luậnvăn rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong dạy học phần chuyển hóa vật chất và năng lượng ở động vật - Pdf 53

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

CHU THỊ KIM DUNG

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VẬN DỤNG KIẾN THỨC
VÀO THỰC TIỄN CHO HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC PHẦN CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT
VÀ NĂNG LƯỢNG Ở ĐỘNG VẬT, SINH HỌC 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN, 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

CHU THỊ KIM DUNG

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VẬN DỤNG KIẾN THỨC
VÀO THỰC TIỄN CHO HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC PHẦN CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT
VÀ NĂNG LƯỢNG Ở ĐỘNG VẬT, SINH HỌC 11

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học môn Sinh học
Mã số: 08.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Cán bộ hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN ĐÌNH NHÂM

Tôi xin chân thành cảm ơn.
Quỳnh Lưu, tháng 8 năm 2018
Tác giả

Chu Thị Kim Dung

MỤC LỤC


5

Trang

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.

Từ viết tắt

6

14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.

STN
TB
TH
THPT
TN
TTN
VDKT
YK

Sau thực nghiệm
Trung bình
Thực hành
Trung học phổ thông
Thực nghiệm
Trước thực nghiệm
Vận dụng kiến thức
Yếu kém

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, HÌNH

Hình đại diện nhóm báo cáo dự án......................................................................PL13


8

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Xuất phát từ yêu cầu đổi mới của phương pháp dạy học
Điều 3, khoản 2, Luật giáo dục sửa đổi năm 2009 tiếp tục xác định “Hoạt động
giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lí học đi đôi với hành, giáo dục phải kết
hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn giáo dục nhà trường kết
hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”[30] . Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày
04 tháng 11 năm 2013 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo phần định hướng cũng đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và
đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá
trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và
phẩm chất người học. Học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà
trường kết hợpp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”[1]. Như vậy, mục tiêu của
giáo dục ngày nay là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, không những
có tri thức mà còn có năng lực để giải quyết các vấn đề thực tiễn, có nhân cách và
trí lực tốt để phục vụ đất nước.
Để thực hiện mục tiêu giáo dục,các cuộc cải cách giáo dục ở Việt nam được
thực hiện toàn diện từ chương trình, nội dung dạy học, phương pháp, phương tiện,
hình thức kiểm tra đánh giá cho tới hình thức tổ chức dạy học. Công cuộc cải cách
giáo dục đã tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ và toàn diện, trong đó thấy rõ hệ thống
các kiến thức trang bị cho HS ngày càng gắn liền với thực tế cuộc sống. Bộ môn
Sinh học không là ngoại lệ. Với mục đích giúp cho học sinh thấy rằng Sinh học rất
gần gũi với cuộc sống xung quanh, hoàn toàn rất thực tế và việc tiếp thu các kiến
thức Sinh học ở nhà trường không chỉ để thi cử mà nó còn là những công cụ đắc lực
để giúp các em giải quyết các vấn đề, tình huống đơn giản trong thực tế cuộc sống,

năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh trong dạy học phần Chuyển
hóa vật chất và năng lượng ở động vật, Sinh học 11”.
2. Mục đích nghiên cứu
- Xác định quy trình rèn luyện KNVDKT Sinh học vào thực tiễn cho học sinh.
- Đề xuất biện pháp sư phạm để rèn luyện KNVDKT Sinh học vào thực tiễn
cho học sinh.


10

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp và quy trình rèn luyện KNVD kiến thức vào thực tiễn trong dạy
học phần Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở động vật, Sinh học 11.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học phần Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở động vật, Sinh
học 11.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu xác định được quy trình và sử dụng các BPDH phù hợp thì có thể rèn
luyện cho HS KN VDKT vào thực tiễn trong quá trình dạy học phần Chuyển hóa
vật chất và năng lượng ở Động vật.
5.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về rèn luyện KNVDKT vào thực tiễn cho HS trong
dạy học Sinh học phổ thông.
- Tìm hiểu thực trạng rèn luyện KNVDKT vào thực tiễn trong dạy học sinh
học 11 trung học phổ thông ở các trường THPT huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An.
- Xây dựng quy trình và đề xuất biện pháp sư phạm nhằm rèn luyện KNVDKT
vào thực tiễn cho HS trong dạy học phần Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở
động vật.
- Thực nghiệm sư phạm

8. Cấu trúc của luận văn
Phần Mở đầu
Phần nội dung:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho HS trong
dạy học phần Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở động vật, Sinh học 11.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục


