Quy định về giao kết hợp đồng trong bộ luật dân sự năm 2015, những bất cập và hướng hoàn thiện - Pdf 53

A. LỜI NÓI ĐẦU
Bộ luật Dân sự 2015 đã được thông qua tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội
nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII và có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2017. So với Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật
Dân sự năm 2015 có rất nhiều điểm mới – những sửa đổi, bổ sung cơ bản và
toàn diện nội dung của Bộ luật Dân sự năm 2005. Việc sửa đổi, bổ sung lần này
là nhằm xây dựng Bộ luật Dân sự thực sự trở thành luật chung của hệ thống
pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do,
tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; ghi nhận và
bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp
phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn
định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế – xã hội sau khi Hiến pháp
năm 2013 được ban hành.
Bộ luật Dân sự thực sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật điều
chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện,
bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; ghi nhận và bảo vệ tốt
hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong. Giao kết hợp đồng dân sự là sự
thỏa thuận thống nhất ý chí của các bên nhằm làm phát sinh thay đổi, chấm dứt
quyền và nghĩa vụ về tài sản. để xác lập hợp đồng thì một bên chủ thể hiện ý
chí của mình cho bên kia biết để cùng tham gia. Ý chí của một bên được thể
hiện thông qua việc đưa ra yêu cầu bên kia giao kết hợp đồng với mình hay còn
được đề nghị giao kết hợp đồng.
Các quy định về giao kết hợp đồng trong bộ luật dân sự được coi là quy
định chung về hợp đồng trong các luật chuyên ngành được coi là các quy định
chuyên ngành và các quy định này được ưu tiên áp dụng.
B. NỘI DUNG:
I. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRONG BỘ
LUẬT DÂN SỰ 2015:
1.

Hợp đồng dân sự:

phát sinh nghĩa vụ dân sự trong hệ thống căn cứ đó hợp đồng dân sự đóng vai
trò quan trọng nhất. Hợp đồng luôn luôn là phương tiện phổ biến nhất để xác
lập quyền và nghĩa vụ dân sự.
(a). Trong khi giao kết hợp đồng phải tuân thủ các nguyên tắc của giao
kết hợp đồng được quy định tại khoản 2,3 điều 3 Bộ luật dân sự 2015 quy định
một số nguyên tắc cơ bản như sau:
“khoản 2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyên,
nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi
cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức
xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và được chủ thể khác tôn trọng.
Khoản 3. Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.”
(b).Nguyên tắc đầu tiên cơ bản nhất của hợp đồng bao giờ cũng là
nguyên tắc tự do của các bên ký kết hợp đồng. Quyền tự do định đoạt việc
tham gia hay không tham gia ký kết hợp đồng. Đó là năng lực hành vi dân sự
cho phép mọi chủ thể được tham gia vào nhiều hợp đồng dân sự khác nhau.
Việc tham gia hay không tham gia vào giao kết hợp đồng nào đó phải xuất phát
từ nhu cầu của mỗi chủ thể. Mọi sự ép buộc trái quy định của pháp luật xâm
phạm quyền công dân thì hợp đồng đó bị coi là vô hiệu
1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do
nào để phân biệt đối xử, được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân
thân và tài sản.
2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa
thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực
thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.
3. Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ
dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.
Người viết báo cáo: Phùng Minh Tấn


Trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu
bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên
được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà
không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh.”
Ngày nay, trong thời đại phát triển thì thông tin được lan truyền bằng
nhiều hình thức khác nhau như thông qua tư điện tử, thư tay và các phương tiện
khác. Đặc biệt kinh doanh qua các phương tiện truyền thông, mạng xã hội... để
quảng bá hàng hóa cho hàng đạt hiệu quả cao. Để ràng buộc trách nhiệm của
bên đề nghị giao kết hợp đồng điều 386 bộ luật dân sự 2015. Trong cơ chế thị
trường, các doanh nghiệp thường tận dụng các cơ hội để tiếp xúc khách hàng.
Đăc biệt khi hệ thống truyền hình, truyền thanh và internet phát triển thì thương
mại điện tử có nhiều cơ hội tiếp cận khách hàng. Vì vậy pháp luật có nhưng
ràng buộc các doanh nghiệp quảng cáo trên truyền hình,truyền thanh, trên điện
thoại di động… khi đưa ra những lời quảng cáo có tính chất đề nghị giao kết
hợp đồng thi thông tin quảng cáo có giá trị pháp lý khoản 1 điều 386 Bộ luật
Người viết báo cáo: Phùng Minh Tấn

