Bài tập học kì môn Luật người khuyết tật
Nguyễn Thế Quyền – N01
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I – KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT..........................................................1
1. Định nghĩa người khuyết tật..................................................................................1
2. Đặc điểm của người khuyết tật..............................................................................2
II - NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG VÀ KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI
NGƯỜI KHUYẾT TẬT............................................................................................2
1. Cơ sở pháp lý của nguyên tắc................................................................................2
2. Nội dung của nguyên tắc........................................................................................4
3. Ý nghĩa của nguyên tắc..........................................................................................6
III - VIỆC CỤ THỂ HÓA NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG VÀ KHÔNG PHÂN BIỆT
ĐỐI XỬ TRONG PHÁP LUẬT NGƯỜI KHUYẾT TẬT........................................6
1. Hoạt động chăm sóc sức khỏe đối với người khuyết tật.........................................7
2. Hoạt động giáo dục, dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật.....................8
3. Hoạt động xã hội đối với người khuyết tật.............................................................9
4. Hoạt động bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật..............................................10
IV – LIÊN HỆ THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT....................................................................................................................... 11
1. Liên hệ thực tiễn...................................................................................................11
2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật............................................................................14
KẾT LUẬN............................................................................................................. 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
0
rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã
hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác.”
Theo pháp luật Việt Nam thì: “ người khuyết tật có một hoặc nhiều bộ phận cơ
thể hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc
tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những
chủ thể khác.”
Qua các quan điểm trên đây, có thể đưa ra định nghĩa khái niệm người khuyết tật
như sau: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể
hoặc bị suy giảm chức năng dẫn đến những hạn chế đáng kể và lâu dài trong việc
1
Bài tập học kì môn Luật người khuyết tật
Nguyễn Thế Quyền – N01
tham gia của người khuyết tật vào hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những
chủ thể khác”.
2. Đặc điểm của người khuyết tật.
Trước hết người khuyết tật là nhóm dân cư đặc biệt phải chịu thiệt thòi về mặt
kinh tế, xã hội và nhân khẩu học: gia đình người khuyết tật thiếu nhân lực lao động;
học vấn của các thành viên trong gia đình người khuyết tật thường không cao. Vì
tình trạng khuyết tật gây ra, người khuyết tật phải gánh chịu nhiều thiệt thòi trong
đời sống xã hội; xã hội còn những quan niệm tiêu cực về người khuyết tật dẫn đến
sự kì thị và phân biệt. hoạt động hỗ trợ cho người khuyết tật còn rất hạn chế, thực tế
cho thấy sự khác biệt rất lớn giữa nhu cầu của người khuyết tật với những sự giúp
đỡ mà họ nhận được.
Theo Điều 2 Nghị định số 28/2012/NĐ – CP thì có các dạng khuyết tật sau:
- Khuyết tật vận động là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ,
chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển.
-
Tuyên ngôn thế giới của Liên hợp quốc về quyền con người năm 1948. Điều
1 và Điều 2 của Tuyên ngôn có quy định: “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về
phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri và phải đối xử với nhau trong tình bác
ái” (Điều 1 Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền) và “Ai cũng được hưởng quyền tự do
ghi trong bản Tuyên ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào như chủng
tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân
tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác” (Điều 2 Tuyên
ngôn).
-
Tuyên bố của tổ chức lao động quốc tế tại Philadelphia được thông qua tại
Hội nghị Lao động Quốc tế tổ chức năm 1944, trong đó chỉ rõ: “Tất cả mọi người,
không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng, hoặc giới tính đều có quyền được mưu cầu
một cuộc sống vật chất đầy đủ, được phát triển tinh thần trong điều kiện tự do và
đảm bảo nhân phẩm, trong điều kiện an ninh kinh tế và cơ hội bình đẳng…” Điều
này có nghĩa tất cả mọi người, kể cả người khuyết tật cần được đối xử công bằng và
có cơ hội bình đẳng để tham gia các hoạt động xã hội, cả kể trong lĩnh vực lao động.
