GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - Pdf 53

ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
SỞ KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ

ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Đề tài :

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
(Bản đã chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng)

Báo cáo kết quả nghiên cứu

Chủ nhiệm đề tài : Thạc sĩ NGƯT Nguyễn Văn Cương

Tháng 6 / 2008
1


BGD&ĐT
BGH
BTVH
BTTiH
BTTHCS
BTTHPT
BGĐ
CMC

XHHGD
XHHT
XH
XH - KT
VN
UBND

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
--------Bộ Giáo dục và Đào tạo
Ban Giám Hiệu
Bổ túc văn hóa
Bổ túc Tiểu học
Bổ túc Trung học cơ sở
Bổ túc Trung học phổ thông
Ban Giám Đốc
Chống mù chữ
Chống mù chữ - phổ cập giáo dục Tiểu học
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Chương trình giáo dục
Chương trình
Cán bộ quản lý
Đại học – Cao đẳng – Trung cấp chuyên nghiệp
Giáo dục
Giáo dục chính quy
Giáo dục không chính quy
Giáo dục thường xuyên
Giáo dục cho mọi người
Giáo viên – nhân viên
Giáo viên
Học sinh

Lý do chọn đề tài.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề trong và ngoài nước.

2. Mục đích nghiên cứu.
3. Nội dung nghiên cứu.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu.
6. Cấu trúc đề tài nghiên cứu :
- Chương 1 : Cơ sở lý luận về giáo dục, Giáo dục thường xuyên và chất lượng
giáo dục, TT.GDTX
- Chương 2 : Thực trạng chất lượng GDTX tại các TT.GDTX, trường BTVH
tại TP.HCM
- Đề xuất nội dung chương 3.
II.- CHƯƠNG 1.
-

Cơ sở lý luận.
Các khái niệm cơ bản.

III.- CHƯƠNG 2.
-

Thực trạng chất lượng GDTX tại các TT.GDTX, trường BTVH được khảo
sát.

-

Nhận định chung.

IV.- CHƯƠNG 3.

b) Chương trình GD đáp ứng yêu cầu của người học, cập nhật
kiến thức, kĩ năng, chuyển giao công nghệ;
c) Chương trình đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ về
chuyên môn, nghiệp vụ;
d) Chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống GD
quốc dân.
2. Các hình thức thực hiện chương trình GDTX để lấy văn bằng của
hệ thống GD quốc dân bao gồm : Vừa làm vừa học, học từ xa, tự
học có hướng dẫn.
Các điều trên của Luật GD đã nêu rõ vị trí, chức năng của GDTX trong hệ
thống GD quốc dân hiện nay. Trong chiến lược phát triển GD 2001 – 2010 của Thủ
tướng Chính phủ có ghi : “Phát triển GD không chính qui” (*) như là một hình thức
huy động tiềm năng của cộng đồng để xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội cho mọi
người, ở mọi trình độ, mọi lứa tuổi, mọi nơi có thể học tập suốt đời phù hợp với hoàn
cảnh và điều kiện của mỗi cá nhân, góp phần nâng cao dân trí và chất lượng nguồn
lực”. Như vậy GDTX là một bộ phận không thể thiếu trong việc xây dựng xã hội học
tập và nâng cao nguồn nhân lực phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội của đất nước
trong giai đoạn hội nhập và phát triển.
Trong lịch sử GD Việt Nam, GDTX đã phát triển qua nhiều giai đoạn thăng
trầm nhưng đều có đóng góp rất lớn cho sự nghiệp GD và nâng cao dân trí, dân sinh :
góp phần đạt chuẩn xóa mù chữ, phổ cập Tiểu học của cả nước và đang góp phần
phổ cập GD bậc THCS, bậc Trung học phổ thông. Sự phát triển các Trung tâm học
(*)

GD không chính qui (theo Luật GD 1998) được đổi thành GDTX (theo Luật GD 2005)

4


tập cộng đồng hiện nay đã góp phần nâng cao dân trí – dân sinh trong cả nước nhất

lượng. Tuy nhiên so với yêu cầu hiện nay thì chất lượng GD tại các TT.GDTX còn
yếu; còn thiếu các nội dung để dạy chữ - dạy người nhất là các hoạt động GD về đạo
đức, văn thể mỹ. Chất lượng các nội dung chương trình dạy tại các TT.GDTX còn
thấp, chất lượng dạy các chuyên đề không ổn định, chưa cập nhật còn phù hợp với
yêu cầu học tập của nhân dân.
Trong tài liệu hội nghị tổng kết năm học 2005 – 2006, nhiệm vụ năm học
2006 – 2007 Giáo dục thường xuyên tháng 09/2006 trang 8 có viết : “… Ngành học
vẫn còn phải phấn đấu nhiều hơn để các TT.GDTX năng động hơn, để nâng cao chất
lượng GD đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho sự phát triển của thành phố; phải
phát triển và duy trì mạng lưới TT.HTCĐ để tạo nền tảng góp phần xây dựng xã hội
học tập. Đồng thời ngành học cũng phải tiếp tục khắc phục những thiếu sót tồn tại về
5