3


dân sự 2015 từ “Hoăc tới công chúng”, đây là căn cứ để xác định lời đề nghị
giao kết hợp đồng của cá nhân, doanh nghiệp quảng cáo bằng tờ rơi, trên
phương tiện thông tin đại chúng, trên điện thoại di động… Tổ chức cá nhân
đưa ra cam kết phải trách nhiệm về nội dung cam kết đó.
Khi chuẩn bị giao kết hợp đồng thì các thông tin liên quan đến đối tượng,
chủ thể … của hợp đồng là quan trọng, qua các thông tin mà một bên cung cấp
cho bên kia biết, bên tiếp nhận thông tin sẻ phân tích đánh giá sự ảnh hưởng
của thông tin đó đối với việc tham gia hợp đồng, nên bên cạnh thông tin đó
việc tham gia hợp đồng, nên bên nhận thông tin sẻ đưa ra quyết định giao kết
hoặc không giao kết hợp đồng đó. Quy định tại điều 387 Bộ luật dân sự 2015,

Chấp nhận giao kết hợp đồng là sự đồng ý tham gia vào hợp đồng , việc chấp
nhận lời đề nghị được thể hiện thông qua lời nói hoặc văn bản, tuy nhiên sự im
lăng của một bên cũng được coi là chấp nhận đề nghị trong trường hợp có thỏa
thuận hoặc do thói quen mà các bên đã thực hiện liên tục trong thời gian dài
Người viết báo cáo: Phùng Minh Tấn

4


Sau khi các bên thỏa thuận về điều khoản của hợp đồng được giao kết và
sẻ làm phát sinh hiệu lực của hợp đồng. Hợp đồng giao kết bằng hình thức khác
nhau bằng hành vi, bằng lời nói, văn bản. Tuy nhiên, có những hợp đồng, sự in
lăng có thể là sự đồng ý giao kết hợp đồng cho nên Điều 400 Bộ luật dân sự
năm 2015 quy định về thời điểm giao kết hợp đồng có sự bổ sung tại khoản 2
quy định sự im lặng là chấp nhận giao kết hợp đồng và hợp đồng được giao kết
nếu các bên có sự thỏa thuận sự im lặng là chấp nhận đề nghị trong thời hạn,
thì kết thúc thời hạn đó thì các bên không trả lời thì được coi là giao kết hợp
đồng.
(d). Hình thức hợp đồng là phương tiện ghi nhận, lưu trữ, truyền tải nội
dung của hợp đồng. Đó là phương tiện ghi nhận các điều khoản mà các bên đã
cùng nhau thống nhất cam kết. Được quy định tại điều 119 Bộ luật dân sự năm
2015 có quy định hình thức của giao dịch dân sự:
“1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc
băng hành vi cụ thể.”
(1). Hình thức bằng lời nói:
Hình thức bằng lời nói, các bên chỉ cần thỏa thuận miệng với nhau về nội
dung cơ bản của hợp đồng. Hình thức hợp đồng bằng lời nói được coi là độ xác
thực thấp nhất. Khi có tranh chấp giữa các bên về một hợp đồng đã được giao
kết bằng lời nói với nhau bất kỳ bên nào củng có thể phủ nhận tất cả những
cam kết trước dây của mình.