12

NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lược sử vấn đề nghiên cứu
Vấn đề kỹ năng nói chung và KNVDKT vào thực tiễn nói riêng được các nhà
tâm lý học và giáo dục học quan tâm nghiên cứu từ rất lâu.
Trên thế giới
Đemôcơrít nhà duy vật thời Hi Lạp cổ đại rất coi trọng việc giáo dục trong lao
động. Ông đã là người đầu tiên trong lịch sử đưa ra nguyên tắc "Kết hợp giáo dục
với lao động và cuộc sống sinh hoạt của trẻ em"[32].
John Dewey (1859 - 1952) là nhà khoa học giáo dục nổi tiếng người Mỹ với
tác phẩm “Kinh nghiệm và Giáo dục”. Ông trở thành "người cầm cờ của phong trào
giáo dục mới" của Mỹ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Ông chủ trương
xây dựng một nền giáo dục học đi đôi với hành, học trong hành, lý luận gắn bó chặt
chẽ với thực tiễn. Theo J.Dewey, “do giáo dục chính là bản thân cuộc sống nên nhà
trường không thể tách khỏi hoạt động thực tiễn và kiến thức không thể được áp đặt
từ bên ngoài , thông qua hoạt động thực tiễn trong học tập HS được phát triển KN

Đồng thời ông cũng đề xuất quy trình rèn luyện hệ thống kỹ năng này[28].
Về kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn có các tác giả:
Luận án tiến sĩ của tác giả Phan thị Tình ( 2012) “ Tăng cường vận dụng toán
học vào thực tiễn trong dạy học môn thống kê và quan hệ tuyến tính cho sinh viên
toán Đại học sư phạm ”[36].
Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy kỹ năng được nghiên cứu ở các góc độ
khác nhau nhưng nhìn chung có hai hướng chính:
Hướng thứ nhất: hướng nghiên cứu lý luận. Theo hướng này, các nhà khoa học
tập trung vào nghiên cứu và xây dựng cơ sở lý luận cơ bản về kỹ năng( khái niệm,
tiêu chí đánh giá…), trong đó xây dựng khái niệm kỹ năng rất được coi trọng.
Hướng thứ hai: Hướng nghiên cứu thực tiễn về kỹ năng. Các nhà khoa học đã
tập trung vào việc tiến hành các nghiên cứu về kỹ năng trong từng loại hình nghề


14

nghiệp nhất định như: Kỹ năng nghề dạy học, kỹ năng nghề luật sư, kỹ năng nghề
cảnh sát,… Theo hướng này, các tác giả trình bày các phương pháp, điều kiện và
các bước hình thành kỹ năng, phân biệt rõ kỹ năng và kỹ xảo.Trong qúa trình hình
thành kỹ năng với tư cách là khả năng thực hiện một hành động nào đó dựa trên cơ
sở những tri thức và kỹ xảo được hoàn thiện dần trong quá trình hoạt động. Các tác
giả cũng đặc biệt nhấn mạnh vai trò tích cực của người học trong quá trình hình
thành kỹ năng, người học càng tích cực thì kỹ năng càng nhanh chóng hình thành và
hoàn thiện.
Như vậy, xuất phát từ đối tượng của các lĩnh vực hoạt động khác nhau nên có
các hướng nghiên cứu kỹ năng khác nhau. Tuy nhiên, các tác giả đều thống nhất ở
quan điểm: Để hình thành kỹ năng thì cần có tri thức và sự rèn luyện tích cực của
chủ thể hoạt động.
1.2. Khái quát về KNVDKT vào thực tiễn
1.2.1. Khái niệm kỹ năng

lựa chọn tốt các phương án để giải quyết vấn đề có nghĩa là đã có KNVDKT. Các
nhà nghiên cứu giáo dục chia vận dụng thành 2 cấp độ: Vận dụng thấp là HS có thể
sử dụng các kiến thức và phương pháp đã được học để giải quyết tình huống tương tự
với tình huống đã gặp trong quá trình học tập. Vận dụng cao là khả năng học sinh vận
dụng kiến thức và phương pháp đã được lĩnh hội ở trên lớp để giải quyết hiệu quả tình
huống mới chưa gặp trước đây, tình huống mới này có thể là tình huống xảy ra trong
học tập hoặc là tình huống có thực trong cuộc sống.
1.2.3. Khái niệm thực tiễn
Quan niệm về thực tiễn đã xuất hiện rất sớm, trước khi triết học Mac – Lênin
ra đời. Đại diện tiêu biểu cho chủ nghĩa duy vật trước Mác như Điđrô cho rằng thực
tiễn là hoạt động thực nghiệm khoa học. Theo triết học duy vật biện chứng, khái
niệm thực tiễn dùng để chỉ toàn bộ hoạt động vật chất có tính mục đích, mang tính
lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội[5].
Với nhận thức, thực tiễn có vai trò quan trọng. Trước hết, thực tiễn là cơ sở
của nhận thức. Mọi nhận thức của con người đều bắt nguồn từ nhu cầu giải quyết
các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Đồng thời, chính thực tiễn lại cung cấp cho