hồ sơ học vụ, thi cử, về quản lý văn hóa ngoài giờ; nâng cao hiệu quả xóa mù chữ và
bổ túc tiểu học; đặc biệt là có sự quan tâm nhanh chóng đầu tư cho GDTX”.
Trong kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 của Sở Giáo dục và Đào tạo có viết :
“Củng cố nâng cao chất lượng hoạt động các TT.GDTX, phát triển TT.HTCĐ ở các
xã, phường, thị trấn …”.
Để thực hiện quan điểm chỉ đạo phát triển GD của Đảng và thực hiện Luật
GD, Chính phủ đã xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược phát triển GD giai đoạn
2001 – 2010 với tư tưởng chỉ đạo là : “ … Khắc phục tình trạng bất cập trên nhiều
lĩnh vực; tiếp tục đổi mới một cách có hệ thống và đồng bộ; tạo cơ sở để nâng cao rõ
rệt chất lượng và hiệu quả GD; phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa chấn hưng đất nước, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, chóng sánh vai
cùng các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới …”.
Trong báo cáo của Chính phủ cho Quốc hội (14/10/2004) về tình hình GD thì
mục 2, phần II (một số nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp) có viết : … “ Nâng cao
rõ rệt chất lượng và hiệu quả giáo dục, Chính phủ coi đây là nhiệm vụ trọng tâm cơ
bản, lâu dài và sẽ tập trung chỉ đạo tiếp tục đổi mới mục tiêu, nội dung GD đặc biệt

trình của GDTX theo đặc thù của thành phố. Do đó việc nghiên cứu thực trạng chất
lượng GDTX để tìm các giải pháp khả thi cho việc nâng cao chất lượng GDTX để
tìm các giải pháp khả thi cho việc nâng cao chất lượng GDTX của thành phố rất cần
thiết để thực hiện chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về nâng cao chất lượng GD&ĐT
trong giai đoạn 2001 – 2010.
2. Mục tiêu đề tài :
Với yêu cầu nâng cao chất lượng GDTX ở các đơn vị GDTX tại TP.HCM, đề
tài được thực hiện nhằm các mục tiêu sau :
a. Khảo sát thực trạng chất lượng GD ở các Trung tâm Giáo dục thường
xuyên, trường Bổ túc văn hóa tại TP.HCM; đánh giá nhận xét thực chất chất lượng
GDTX tại TP.HCM.
b. Từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng GDTX ở các Trung tâm
GDTX tại TP.HCM.
Bổ sung tài liệu đã viết ở giai đoạn 1, biên soạn tài liệu mới cho giai đoạn 2
về học tập chuyên đề để nâng cao chất lượng GD chuyên đề và đáp ứng nhu cầu học
tập của nhân dân tại TT.GDTX, ở TP.HCM giai đoạn 2006 – 2010 (trong đề án xây
dựng xã hội học tập 2006 – 2010). Các tài liệu này Bộ GD&ĐT chưa có ban hành,
do địa phương soạn theo yêu cầu học tập của nhân dân, các tài liệu này rất cần thiết
để duy trì sự tồn tại, nâng cao chất lượng học tập tại các TT.HTCĐ và TT.GDTX.
3. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước thuộc lĩnh vực
của đề tài.
a. Tình hình nghiên cứu ngoài nước :
- UNESCO đã có chương trình nghiên cứu về GD cho mọi người ở châu Á –
Thái Bình Dương, GD cho người lớn từ 1987; viết tài liệu và tập huấn của APPEAL
A TLP_CE tập 1 đến 8 về GDTX; xây dựng tài liệu giáo dục cho mọi người yêu cầu
khẩn thiết về chất lượng UNESCO 2004.
- Ở mỗi nước đều có chương trình GDTX hoặc GD cho người lớn trong hệ
thống GD quốc dân và hướng đến học tập suốt đời, xây dựng XH học tập trong thề
kỷ 21 nhất là các nước phát triển.
b. Tình hình nghiên cứu trong nước :