-
Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật năm 2006 cũng
đã ghi nhận nguyên tắc này tại Điều 5 và Điều 12 của Công ước. Trong đó:
Điều 5 quy định về bình đẳng và không phân biệt đối xử như sau:
“1. Các quốc gia thành viên thừa nhận rằng mọi người đều bình đẳng trước và
chiểu theo pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng và cho hưởng
quyền bình đẳng mà không có sự phân biệt đối xử nào.
Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử với người khuyết tật liên quan
mật thiết đến khái niệm nhân phẩm. Nguyên tắc này xuất phát từ quan điểm cho
rằng tất cả mọi người dù có sự khác nhau về thể lực, trí lực và các đặc điểm khác
đều có giá trị và tầm quan trọng ngang nhau. Vì vậy, họ có quyền được đối xử công
bằng và không bị phân biệt trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nguyên tắc bình đẳng bao gồm: bình đẳng trên danh nghĩa, bình đẳng về cơ hội,
bình đẳng về kết quả. Trong tài liệu “Hướng tới cơ hội việc làm bình đẳng cho
người khuyết tật thông qua hệ thống pháp luật” của Văn phòng Tổ chức Lao động
quốc tế (ILO) phân tích về 3 phương diện bình đẳng trên như sau:
Bình đẳng trên danh nghĩa
Theo quan điểm chính thống về sự bình đẳng, những người ở trong hoàn cảnh
như nhau cần được đối xử giống nhau. Quan điểm này thường không tính đến sự
khác biệt và bất lợi của từng cá nhân và hoàn cảnh cứ như thể những yếu tố này
không có liên quan gì. Trong khi không cho phép đối xử người này hơn hoặc kém
người kia, người ta lại không đặt ra về quy định phải có những điều chỉnh và cải
thiện cần thiết. Do vậy, quan điểm này không phù hợp khi phải đáp ứng nhu cầu của
một số đối tượng là người khuyết tật.
Bình đẳng về cơ hội
Bình đẳng có thể được định nghĩa theo một cách khác, đó là bình đẳng về cơ hội.
Khái niệm này quy định về sự bình đẳng trong cơ hội chứ không nhất thiết phải là
bình đẳng về kết quả. Cách nhìn này, thừa nhận vai trò quan trọng của những khác
biệt của cá nhân và tập thể đồng thời nhận diện những rào cản bên ngoài mà người
khuyết tật gặp phải có thể cản trở họ tham gia vào xã hội. Định kiến và môi trường
không tiếp cận đều được coi là những vật cản đối sự tham gia toàn diện vào đời sống
4
Bài tập học kì môn Luật người khuyết tật
Nguyễn Thế Quyền – N01
đối xử được hiểu là sự ngang nhau trong việc tiếp cận các cơ hội về học tập, việc
làm, chăm sóc sức khỏe, dịch vụ công… của người khuyết tật trong mọi điều kiện
hoàn cảnh. Tuy nhiên, nguyên tắc bình đẳng không có nghĩa là bằng nhau, như nhau;
người khuyết tật gặp phải những dạng tật khác nhau và mức độ khuyết tật không
giống nhau cần được sự đảm bảo khác nhau. Cũng cần phải hiểu rằng, việc ngăn
cấm phân biệt đối xử với người khuyết tật không có nghĩa là mọi hình thức phân biệt
5
Bài tập học kì môn Luật người khuyết tật
Nguyễn Thế Quyền – N01
là trái pháp luật. Đơn cử như: Trong quan hệ lao động, người sử dụng lao động có
quyền yêu cầu người lao động phải có những kĩ năng và trình độ cần thiết mà công
việc hoặc môi trường làm việc đòi hỏi và những yêu cầu này là chính đáng; do đó,
dẫn đến khả năng loại trừ một số ngươig khuyết tật khỏi danh sách người tham gia
làm việc nhưng những trường hợp này không được coi là phân biệt đối xử. Hay một
trường hợp khác như: một công ty vệ sĩ tuyển nhân viên và đưa ra những tiêu chuẩn
về hình thức, sức khỏe, chiều cao, phản xạ... dẫn đến việc người khuyết tật (khiếm
thính, khiếm thị…) không được vào làm việc; tuy nhiên, những yêu cầu trong trường
hợp trên là hợp pháp, đúng mức, nó đơn thuần chỉ mang tính nghề nghiệp và không
bị coi là hành vi phân biệt đối xử.