16

nhận thức những căn cứ để giải quyết vấn đề đó. Nhận thức phát triển trên cơ sở
thực tiễn. Chính thực tiễn là yếu tố định hướng và thức đẩy tốc độ quá trình nhận
thức. Thực tiễn là mục đích của nhận thức. Mọi tri thức của con người sáng tạo ra
đều nhằm giải đáp các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn. Tri thức mà con người sáng
tạo ra có đúng đắn hay không chỉ có thể kiểm tra, chứng minh bởi thực tiễn. Do đó,
thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý[5].
1.2.4. Kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Từ những khái niệm trên có thể khái quát: Kỹ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn là khả năng chủ thể sử dụng các kiến thức đã lĩnh hội và thực hiện thao
tác hành động để giải quyết hiệu quả các vấn đề trong thực tế cuộc sống.

luyện KNVDKT cho HS phù hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trường hiện nay.
1.2.5.2. Vận dụng kiến thức vào thực tiễn vừa giúp học sinh củng cố, nâng cao
kiến thức vừa góp phần rèn luyện các kỹ năng học tập và kỹ năng sống
Trong quá trình VDKT vào giải quyết các vấn đề thực tiễn một mặt HS sẽ
được củng cố các kiến thức đã lĩnh hội, củng cố niềm tin vào khoa học. Mặt khác
những nảy sinh trong quá trình nghiên cứu sẽ giúp các em chủ động tìm hiểu, khai
thác thêm kiến thức mới.
Có thể nói, KNVDKT là tổng hòa nhiều kỹ năng khác nhau. Khi tham gia giải
quyết vấn đề thực tiễn, HS cần phối hợp nhiều các kỹ năng học tập khác nhau như
kỹ năng quan sát, kỹ năng suy luận, kỹ năng thuyết trình... Hơn nữa, trong quá trình
rèn luyện KNVDKT vào thực tiễn, HS không chỉ sử dụng các kiến thức vốn có của
mình mà còn có sự kết hợp các thành viên trong nhóm thông qua trao đổi, thảo luận,
phản biện..., từ đó mỗi cá nhân vừa học hỏi từ bạn bè, tăng tính đoàn kết hợp tác
trong nhóm. Mỗi cá nhân đều có cơ hội bày tỏ ý kiến của mình, tranh luận và lắng
nghe ý kiến các thành viên khác... Qua đó rèn tính tự lập, tự giác, biết lắng nghe,
chia sẻ với người khác.
1.2.5.3. Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn thể hiện tính
đúng đắn trong quá trình hình thành nhận thức của học sinh
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của dạy học ở nhà trường là phát triển
tư duy cho người học. Quá trình nhận thức của HS diễn ra theo 4 giai đoạn từ thấp
đến cao:
Giai đoạn thứ nhất: Tri giác tài liệu, đây là giai đoạn khởi đầu có ý nghĩa định


18

hướng cho quá trình nhận thức về sau. HS sử dụng các giác quan để thu thập những
tài liệu cảm tính cần thiết. Tri giác cao nhất chính là sự quan sát chủ động của học
sinh trong quá trình học tập. Nhờ quan sát có chủ định mà HS thu được những hình
ảnh tương đối trọn vẹn về sự vật, hiện tượng. Tuy nhiên, những tài liệu thu thập