đề tài các Trung tâm học tập cộng đồng theo mục tiêu giáo dục và tiêu chí về chất
lượng GDTX. Dự kiến thăm dò ý kiến của CBQL, giáo viên, học viên các đơn vị
được khảo sát.
b. Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng GDTX tại các TT.GDTX,
trường BTVH, tại TP.HCM. (GV; điều kiện phương tiện dạy học; chương trình nội
dung phương pháp; kiểm tra thi cử; quản lý, người học …)
4. Nội dung nghiên cứu (liệt kê và mô tả những nội dung cần nghiên cứu,
nêu bật những nội dung mới và phù hợp để giải quyết vấn đề đặt ra, kể cả những dự
kiến hoạt động phối hợp để chuyển giao kết quả nghiên cứu đến người sử dụng).
a. Thực trạng chất lượng GD tại các Trung tâm GDTX, trường BTVH tại
TP.HCM.
- Chất lượng GD ở các lớp Bổ túc văn hóa (BTVH), ngoại ngữ, tin học;
chuyên đề tại 10 TT.GDTX Quận, Huyện / 24 TT.GDTX Quận Huyện và 2 TT cấp
TP, 2 trường BTVH / 3 trường hiện có.
- Chất lượng GD ở các lớp xóa mù chữ, BTVH, chuyên đề tại 6/30
TT.GDTX, trường BTVH hiện có tại TP.HCM.
8


- Nhận xét, đánh giá thực trạng, tìm nguyên nhân.
b. Đề xuất các giải pháp khả thi để nâng cao chất lượng GD tại TT.GDTX, tại
TP.HCM (các giải pháp về nhân sự, về điểu kiện phục vụ dạy học; về phương pháp
dạy học cho người lớn; về chương trình tài liệu học tập, thi cử, về chế độ chính sách
- pháp quy). Khắc phục những mặt yếu kém về chất lượng GD tại TT.GDTX hiện
nay. Thử nghiệm một số giải pháp tại các TT.GDTX.
c) Bổ sung tài liệu học tập chuyên đề giai đoạn 1, biên soạn mới tài liệu học
tập chuyên đề giai đoạn 2 tại các TT.GDTX, nhằm nâng cao chất lượng GD và đáp
ứng nhu cầu học tập đa dạng của người dân góp phần xây dựng xã hội học tập ở
TP.HCM giai đoạn 2006 – 2010 (có sự phối hợp liên ngành của thành phố để biên
soạn tài liệu).

A.- TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
Ở Việt Nam, trãi qua hơn nửa thế kỷ Giáo dục thường xuyên (GDTX) mang
tên bình dân học vụ, bổ túc văn hóa, giáo dục không chính qui rồi trở lại GDTX
(Luật GD 2005) là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc gia. Nhiệm vụ của
GDTX là xóa mù chữ, bổ túc văn hóa từ Tiểu học đến Trung học phổ thông; giáo
dục nghề nghiệp và đại học theo con đường học tại chức - học từ xa; cung cấp kiến
thức cho người dân để góp phần nâng cao dân trí, dân sinh giúp người dân có điều
kiện học tập thường xuyên, học suốt đời sau giai đoạn học chính qui.
Điều 1 của Quyết định 112/2005/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án “Xây dựng
xã hội học tập (XHHT) giai đoạn 2015 – 2010 có ghi : “ … xây dựng cả nước trở
thành một XHHT dựa trên nền tảng phát triển đồng thời gắn kết, liên thông cả 2 bộ
phận cấu thành : Giáo dục chính qui và GDTX của hệ thống giáo dục quốc dân,
trong đó GDTX thực hiện các chương trình học tập nhằm tạo điều kiện tốt nhất, đáp
ứng mọi yêu cầu học tập suốt đời, học tập liên tục của mọi công dân sẽ là một bộ
phận có chức năng quan trọng, làm tiền đề xây dựng XHHT …”
Điều 44 Luật GD 2005 : “GDTX giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên
tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ
học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự
tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội. Nhà nước có chính sách phát triển
GDTX, thực hiện giáo dục cho mọi người, xây dựng XHHT”.
Phát triển GDTX ở Việt Nam và TP.HCM.
1/- GDTX ở Việt Nam :
GDTX của Việt Nam khởi đầu từ phong trào XMC từ năm 1945 mà Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã xem việc chống mù chữ là việc thứ hai sau việc chống nạn đói
1945. Ngày 08/9/1945 Chính phủ ban hành 3 Sắc lệnh 17, 19, 20 để thành lập Nha
Bình dân học vụ để thiết lập những lớp học bình dân buổi tối cho nông dân, thợ
thuyền. Từ đó, phong trào XMC, bình dân học vụ, bổ túc văn hóa (BTVH) phát
triển, hình thành các trường Tiểu học, Trung học theo học chương trình BTVH.
Chương trình BTVH được biên soạn rút gọn, thiết thực phù hợp với các đối tượng
theo học như chương trình phổ thông lao động, BTVH tại chức.