3. Ý nghĩa của nguyên tắc.
Nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử đối với người khuyết tật là một
trong những nguyên tắc cơ bản, có ý nghĩa rất quan trọng, ngoài việc giúp đỡ những
người khuyết tật vượt qua khó khăn của bản thân, hòa nhập với xã hội, thích nghi
với hoàn cảnh sống thì nguyên tắc này còn thể hiện tính nhân đạo sâu sắc, sự quan
tâm, chú trọng của Nhà nước, xã hội đối với người khuyết tật. Đồng thời, nguyên tắc
này cũng là tiền đề trong việc thực hiện các nguyên tắc khác như nguyên tắc tôn
xâm phạm thân thể, nhân phẩm danh dự, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của
người khuyết tật. Phân biệt đối xử được hiểu là hành vi xa lánh, từ chối, ngược đãi,
phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của người khuyết tật vì lí do khuyết tật
của người đó (khoản 3 Điều 2). Việc pháp luật đưa ra các quy định như vậy là rất
hợp lí, điều đó tạo ra khung hành lang pháp lý để thực hiện quyền bình đẳng và
không phân biệt đối xử giữa con người với con người. Vốn dĩ người khuyết tật đã
phải chịu những thiệt thòi do những khiếm khuyết của bản thân họ mang lại; do vậy,
họ xứng đáng và cần nhận được sự quan tâm, chăm sóc của gia đình, Nhà nước và
xã hội. Ngoài những quy định về quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật, những
hành vi bị pháp luật nghiêm cấm thì Nhà nước ta còn thể hiện sự bình đẳng đối với
người khuyết tật ở nhiều phương diện khác.
1. Hoạt động chăm sóc sức khỏe đối với người khuyết tật.
Ở Việt Nam, với truyền thống nhân đạo “thương người như thể thương thân”
Đảng, Nhà nước và toàn dân luôn tôn trọng và chăm lo bảo vệ, chăm sóc sức khỏe
cho người khuyết tật. trong quy định của hiến pháp đều khẳng định người khuyết tật
được hưởng các quyền của công dân nói chung, trong đó có quyền được chăm sóc
sức khỏe. Trước khi luật người khuyết tật có hiệu lực thì chế độ chăm sóc sức khỏe
của người khuyết tật được quy định trong pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 và
một số luật chuyên ngành khác. Sau khi Luật Người khuyết tật có hiệu lực thì chế độ
chăm sóc sức khỏe của người khuyết tật được quy định cụ thể trong Chương III, từ
Điều 21 đến Điều 26. Ngoài ra trong các luật chuyên ngành khác cũng có các điều
khoản quy định về việc chăm sóc sức khỏe người khuyết tật, đó là: Luật Người cao
tuổi (Điều 12), Luật Khám, chữa bệnh (Điều 3) … Tùy từng đối tượng và dạng tật
hoặc nhu cầu của người khuyết tật mà pháp luật quy định chế độ chăm sóc sức khỏe
người khuyết tật được thể hiện khác nhau, theo đó người khuyết tật được hưởng một
hoặc nhiều chế độ trong quá trình chăm sóc sức khỏe.
Tiếp cận dịch vụ y tế: Người khuyết tật có quyền hưởng các dịch vụ chăm sóc
sức khỏe đạt tiêu chuẩn cao nhất mà không bị phân biệt đối xử vì lý do khuyết tật.
