trọng nhận xét quá trình tiến bộ về nhiều mặt
khác nhau của học sinh. Để làm được điều đó, giáo viên phải
quan sát, nhận xét, góp ý để đánh giá ngay trong quá trình
hoạt động thực tiễn, dựa trên những biểu hiện cụ thể về
phương thức và kết quả hoạt động của học sinh.
* Việc thực hiện hoạt động trải nghiệm sáng tạo, người
giáo viên cần phải đảm bảo đúng mục tiêu bài học
Khi tiến hành TNST, giáo viên phải xác định nội dung
hợp lí, tổ chức cho học sinh báo cáo sản phẩm thu được sau
buổi TNST mà không mất quá nhiều thời gian, nhưng điều
quan trọng nhất vẫn là phải đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, kĩ
năng cần thiết cho học sinh, đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu
bài học. Do đó, khi thiết kế hoạt động TNST, người giáo viên
cần phải: Dựa trên nội dung cốt lõi của chương trình đáp ứng
chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học; Tập trung vào những
hiểu biết của học sinh sau quá trình học.
* Phải phù hợp với trình độ học sinh, không nên xây
dựng các chủ đề trải nghiệm vượt quá xa nội dung kiến thức
của học sinh
Việc thực hiện tốt yêu cầu phù hợp với trình độ học sinh
khi tiến hành TNST là vô cùng quan trọng, nếu thực hiện tốt
sẽ tạo hứng thú cho học sinh và mang lại hiệu quả cao. Ngược
lại, nếu không tuân thủ nguyên tắc này, nội dung của TNST sẽ
- Công việc của giáo viên: Tìm trong chương trình môn
GDCD phần công dân với đạo đức các chủ đề nội dung cơ bản
có liên quan hoặc có thể liên hệ vào thực tiễn. Giáo viên phân
chia lớp thành các nhóm, hướng dẫn người học đề xuất, xác
định chủ đề, định hướng cho học sinh về mục đích bài học.
- Công việc của học sinh: Học sinh lắng nghe và tiếp thu
những gợi ý, định hướng về đề tài của giáo viên, của nhóm
làm việc.
* Bước 2: Xây dựng đề cương bài học phần công dân với
đạo đức. Đây là bước chuẩn bị của giáo viên và học sinh
trước khi tiến hành tổ chức hoạt động học tập trải nghiệm.
- Công việc của giáo viên: Giáo viên cần hướng dẫn cho
học sinhvề: Nội dung và phương pháp, hình thức trải nghiệm,
thời gian dự kiến, nguồn tài liệu, kinh phí thực hiện. Giáo
viên có thể hướng dẫn học sinh xây dựng “bộ câu hỏi khung”
liên quan đến những vấn đề của bài trải nghiệm.
- Công việc của HS: Sau khi đã được phân công vào các
nhóm, các nhóm thống nhất kế hoạch cụ thể thực hiện nhiệm
vụ. Giáo viên hướng dẫn, gợi ý học sinh cách tiến hành:
+ Thu thập thông tin: Lấy ở đâu? Lấy bằng cách nào?
Phương tiện gì?
+ Xử lý thông tin: lựa chọn thông tin có giá trị phải đảm
bảo độ tin cậy và có ý nghĩa.
+ Tổng hợp và trình bày kết quả: bố cục, nội dung, hình
thức trình bày sản phẩm.
* Bước 3: Thực hiện hoạt động
- Công việc của giáo viên: Gặp gỡ các nhóm để biết rõ
tiến trình làm việc của từng nhóm, kịp thời giúp đỡ và điều
Ví dụ: bài 15: Công dân với một số vấn đề cấp thiết của
nhân loại
Tình huống được đưa ra là “Học sinh với vấn đề môi
trường ở địa phương”
Các bước tiến hành:
Bước 1: Thu thập thông tin liên quan đến vấn đề môi
trường
Bước 2. Xây dựng kế hoạch giải quyết tình huống bằng
hoạt động trải nghiệm thực tế
Bước 3. Tiến hành hoạt động trải nghiệm thực tế để lấy
thông tin, ghi hình, chụp ảnh
Bước 4. Trao đổi thảo luận, đưa ra biện pháp giải quyết
tình huống trên.
Bước 5. Gửi bài dự thi “Vận dụng kiến thức liên môn để
giải quyết tình huống thực tiễn chủ đề môi trường quanh ta”.