Đến Luật Giáo dục 1998 thì GDTX được đổi thành phương thức giáo dục
GD không chính qui, điều 40, 41, 42 xác định nội dung, phương pháp, cơ sở của GD
không chính qui góp phần đẩy nhanh tiến độ XMC, phổ cập GD Tiểu học, THCS,
THPT và đến 2002 cả nước đã có 15 tỉnh, thành phố hoàn thành PC.THCS.
Luật GD 2005 thì GD không chính qui được đổi lại thành GDTX, GDTX là
một bộ phận của hệ thống GD quốc dân, GDTX và GD chính qui là trụ cột của xã
hội học tập. Số lượng các TT.GDTX ngày càng tăng, hoạt động đa dạng đáp ứng
được các nhu cầu học tập của nhân dân phù hợp với xu thế phát triển giáo dục.
Mô hình chính của GDTX là Trung tâm giáo dục thường xuyên (TT.GDTX),
Trung tâm ngoại ngữ - tin học (TT.NG-TH), Trung tâm học tập cộng đồng
(TT.HTCĐ) và các cơ sở ĐH-CĐ có đào tạo tại chức, từ xa, e.learning. Các mô hình
11


này hoạt động hiệu quả cung ứng cơ hội học tập cho hàng triệu người được học tập
theo phương thức không chính qui.
Năm học
Trường / Trung tâm

2001 –
2002

2002 –
2003

2003 –
2004

2004 –
2005


577

573

- TT.GDTX Tỉnh

55

56

58

61

62

63

(Nguồn Vụ GDTX Bộ GD&ĐT tháng 10/2007)
Năm học 2005 – 2006 cả nước có 7.384 TT.HTCĐ; 698 Trung tâm tin học –
ngoại ngữ; 11 trường Đại học có đào tạo từ xa.
Năm học 2006 – 2007 :
- TT.HTCĐ
: 8.355
- NN – TH
: 750
- Đào tạo từ xa
: 12 trường
- 21 tỉnh, thành phố có 100% xã phường có TT.HTCĐ : Bắc Kạn, Bắc

75.896

43.814

/

1.722

/

3.208

BT.THCS BT.THPT

209.170

380.171

532.774
9.171

21.992

Tin học

Ngoại
ngữ

Từ xa


nghiệp vụ; chương trình dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công
chức công tác tại vùng dân tộc, miền núi theo kế hoạch hằng năm của
địa phương;
d) Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và trung học
phổ thông.
Về mục tiêu : GDTX phải nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, góp phần
bồi dưỡng nhân tài, tạo cơ hội thực hiện GD cho mọi người; thực hiện mục tiêu
XMC, phổ cập GD trong cả nước.
Về đối tượng : GDTX mở rộng đối tượng người học từ chưa biết chữ đến biết
chữ muốn nâng cao trình độ; từ nhân dân lao động đến cán bộ, công chức, sinh viên,
học sinh muốn học thêm. GDTX chú trọng đến vùng sâu, vùng xa đồng bào dân tộc,
trẻ khuyết tật lang thang cơ nhỡ, nữ giới. GDTX đáp ứng nhu cầu học tập thường
xuyên và suốt đời.
Về chương trình học của GDTX thì đa dạng, phong phú từ chương trình
XMC, sau XMC; ngoại ngữ - tin học, nghề, bồi dưỡng nâng cao trình độ kiến thức
kỹ năng đến các chương trình thi các văn bằng quốc gia như BTVH, học TCCN, CĐ,
ĐH theo hình thức học tại chức, từ xa, trực tuyến; các chương trình đáp ứng sở thích
cá nhân và hướng tới tương lai …
Thực tiễn, các chương trình GDTX hiện nay nhằm đáp ứng nhu cầu học tập
của mọi đối tượng, mọi lứa tuổi nhất là đối tượng ngoài nhà trường chính qui và
trong nhà trường chính quy muốn nâng cao trình độ.
Tại TP.HCM, đối tượng theo học các chương trình GDTX bao gồm :
- Các đối tượng không có điều kiện học tập tại các nhà trường chính quy.
- Các đối tượng nhập cư vào thành phố để sinh cơ lập nghiệp nhưng học hành
dỡ dang.
- Các đối tượng muốn nâng cao trình độ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp để
đáp ứng yêu cầu lao động sản xuất, làm việc, học hành trước yêu cầu cao về nguồn
nhân lực cho sự phát triển và hội nhập của thành phố.
Thành tựu của GDTX trong nhiều năm qua là góp phần hoàn thành XMC,
hoàn thành phổ cập Tiểu học trong cả nước và đang hoàn thành PC bậc THCS; hàng