Việc hưởng dịch vụ y tế đối với người khuyết tật là thiết yếu nhằm phục hồi chức
năng, sức khỏe và khả năng lao động, học tập. Cụ thể như:
từ chối tiếp nhận người khuyết tật nhập học trái với quy định của pháp luật.
2. Thực hiện việc cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất dạy và học chưa bảo đảm
điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật”.
Về vấn đề dạy nghề, theo quy định tại Điều 32 LNKT 2010 về dạy nghề đối với
người khuyết tật thì:
“1. Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật được tư vấn học nghề miễn phí, lựa
chọn và học nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như những người khác.
2. Cơ sở dạy nghề có trách nhiệm cấp văn bằng, chứng chỉ, công nhận nghề đào
tạo khi người khuyết tật học hết chương trình đào tạo và đủ điều kiện theo quy định
của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề.
8
Bài tập học kì môn Luật người khuyết tật
Nguyễn Thế Quyền – N01
3. Cơ sở dạy nghề tổ chức dạy nghề cho người khuyết tật phải bảo đảm điều
kiện dạy nghề cho người khuyết tật và được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định
của pháp luật
…”.
Về vấn đề việc làm, theo quy định tại Điều 33 LNKT như sau:
“1. Nhà nước tạo điều kiện để người khuyết tật phục hồi chức năng lao động,
được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe và đặc
điểm của người khuyết tật.
2. Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng
người khuyết tật có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn
tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc của người
khuyết tật.
Là một quốc gia thành viên đã kí kết tham gia và đang trong quá trình phê chuẩn
công ước, Việt Nam cũng có những quy định pháp luật quốc gia phù hợp để đảm bảo
thực hiện cam kết này. Nhà nước hỗ trợ hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí
và du lịch phù hợp với đặc điểm của người khuyết tật, tạo điều kiện để người khuyết
tật hưởng thụ văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch. Nhà nước và xã hội tạo
điều kiện cho người khuyết tật phát triển tài năng, năng khiếu về văn hóa, nghệ thuật
và thể thao, tham gia sáng tác, biểu diễn nghệ thuật, tập luyện, thi đấu thể thao (Điều
36 LNKT).
b. Đối với việc sử dụng công trình, dịch vụ công công.
Nhằm đảm bảo các công trình xây dựng nói chung nhà chung cư và công trình
công cộng nói riêng có đủ điều kiện cho người khuyết tật tiếp cân và sử dụng , nghĩa
là công trình đó tạo dựng được môi trường kiến trúc mà người khuyết tật có thể đến
và sử dụng được các không gian chức năng trong công trình; Bộ xây dựng đã ban
hành bộ quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng công trình. Theo quy chuẩn xây dựng do
Bộ Xây dựng ban hành năm 2002, các loại công trình phải đảm bảo cho người
khuyết tật tiếp cận sử dụng gồm: công trình y tế, cơ quan hành chính các cấp (trụ sở
Uỷ ban nhân dân, tòa án, viện kiểm sát...), các công trình giáo dục, công trình thể
thao, công trình văn hóa, công trình dịch vụ công cộng (khách sạn, nhà ga xe lửa,
bến xe, bưu điện, trung tâm thương mại, chợ...), nhà chung cư, đường và vỉa hè. Tiêu
chuẩn Việt Nam 2009 cũng quy định việc xây dựng đường, hè phố đảm bảo người
khuyết tật tiếp cận sử dụng. Khi thiết kế đường và hè phố phải đảm bảo giao thông
đường bộ đơn giản, không bị vật cản và đủ rộng cho các xe lăn tránh nhau.