- Hình thức trò chơi đóng vai
Đóng vai là hình thức tổ chức cho học sinh “làm thử” một
số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. Đây là
phương pháp nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn
đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừa
thực hiện hoặc quan sát được. Việc “diễn” không phải là phần
chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo
luận sau phần diễn ấy.
Các bước tiến hành:
Bước 1: Giáo viên chia nhóm, giao tình huống đóng vai
cho từng nhóm và qui định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian
đóng vai.
Bước 2: Các nhóm thảo luận chuẩn bị nội dung và phân
động ở Pác Pó, Cao Bằng, đồng bào hãy còn rất nhiều hủ tục,
đặc biệt là các bệnh liên quan đến vệ sinh cơ thể. Nhìn các
cháu thiếu nhi đầu bị ghẻ chấy, chốc đầu, mùi tanh nồng bốc
lên, ngứa ngáy khó chụi vô cùng. Bác thương lắm. bác tự tay
chữa bệnh cho các cháu. Bác chắt lấy nước tro bếp rồi đem
nước ấy gội đầu cho các cháu. Khi nước tro bếp vào đầu sót
vô cùng những lại rất hiệu nghiệm, làm một vài lần như vậy
những cháu bị chốc đầu khỏi hẳn. Bác lại khuyên bố mẹ các
cháu tắm rửa vệ sinh hang ngày cho các cháu để trừ chấy bọ.
- Vai diễn là Bác Hồ với đồng bào dân tộc miền núi
- Vai diễn là các cháu nhi đồng, đồng báo dân tộc thiểu số
- Thời gian: 15 phút
Bước 2: Các nhóm thảo luận để đóng vai
- Các nhóm thảo luận về nội dung, về cách diễn xuất
- Thảo luận thống nhất kịch bản.
Bước 3: Các nhóm lên đóng vai.
Bước 4: Lớp thảo luận, nhận xét
Bước 5: Giáo viên phỏng vấn học sinh đóng vai.
- Cảm nhận của em về vai diễn?
- Em có gặp khó khăn gì trong quá trình nhập vai?
- Em đã học tập được gì từ vai diễn?
Như vậy, thông qua vai diễn mà học sinh đặt mình vào
cũng như thông qua vai diễn của các bạn để các em hiểu hơn
về Hồ Chí Minh, về lối sống hòa nhập của Bác, từ đó rút ra
bài học cho bản thân mình.
- Hình thức tham quan học tập
Tham quan là một hình thức tổ chức học tập thực tế hấp
dẫn với học sinh trong học tập GDCD. Với mục đích là để các
Bước 4: Yêu cầu học sinh tìm hiểu trước về địa điểm
tham quan, đưa ra một số tiêu chí đánh giá
Bước 5: Học sinh tham quan và báo cáo kết quả, đánh giá
dựa trên hướng dẫn của giáo viên. Thông qua buổi tham quan,
học sinh hiểu rõ hơn Từ đó bồi đắp tình yêu quê hương, phấn
đấu xây dựng quê hương giàu đẹp. (Xem phần Phụ lục 2)
- Học tập trải nghiệm sáng tạo bằng phương pháp bài tập
dự án
Dự án là một tập hợp các công việc, được thực hiện bởi
một tập thể nhằm đạt được một kết quả dự kiến trong một thời
gian dự kiến với một kinh phí dự kiến.
Giáo viên cần cung cấp đầy đủ thông tin về bài tập dự án
từ khái niệm đến cách tiến hành cụ thể. Có thể phô tô cho học
sinh tài liệu( nếu thời gian trên lớp không cho phép). Giống
như tất cả các dạng bài tập thông thường giáo viên giao bài
cho học trò, nhưng sự khác biệt rõ rệt thể hiện ở điểm: bài tập
dự án đòi hỏi về mặt nội dung gắn với một chủ đề thực hiện
yêu cầu trong một thời gian nhất định thường là 1 tuần đến
một học kỳ hoặc một năm học, với hình thức làm việc hợp tác
kiểu nhóm. Để thực hiện yêu cầu của chủ đề đòi hỏi người
học phải có sự trải nghiệm thực tế thêm trong một thời gian
giới hạn nhất định để tự mình cảm nhận, suy ngẫm, tìm tòi
phương pháp, thu thập, xử lý hoàn thành mọi yêu cầu liên
quan đến chủ đề của nhóm.
Các bước thực hiện:
Một là: lập kế hoạch chung, phân công công việc
Hai là: thực hiện dự án theo kế hoạch đã xây dựng:
Học sinh thực hiện các nhiệm vụ đã được nhóm phân