14/10/2004 trang 7 phần 5. Giáo dục không chính qui có ghi … “Qui mô GD không
chính quy phát triển nhanh, nhưng công tác quản lý còn yếu kém và điều kiện đảm
bảo chất lượng còn rất thấp. Việc quản lý lỏng lẻo đối với các hệ liên kết đào tạo có
cấp bằng đã dẫn đến tình trạng “học giả, bằng thật”. Đây là một khâu yếu nghiêm
trọng của GD không chính quy ở nước ta. Các chương trình BTVH, phổ cập kiến
thức, kỹ năng các ngành nghề đơn giản, về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu. các
chương trình GD từ xa vẫn đang trong quá trình xây dựng, tiến độ còn chậm, chất
lượng còn thấp. Đội ngũ GV không chính quy nhìn chung còn thiếu và trình độ thấp;
cơ sở vật chất còn nghèo nàn, điều kiện để tổ chức thực hành, thực nghiệm còn rất
hạn chế …”. Để thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp, báo cáo của
Chính phủ có đề ra sáu nhiệm vụ trong đó : nhiệm vụ 1 là “Đáp ứng tốt hơn nhu cầu
học tập của nhân dân, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, xây dựng xã hội học tập”;
nhiệm vụ 2 là “Nâng cao rõ rệt chất lượng và hiệu quả GD” … Chính phủ coi đây là
nhiệm vụ trọng tâm cơ bản, lâu dài và sẽ tập trung chỉ đạo tiếp tục đổi mới mục tiêu,
nội dung GD, đặc biệt là cách dạy cách học trong nhà trường, tăng cường các điều
kiện về đội ngũ giáo viên, giảng viên, cơ sở vật chất kỹ thuật theo hướng chuẩn hóa,
hiện đại hóa … Chính phủ đã xây dựng và chỉ đạo thực hiện Chiến lược phát triển
14


GD giai đoạn 2001 – 2010 với tư tưởng chỉ đạo là : “Khắc phục tình trạng bất cập
trên nhiều lĩnh vực, tiếp tục đổi mới một cách có hệ thống và đồng bộ; tạo cơ sở để
nâng cao rõ rệt chất lượng và hiệu quả GD; phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, chấn hưng đất nước, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững,
chóng sánh vai cùng các nước phát triển trong khu vực và thế giới” (Trang 60, Tài
liệu bổ sung về tình hình giáo dục Bộ GD&ĐT, Hà Nội tháng 10/2004).
2/- Giáo dục thường xuyên tại TP.HCM :
Tại TP.HCM, trong các năm qua GDTX cũng có phát triển về qui mô cơ sở
và lượng người học; phát triển nội dung và chương trình học tập cơ bản đáp ứng nhu
cầu học của nhân dân thành phố. Đến tháng 5/2007 thì số cơ sở GDTX tại thành phố



nhiệm vụ năm học 2006 2007 GDTX - Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM tháng
9/2006).
Để thực hiện kết luận của Hội nghị lần thứ 6 BCH TW khóa IX, tiếp tục thực
hiện NQ TW2 khóa VIII về GD ( … “ Nâng cao chất lượng, hiệu quả GD, tạo
chuyển biến cơ bản về chất lượng GD, trước hết nâng cao chất lượng đội ngũ nhà
giáo, thực hiện GD toàn diện, đặc biệt là GD tư tưởng chính trị, nhân cách, đạo đức
lối sống cho người học …) thì ngành Giáo dục và Đào tạo cần có những giải pháp cụ
thể như trong Tài liệu Bổ sung của Bộ Giáo dục và Đào tạo gởi Quốc hội ngày
14/10/2004 đồng thời cũng cần có những nghiên cứu khoa học về GD, GDTX để bổ
sung những giải pháp phù hợp ở từng địa phương nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
quả GDTX.
B. CÁC KHÁI NIỆM.
1. Chất lượng.
Chất lượng đó là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người sự vật,
hiện tượng” (Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên – NXB Đà Nẵng 2002)
+ “Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu”
Chất lượng thường gắn với “chất lượng tốt” “chất lượng cao” nên người ta có
thể đánh giá hoặc đo lường chất lượng bằng các đặc điểm về tính năng và phẩm chất
cao nhất, có thể so sánh hai sản phẩm hay dịch vụ cùng loại và chỉ ra cái nào có chất
lượng cao hơn, do vậy người ta quy định những tiêu chuẩn chất lượng đáp ứng yêu
cầu tối thiểu của việc sử dụng và tiêu chuẩn chất lượng được coi là tồn tại và cố định
trong một thời gian dài. Đây là quan niệm chất lượng phụ thuộc vào mục tiêu và xem
chất lượng ở đầu ra (sản phẩm là chính).
+ Theo quan niệm khác thì chất lượng được xác định bởi khách hàng (đối
tượng phục vụ) mà khách hàng cảm thấy hài lòng, thỏa mãn, vui sướng khi sản phẩm
có chất lượng. Đây là quan niệm chất lượng phụ thuộc vào nhu cầu người sử dụng vì
nhu cầu con người luôn thay đổi nên chất lượng không dừng ở mức cố định mà phụ
thuộc vào thời gian, không gian (bối cảnh) nên mới có chất lượng địa phương, chất