Tại các nút giao thông, các lối vào công trình phải làm đường dốc để người
khuyết tật tiếp cận công trình. Lối vào và trục đường chính của đường dạo trong
công viên, khu vui chơi - giải trí, khu du lịch phải thiết kế để người khuyết tật đi lại
được và phải có biển báo, biển chỉ dẫn người khuyết tật tiếp cận sử dụng. Tại các
điểm đỗ xe và điểm chờ xe buýt có tính đến nhu cầu sử dụng của người khuyết tật
phải bố trí biển báo, biển chỉ dẫn theo quy ước quốc tế. Các công trình được xây
dựng trên đường và hè phố dành cho người đi bộ như trạm điện thoại công cộng,
trạm rút tiền bằng thẻ tự động, biển quảng cáo, cột điện, cây trồng, các vật treo trên
Tính đến thời điểm năm 2011, Việt Nam có khoảng 6,7 triệu người khuyết tật,
chiếm khoảng 7,8 % dân số và có tới 80% người khuyết tật sống phụ thuộc vào
nguồn trợ cấp từ gia đình, xã hội thông qua Nhà nước và cộng đồng.
Theo số liệu điều tra trong hội thảo “Tìm hiểu và đối phó với kỳ thị và phân biệt
đối xử liên quan đến người khuyết tật” năm 2011 thì có đến 98% người dân cho rằng
người khuyết tật là những người rất đáng thương, 66% cho rằng họ không thể có
cuộc sống bình thường như những người khác, 76% cho rằng nên gửi người khuyết
tật vào các trung tâm để họ được chăm sóc và 63% cho rằng người khuyết tật không
nên tham gia vào các hoạt động công cộng. Hiện nay, nước ta có khoảng 35,83% số
người khuyết tật không biết chữ; 12,58% biết đọc, biết viết; 20,74 % có trình độ
trung học phổ thông. Đáng chú ý là tỉ lệ người khuyết tật được học nghề mới chỉ đạt
12,1%. Mặc dù 58% số người khuyết tật đang tham gia làm việc nhưng chủ yếu là
việc đơn giản, thu nhập thấp, trong đó 30% đang mong muốn có công việc ổn định.
Thực tế cho thấy, phần lớn người khuyết tật nước ta chưa được tạo điều kiện để khắc
phục những khó khăn liên quan đến chức năng cơ thể để phát huy năng lực, chủ
động tham gia vào mọi khía cạnh của đời sống xã hội.
a. Kết quả đạt được.
11
Bài tập học kì môn Luật người khuyết tật
Nguyễn Thế Quyền – N01
Việt Nam đã thực thi vào thực tiễn nhiều luật, chính sách, quy định và sáng kiến
liên quan đến người khuyết tật, nhằm bảo vệ người khuyết tật không bị phân biệt đối
xử và được bình đẳng như những công dân bình thường khác, người khuyết tật được
hỗ trợ để được phát triển năng lực của mình. Một số văn bản pháp luật và chương
trình hành động làm tiền đề để phát triển nguyên tắc này là:
-
-
Đề án trợ giúp người khuyết tật của Chính phủ giai đoạn 2006 – 2010. Đề án
đưa ra phương pháp tiếp cận toàn diện đối với vấn đề người khuyết tật với việc mở
rộng đối tượng tham gia đề án và có sự tham gia của nhiều bộ ngành liên quan. Tiếp
đến hướng tới Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2011 – 2020.
-
Giáo dục hòa nhập tầm nhìn tới năm 2015. Chính phủ đặt mục tiêu thực hiện
giáo dục hòa nhập cho tất cả trẻ em khuyết tật năm 2015.
Có thể thấy, về mặt lập pháp, những vấn đề liên quan đến người khuyết tật ở
nước ta đã quy định khá hoàn thiện. Trong thời gian qua, Chính phủ đã từng bước
hoàn thiện hệ thống luật pháp và chính sách về người khuyết tật, triển khai các
chương trình, đề án hỗ trợ người khuyết tật và huy động tối đa sự tham gia của xã
hội trong việc trợ giúp người khuyết tật hòa nhập cộng đồng và phát triển. Luật
người khuyết tật ra đời đánh dấu một bước tiến lớn trong việc hỗ trợ pháp lý cho
người khuyết tật ở Việt Nam. Thông tin, truyền thông, giáo dục được đẩy mạnh
nhằm thay đổi thái độ và hành vi của mọi người, chống kỳ thị và phân biệt đối xử
với người khuyết tật, tạo sự bình đẳng giữa mọi người là một trong những nội dung
chính, quan trọng đã được cụ thể hóa trong Luật.