triển năng lực tập trung hoàn thiện sản phẩm cuối cùng của quá trình dạy học, quan
tâm đến chất lượng đầu ra. Mục tiêu hướng tới của dạy học phát triển năng lực là
phát triển năng lực người học, phát triển toàn diện về nhân cách trong đó đặc biệt
nhấn mạnh năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống có trong thực tế cuộc
sống nhằm hoàn thiện cho người học năng lực giải quyết các vấn đề của cuộc sống
và nghề nghiệp sau này. Như vậy, chúng ta rèn luyện cho HS KNVDKT vào thực
tiễn thể hiện sự đúng đắn trong việc thực hiện đổi mới giáo dục.
Trong quá trình rèn luyện KNVDKT vào thực tiễn, các em sẽ bộc lộ được khả
năng của bản thân và thiên hướng nghề nghiệp trong tương lai. Riêng đối với bộ
môn Sinh học trong nhà trường phổ thông, khi các em sử dụng kiến thức Sinh học
đã được trang bị trong nhà trường để giải quyết vấn đề thực tiễn sẽ một mặt tạo
hứng thú cho các em trong học tập, mặt khác, đây cũng là tiền đề để HS lựa chọn
nghề nghiệp. Vì yêu thích thiên nhiên, sinh vật hay chăm sóc sức khỏe mà các em
sẽ ước mong được trở thành những kỹ sư hay bác sỹ giỏi... Rèn luyện cho HS kỹ
năng VDKT vào thực tiễn là chúng ta đang thực hiện mục tiêu đào tạo nên những
người lao động lành nghề trong tương lai. Chúng ta thiếu những kỹ thuật viên, công
nhân lành nghề. Nếu có KNVDKT thành thạo HS sẽ có khả năng thích ứng cao khi
đứng trước một vấn đề cần giải quyết. Các em không những giải quyết vấn đề bằng
những giải pháp hiệu quả mà còn có khả năng sáng tạo ra những hướng đi mới tối
ưu hơn.
Môn Sinh học ở phổ thông sẽ cung cấp cho các em các kiến thức liên quan
đến tất cả các lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp và đời sống con người.
Những hiểu biết về cơ thể sống, các cơ chế, hiện tượng, các quy luật Sinh học…sẽ
giúp các em độc lập, sáng tạo vận dụng kiến thức này trong tất cả các lĩnh vực cuộc
sống, có thái độ ứng xử tốt với môi trường. Vì vậy dạy học Sinh học góp phần đào
tạo những con người biết làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, có nhân cách: có văn
hóa, khoa học, có năng lực nghề nghiệp, lao động tự chủ chủ sáng tạo, có kỷ luật,
giàu lòng nhân ái, sống lành mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước...



4. Giải quyết vấn đề HS: Lập kế hoạch, đề xuất các biện pháp, cách thức và
thực tiễn
thực hiện các giải pháp để giải quyết vấn đề thực tiễn
5. Kết luận và mở rộng - Rút ra kết luận vấn đề thực tiễn
vấn đề thực tiễn
- Đề xuất các ý tưởng mới về vấn đề thực tiễn liên quan.
1.3. Các biện pháp rèn luyện KNVDKT vào thực tiễn
Để rèn luyện kỹ năng VDKT vào thực tiễn đòi hỏi học sinh phải kết hợp nhiều
kỹ năng, vì vậy trong quá trình dạy học GV cần kết hợp sử dụng nhiều phương pháp
và biện pháp dạy học khác nhau.
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi sử dụng 03 biện pháp để rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong dạy học phần kiến thức Chuyển hóa
vật chất và năng lượng ở Động vật, Sinh học 11
- Sử dụng câu hỏi - bài tập
- Sử dụng bài tập tình huống
- Dạy học dự án


21

Đặc biệt trong đề tài này chúng tôi quan tân đến việc sử dụng CH–BT, bài tập
tình huống, dự án dạy học chứa đựng các vấn đề liên quan đến thực tiễn.
1.3.1. Sử dụng câu hỏi - bài tập liên quan đến thực tiễn
1.3.1.1. Khái niệm câu hỏi - bài tập
Theo tác giả Nguyễn Văn Hùng và Thái Xuân Đệ trong Từ điển tiếng Việt phổ
thông: “Bài tập là bài ra cho học sinh làm để tập vận dụng những điều đã học”[20].
Vậy CH–BH thực tiễn (trong dạy học Sinh học) là loại câu hỏi – bài tập chứa
đựng vấn đề thực tiễn mà học sinh nhận được và cần giải quyết bằng cách sử dụng
những kiến thức đã lĩnh hội kết hợp với suy luận logic và phương pháp giải bài tập
Sinh học…

được sử dụng phù hợp, khéo léo thì câu hỏi – bài tập sẽ đem lại hiệu quả cao trong
quá trình dạy học.
1.3.1.3. Nguyên tắc xây dựng hệ thống kiến thức và bài tập Sinh học gắn liền
với thực tiễn
Dựa vào mục đích, nội dung chương trình, phương pháp, phương tiện dạy học
Sinh học và tâm lý HS, sự phát triển của công nghệ thông tin, khi thiết kế các bài
tập Sinh học có nội dung gắn liền với thực tiễn cần tuân theo một số nguyên tắc sau:
 Đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính hiện đại