sĩ Phạm Minh Hạc, Tầm nhìn về chất lượng GD ở VN, UNESCO Hà Nội 2005).
• Chất lượng GD cũng trực tiếp liên quan tới hiệu quả GD (hiệu quả
trong và hiệu quả ngoài) mà theo quan niệm phổ quát thì đó là thể hiện mối quan hệ
chung nhất giữa sự đầu tư công sức, nhân lực, vật lực và kết quả đạt được sau một
giai đoạn nhất định, xét theo mục tiêu GD trong những điều kiện cụ thể (Thực hiện
chính sách đảm bảo chất lượng GDĐH trong khu vực ĐNA, SEAMEO 2002).

Chất lượng GD được hình thành và phát triển trong người học là do
nhiều yếu tố trực tiếp hay gián tiếp tác động (yếu tố nhà trường, giáo dục gia đình, xã
hội, …) chất lượng GD mang tính tổng hợp chất lượng của các thành phần (chất
lượng đạo đức, học tập, sức khỏe, …), chất lượng tổng hợp được tạo nên bởi quá
trình GD toàn diện.


Mỗi giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội đòi hỏi những phẩm chất năng lực cần
thiết của nguồn nhân lực phù hợp với đặc điểm của giai đoạn đó. Vì vậy chất lượng
GD phải gắn với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, theo vùng địa lý – kinh tế
và đặc điểm của cộng đồng dân cư, dân tộc và cả trong bối cảnh quốc tế.
• Chất

lượng GD đạt được ở mỗi người học là do nội lực cá nhân (như ý
chí, động cơ, bản lĩnh, sức khỏe, năng lực riêng) và tác động của ngoại lực có tác
dụng khơi dậy và phát triển nội lực (mục tiêu GD, giáo viên, chương trình, phương
pháp, thiết bị - tài liệu; đánh giá kiểm tra …)
• Chất lượng GD phải gắn với số lượng nên nói đến chất lượng GD là
nói tới chất lượng của số đông; chất lượng GD luôn gắn liền với hiệu quả GD.

17



đối với xã hội. Các nhà chính trị, xã hội cũng như người dân thường đánh giá GD
qua hiệu quả ngoài, nhưng tiêu chuẩn thi đua cũng như đánh giá của ngành GD nhìn
chung chỉ dừng lại ở hiệu quả trong. Đó là một trong những điểm vênh nhau về quan
điểm đánh giá GD hiện nay giữa xã hội và nhà trường … Vì vậy cần điều chỉnh
chuẩn đánh giá, sao cho đánh giá không chỉ căn cứ vào kết quả kiểm tra các bài tập
lý thuyết, mà còn phải dựa vào khả năng thực hành, vận dụng kiến thức, kết quả hoạt
động xã hội – thực tiễn và tư duy sáng tạo trong việc giải quyết các vấn đề khoa học
và đời sống …
Nói đến các yếu tố tạo nên chất lượng GD nghĩa là tìm hiểu cấu trúc của nó,
trên cơ sở đó mà nắm được bản chất của chất lượng GD và từ đó đề xuất các giải
pháp nâng cao chất lượng GD một cách khoa học. Hai vấn đề cần đề cập là chất
lượng GD nhân cách và chất lượng hệ thống GD quốc dân.
18


a) Chất lượng GD nhân cách phụ thuộc vào cấu trúc nhân cách và tương ứng
với nó có nhiều thang đo chất lượng nhân cách như : đức, tài, chân, thiện, mỹ, nhân,
trí, dũng, liêm hoặc đức, trí, thể, mỹ hoặc cần, kiệm, liêm, chính … các yếu tố này
quyện vào nhau và được thể hiện ra trong thực tế, cụ thể, tường minh và có thể tri
giác được nên đo giá trị con người bằng chính kết quả hoạt động mà họ đóng góp
cho xã hội.
Theo UNESCO, hiện nay có thể đo chất lượng nhân cách theo một số tiêu chí
: định hướng giá trị, khả năng thích ứng; đặc điểm trí tuệ, thực trạng sức khỏe, trách
nhiệm công dân (dựa vào lý thuyết giá trị để đo nhân cách).
Mặc dù ở Việt Nam hiện nay chưa có chuẩn đánh giá chất lượng GD cụ thể,
nhưng việc đánh giá chất lượng GD phải dựa vào phẩm chất, năng lực thực tế của
người được đào tạo.
- Về năng lực : con người được đào tạo phải có hệ thống trí thức cơ bản hiện
đại, vững chắc; có kỹ năng vận dụng tri thức để giải quyết các vấn đề lý luận và thực
tiễn; có óc phân tích, phê phán … thích và có khả năng tìm tòi, sáng tạo; có khả năng