12
Bài tập học kì môn Luật người khuyết tật
Nguyễn Thế Quyền – N01
Ngoài ra, còn có các chương trình hỗ trợ nhân đạo như cấp phát phương tiện cho
người khuyết tật vận động, mở các lớp học chữ nổi cho người khiếm thị…Các
chương trình đó đều thể hiện sự quan tâm của Nhà nước và xã hội cho người khuyết
tật, giúp họ hòa nhập cộng đồng, tạo sự bình đẳng về cơ hội cho người khuyết tật.
b. Hạn chế.
13
Bài tập học kì môn Luật người khuyết tật
-
Nguyễn Thế Quyền – N01
Hiến pháp là văn bản pháp luật cấp cao nhất trong hệ thống văn bản pháp luật
nước ta nhưng có thể thấy, trong văn bản này chưa có một Điều luật nào quy định cụ
thể về vấn đề liên quan đến người khuyết tật mà chỉ quy định rất chung chung, đại
khái. Điều này gây khó khăn trong việc thực thi pháp luật về người khuyết tật trên
thực tế.
-
Việc áp dụng nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử với người khuyết
tật vào thực tế đời sống chưa đạt hiệu quả cao, còn mang tính khẩu hiệu. Hiện nay,
còn rất nhiều các công trình, dịch vụ công cộng mà người khuyết tật chưa thể tiếp
cận, sử dụng. Điều đó vô hình chung tạo nên rào cản khiến cho người khuyết tật
không thể hoặc hạn chế trong việc hòa nhập cộng đồng, khó có thể tiếp cận được
những cơ hội thay đổi bản thân, giúp đỡ gia đình, xã hội.
-
Do ý thức thực hiện pháp luật của người dân chưa cao.
-
Bản thân người khuyết tật còn mặc cảm, tự ti, chưa nhận thức được hết các
quyền mà đáng lẽ ra họ được hưởng nên nhiều khi phải chịu thiệt thòi.
14
Bài tập học kì môn Luật người khuyết tật
-
Nguyễn Thế Quyền – N01
Do điều kiện kinh tế nước ta còn nghèo, cơ sở vật chất, hạ tầng đáp ứng nhu
cầu của người khuyết tật còn hạn chế.
b. Giải pháp hoàn thiện.
Từ những hạn chế và nguyên nhân nêu trên, em xin đưa ra một vài giải pháp
nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về nguyên tắc bình đẳng và không phân
biệt đối xử với người khuyết tật. Cụ thể như sau:
-
Cần phải đề cập đến người khuyết tật trong Hiến pháp thông qua các điều luật
quy định nhiệm vụ cho Chính phủ phải đáp ứng nhu cầu của người khuyết tật và các
điều luật cấm phân biệt đối xử, cũng như đảm bảo rằng người khuyết tật sẽ có cơ hội
công dân nào với tư cách là các quyền của con người để xây dựng một xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
15
Bài tập học kì môn Luật người khuyết tật
Nguyễn Thế Quyền – N01
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật người khuyết tật Việt Nam.
NXB. Công an nhân dân, năm 2011.
2. Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2006.
3. Luật người khuyết tật Việt Nam năm 2010.
4. Nghị định số 28/2012/NĐ - CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật người khuyết tật 2010.
5. Văn phòng Tổ chức Lao động quốc tế, Hướng tới cơ hội việc làm bình đẳng
cho người khuyết tật thông qua hệ thống pháp luật, tài liệu hướng dẫn của
ILO.
6. Một số website:
www.ilo.org/hanoi/Whatwedo/Publications/WCMS.../index.htm
www.office33.gov.vn/front.../index.php?type
www.gslhcm.org.vn/contents/hoat_dong...nguoi...
dphanoi.org.vn/index.php?option=com_content&task...id...
16