Trong một bài tập thực tiễn, bên cạnh nội dung kiến thức Sinh học nó còn có
những dữ liệu thực tiễn. Những dữ liệu này phải chính xác, hiện đại và phù hợp với
thực tế cuộc sống.
 Gần gũi với cuộc sống hành ngày của học sinh

CH - BT thực tiễn có nội dung về những vấn đề trong cuộc sống thực tế của
HS trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, sức khỏe, dinh dưỡng…, nhờ đó sẽ tạo
cho các em động cơ và hứng thú mạnh mẽ khi giải.
 Bám sát chương trình

Các bài tập thực tiễn cần phải có nội dung sát với chương trình mà HS được
học. Nếu BT thực tiễn có nội dung mới về kiến thức Sinh học thì nên dẫn dắt ngay
trong câu hỏi và kiến thức đưa vào gần gũi với kiến thức giáo khoa và đảm bảo
chuẩn kiến thức kỹ năng bộ môn Sinh học để tạo được động lực cho học sinh giải
bài tập đó.
 Đảm bảo tính hợp lý trong dạy học


23

Các tình huống trong thực tế thường rất phức tạp, do đó cần làm đơn giản tình

CH – BT vận dụng cao: Đây là dạng CH – BT thường dùng để phân hóa, lựa chọ
HS khá, giỏi. Để giải quyết dạng bài này HS sử dụng các kiến thức, phương pháp đã
có để giải quyết tình huống nảy sinh trong hoàn cảnh mới chưa có trong quá trình
học tập.
Như vậy, vận dụng kiến thức vào thực tiễn thuộc vào dạng bài tập vận dụng
cao đòi hỏi HS phải nắm vững kiến thức và rèn luyện theo quy trình trong thời gian


24

nhất định.
1.3.2. Sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện KNVDKT vào thực tiễn
1.3.2.1. Khái niệm bài tập tình huống
 Tình huống dạy học

Theo tác giải Nguyễn Văn Hùng và Thái Xuân Đệ trong cuốn Từ Điển Tiếng
Việt, tình huống là toàn thể những sự việc xảy ra tại một nơi, trong một thời gian
hoặc một thời điểm[20].
Hay tình huống là những sự kiện, sự việc, hoàn cảnh có mâu thuẫn, có vấn đề
cần được giải quyết.
Một tình huống thông thường xẩy ra trong thực tế chỉ trở thành tình huống dạy
học khi mà GV lồng ghép những nội dung cần truyền thụ vào các tình huống đó và
cấu trúc nó sao cho phù hợp với mục tiêu dạy học.
Tình huống dạy học mô tả những sự kiện, hoàn cảnh, có thực trong đời sống
sản xuất hoặc được hư cấu và đưa vào dạy học nhằm đạt được mục tiêu dạy học.
Để tình huống thông thường trở thành tình huống dạy học cẩn đảm bảo các
yêu cầu sau:
Tình huống đưa ra phải có tính thời sự, sát với thực tế, chứa đựng đầy đủ
thông tin giúp người học có thể sử dụng để giải quyết vấn đề.
Tình huống sử dụng trong dạy học phải kích thích tính tư duy, tích cực, sáng

Dạy - học bằng tình huống là một phương pháp dạy học mà GV đưa ra các
tình huống có thật hoặc hư cấu chứa đựng nội dung bài học nhằm đạt mục tiêu dạy
học[16].
Theo Phan Trọng Ngọ, PPDH tình huống là thông qua việc giải quyết những
tình huống, người học sẽ có khả năng thích ứng tốt nhất với xã hội luôn biến đổi
không ngừng[27].
1.3.2.2. Vai trò của bài tập tình huống
Các tình huống đưa vào bài tập là tình huống giả định hoặc có thật trong thực
tế cuộc sống. Do đó, khi sử dụng bài tập tình huống trong dạy học sẽ đem lại hiệu
quả nhiều mặt.
BTTH nâng cao tính thực tiễn của môn học. Tình huống có vấn đề trong mỗi
bài tập mà GV cung cấp rất gần gũi trong cuộc sống, đòi hỏi HS phải sử dụng các
kiến thức và phương pháp đã lĩnh hội để giải quyết, từ đó các em vừa khắc sâu kiến
thức vừa có cơ hội rèn luyện KNVDKT vào thực tiễn. BTTH giúp HS có điều kiện
vận dụng kiến thức đã học để giải quyết tình huống, sự việc cụ thể xảy ra trên thực
tế. Trong quá trình giải quyết vấn đề có trong bài tập HS vừa được củng cố kiến



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status