và công bằng trong GD; chính sách về tổ chức, quản lý vận hành quá trình, kết quả
dạy học…
Theo quan niệm này (2.2) thì có 6 nhóm chỉ số phản ánh được chất lượng GD
là :
2.2.1- Chất lượng GD được phản ánh bằng các chỉ số về trình độ dân trí toàn
xã hội như :
+ Tổng số trẻ em (6 – 18t) đi học phổ thông trên tổng số dân của một nước.
+ Tổng số trẻ em (6 – 18t) được đến trường (ở từng ngành, bậc học như Tiểu
học, THCS, THPT, …)
+ Trình độ học vấn trung bình của người lớn ≥ 18t (tỉ lệ tốt nghiệp THCS,
THPT …)
+ Số lượng học sinh THCN, CĐ, ĐH / dân số cả nước, tỉ lệ tốt nghiệp …
+ Tổng số người có khả năng lao động (nam nữ, độ tuổi …)
2.2.2- Chất lượng GD được phản ảnh bằng các chỉ số về nguồn lực đầu tư
cho GD như :
+ Tổng kinh phí nguồn nhà nước đầu tư cho GD bậc học.
+ Tổng thu nhập toàn quốc / 1 năm (hoặc nguồn đầu tư cho từng ngành học,
bậc học).
+ Tổng kinh phí ngoài nhà nước tài trợ cho GD …
+ Kinh phí đầu tư cho từng hạng mục : xây dựng cơ bản, mua sắm thiết bị;
tiền lương, thưởng cho CBQL – GV.
+ Chi phí trung bình cho việc học tập của 1 HS, SV (ở từng ngành – bậc học
…)
+ Tỉ lệ trung bình GV/học sinh, sinh viên cho 1 lớp, 1 trường …
2.2.3- Chất lượng GD được phản ánh qua tác dụng hiệu quả của GD đối với
thị trường lao động qua các chỉ số như :
+ Tỉ lệ % số người có việc làm theo trình độ chuyên môn được đào tạo so với
tổng số nguồn nhân lực lao động toàn quốc.
+ Mối tương quan giữa trình độ học vấn và việc làm của thanh niên .
+ Hiện trạng của lực lượng lao động trẻ trên thị trường lao động.

thông…
2.2.6- Chất lượng GD được biểu hiện trực tiếp nhất ở các chỉ số phản ánh kết
quả học tập cùa HS (hay mức độ nắm vững kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh
sau mỗi cấp học) đó là các chỉ số cơ bản (Theo Bottani N và Delfan L.The Search for
International Education Indicators The OECD Observer, 1990 No.162).
Các chuyên gia GD của OECD nhấn mạnh : các chỉ số trong nhóm cơ bản
phản ảnh đúng mức độ nắm vững kiến thức, kỹ năng của học sinh khi dùng các
phương pháp đánh giá hiện đại mà chủ yếu là trắc nghiệm.
(Các trắc nghiệm được xây dựng dựa vào chu�a các Trung tâm Giáo dục thường xuyên”
tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2008-2010 với nội dung như sau:
I. Phần mở đầu:
Theo luật Giáo dục 2005 ở các điều:
-

Điều 4: “Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục
thường xuyên”

-

Điều 44: “Giáo dục thường xuyên (GDTX) giúp mọi người vừa làm vừa
học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách mở rộng hiểu
biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ để cải thiện chất
lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống
xã hội. Nhà nước có chính sách phát triển GDTX, thực hiện giáo duc cho
mọi người, xây dựng xã hội học tập…”

-

Điều 45: “Nội dung GDTX được thể hiện trong các chương trình sau đây:
chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, chương

đồng; 12 trường Đại học có đào tạo từ xa. Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 05
TTGDTX cấp TP và ngành; 24 TTGDTX Quận/huyện; 02 trường BTVH
ngành; 18 phân hiệu BTVH trong các trường Đại học-Cao đẳng-Trung cấp
chuyên nghiệp; 454 cơ sở ngoại ngữ tin học-bồi dưỡng văn hoá, 77 Trung tâm
học tập cộng đồng với hơn một triệu lượt người theo học các chương trình
GDTX ở Thành phố trong 1 năm. Mạng lưới cơ sở GDTX được củng cố, giữ
vững, hoạt động GDTX ổn định nề nếp, duy trì được hiệu quả chất lượng.
Tuy nhiên, so với yêu cầu hiện nay thì hoạt động, chất lượng giáo dục tại các
TTGDTX có mặt còn thấp, cơ sở vật chất còn thiếu-yếu chưa đáp ứng được
nhu cầu học tập thường xuyên, suốt đời của nhân dân và nhu cầu nguồn nhân
lực cho Thành phố.
- Để nâng cao chất lượng Giáo dục thường xuyên, trong kế hoạch hành động
quốc gia giáo dục cho mọi người (2003-2015) do Thủ tướng phê duyệt, trong
nhóm mục tiêu 4 ghi: “ Nâng cao chất lượng, sự phù hợp của với kết quả của
tất cả chương trình GDTX cho thanh thiếu niên và người lớn, xây dựng một
chiến lược quốc gia toàn diện về GDTX và các cơ hội học tập; tăng cường
năng lực quản lý các chương trình GDTX ở cấp địa phương...” Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã có chỉ đạo: “… tiếp tục củng cố phát triển cơ sở GDTX; đa
dạng hoá nội dung, chương trình, các hình thức học tập nhằm đáp ứng nhu
cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời của nhân dân, thực hiện giáo dục
cho mọi người, xây dựng xã hội học tập…; phát triển và nâng cao chất lượng
các lớp bổ túc văn hoá trung học phổ thông, các lớp ngoại ngữ, tin học và các
lớp học chuyên đề…” ( văn bản 8218/BGDĐT-GDTX ngày 6/8/2007 về
hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2007-2008 đối với GDTX)
106


Vì vậy, củng cố phát triển hoạt động của TTGDTX là yêu cầu cấp thiết
để nâng chất lượng GDTX, để thực hiện QĐ 112/2005 của Thủ tướng chính
phủ về phê duyệt đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010 ở Thành


6. Chỉ thị 02/2008/CT-TTg ngày 08/01/2008 của Thủ tướng chính phủ
về đẩu mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài xây dựng xã hội
học tập.
7. Chỉ thị 39/2007/CT-BGDĐT ngày 31/7/2007 của Bộ trưởng
BộGDĐT về nhiệm vụ trọng tâm của GD mầm non, GD phổ thông,
GD thường xuyên, GD chuyên nghiệp và các trường, khoa sư phạm
trong năm học 2007-2008
8. Quyết định 02/2008/QĐ-UBND ngày 10/01/2008 của Ủy ban Nhân
dân thành phố Hồ Chí Minh về ban hành kế hoạch chỉ đạo, điều
hành phát triển kinh tế, xã hội và ngân sách thành phố 2008.
III.- Mục tiêu của đề án.
1. Mục tiêu chung :
Xây dựng các giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động của
TT.GDTX cấp thành phố, cấp Quận Huyện ở TP.HCM trong giai đoạn 2008 –
2010, bằng cách đầu tư con người, tài chính – tài sản, chế độ chính sách, nội
dung chương trình giảng dạy phân cấp quản lý cho các TT.GDTX.
2. Mục tiêu cụ thể.
Các giải pháp đề xuất nhằm làm thay đổi cơ cấu, số lượng, chất lượng
hoạt động của TT.GDTX như :
a. Các TT.GDTXcó được cơ sở vật chất trang thiết bị, tài chính – tài
sản điều kiện hoạt động, đáp ứng yêu cầu được giao theo quy định.
b. Đội ngũ CBQL, GV, NV được bổ sung đầy đủ về số lượng, đồng
bộ về cơ cấu; được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để hoàn thành
nhiệm vụ.
c. Có chế độ chính sách (về học phí, thù lao, nhân sự …) phù hợp để
duy trì, thúc đẩy hoạt động của TT.GDTX.
d. Nâng cao được chất lượng giáo dục – đào tạo của TT.GDTX trong
các mặt giảng dạy : BTVH, ngoại ngữ, tin học, nghề; bồi dưỡng
kiến thức – chuyên đề theo yêu cầu của người học.

Chuyên

Đào tạo từ

đề

xa ĐH-CĐ

300

1100

1183

(Thống kê tháng 1/2008 của Sở GD-ĐT) – không tính học viên tại 02 trường
BTVH ngành và 18 phân hiệu BTVH với hơn 12.000 học viên BTVH). Số
lượng học viên BTVH ổn định; số lượng học viên học ngoại ngữ - tin học,
nghề, chuyên đề tăng dần.
b. Cơ sở vật chất hiện có của các TTGDTX
Dạng
1

Tình trạng cơ sở vật chất
Đã được xây dựng hoàn chỉnh

T/số
4

Tên TTGDTX
Quận 3, Củ Chi, Hóc Môn,

Quận 5,6,1,10,Bình Thạnh, Gò

nhưng nhỏ hẹp thiếu phòng học
và phòng chức năng, sân chơi
5

6

Là nhà ở cải tạo, không đúng
chức năng trường học, nhỏ hẹp,

Vấp, Phú Nhuận, Lê Quý Đôn,

thiếu thốn

Tiếng Hoa, Gia Định, TNXP

Chưa có cơ sở, còn học tạm ở

4

trường khác

Quận 7,8, Tân Phú, Bình
Chánh

29

109


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status