nghĩa vụ của hợp đồng đã được coi là giao kết.
Thông thường các bên giao kết hợp đồng bằng một hình thức nhất định
như lời nói văn bản. Nhưng có trường hợp khi giao kết hợp đồng bằng lời nói,
sau đó các bên ghi lại nội dung bằng văn bản đẻ phù hợp với thực tế giao kết
hợp đồng. Điều 400 Bộ luật dân sự 2015. “Hợp đồng được giao kết vào thời
điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết.
Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao
kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm
cuối cùng của thời hạn đó.
Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa
thuận về nội dung của hợp đồng.
Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký
vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.
Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng
văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo khoản 3 Điều
này.” Bổ sung nguyên tắc xác định thời điểm giao kết hợp đồng khi các bên sử
dung hình thức giao kết và hình thức xác lập hợp đồng khác nhau nhưng trường
hợp giao kết hợp đồng khi các bên sử dụng hình thức giao kết và hình thức xác
lập hợp đồng khác nhau như trường hợp giao kết hợp đồng băng lời nói và sau
đó xác lập bằng văn bản thì thời điểm chấp nhận đề nghị là thời điểm thỏa
thuận xong nội dung hợp đồng.
2. Trình tự giao kết hợp đồng dân sự:
Trình tự giao kết hợp đồng dân sự: là quá trình mà trong đó các bên chủ thể
bày tỏa ý chí với nhau bằng cách trao đổi ý kiến để đi đến thỏa thuận trong
việc cùng nhau xác lập những quyền và nghĩa vụ đối với nhau, xác định từng
nội dung cụ thể của hợp đồng. quá trình giao dịch dân sự chính thức được bắt
đầu khi các bên đã xác định rõ được nhu cầu giao dịch củ mình. Quá trình đó
được mô hình hóa thông qua hai giai đoạn;
a) Đề nghị giao kết hợp đồng (quy định tại điều 386 Bộ luật dân sự
năm 2015).

lời của bên được đề nghị được coi là chấp nhận giao kết hợp đồng khi người
được đề nghị chấp nhận toàn bộ và vô điều kiện các nội dung của đề nghị giao
kết hợp đồng. Nếu câu trả lời không đáp ứng được 1 trong 2 yêu cầu đó thì sẽ
được coi là lời đề nghị mới và cần được sự phúc đáp của phía bên kia. Quá
trình đó có thể được lặp đi lặp lại cho đến khi có được chấp nhận giao kết hợp
đồng đúng yêu cầu thì hợp đồng được coi là giao kết.
3. Nội dung của hợp đồng:
Quy định tại khoản 2 điều 398 Bộ luật dân sự năm 2015. “đối tượng
của hợp đồng. Số lượng ,chất lượng. Giá phương thức thanh toán.Thời hạn,
địa điểm ,phương thức thực hiện hợp đồng. Quyền, nghĩa vụ của các bên.
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng,phương thức giải quyết tranh chấp”
Nôi dung của hợp đồng dân sự là tổng hợp các điều khoản mà các bên
tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận. Các điều khoản đó xác định thẩm
quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể của các bên trong hợp đồng. Để nhận biết
được một hợp đồng vá được pháp luật công nhận, bảo vệ hợp đồng thi các bên
phải thỏa thuận được với nhau về một số nội dung quan trọng nhất định.
Các điều khoản cơ bản là những điều khoản mà nếu thiếu chúng thì hợp
đồng không thể được coi là đã giao kết. điều khoản cơ bản có thể do tính chất
của từng hợp đồng quyết định, ngoài ra còn bao gồm cả những điều khoản mà
các bên tự cảm thấy cần thiết quy định với nhau là các điều khoản cơ bản thể
hiện rằng, chúng nêu lên bản chất của loại hợp đồng đó.Không có chúng thì
hợp đồng không được xếp vào loại này hay loại khác.
Các điều khoản bảo hiểm được quy định tại các văn bản pháp luật. Tổng
hợp các điều kiện cơ bản tạo thành nội dung chủ yếu của hợp đồng. Bên cạnh
những điều khoản cơ bản do pháp luật quy định còn có những điều khoản mà
được coi là cơ bản theo đề nghị của một trong các bên ký kết hợp đồng.
Khác với các điều khoản cơ bản, các điều khoản thông thường không làm
ảnh hưởng tới việc hợp đồng có được coi là ký kết hay không. Nếu khi giao kết

Người viết báo cáo: Phùng Minh Tấn

Thời hạn của hợp đồng thường được coi là yếu tố quan trọng của hợp
đồng. thời hạn xác định khoản thời gian tồn tại của chính hợp đồng,khoản thời
gian mà các bên phải thực hiện cho nhau các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp
đồng. thời hạn được xác định bằng hai cách chính: bằng thời điểm cụ thể theo
lịch… và bằng phương pháp tính độ dài thời gian…
Thời hạn chung của hợp đồng được xác định một cách gián tiếp thong qua
thời hạn thực hiện những nghĩa vụ của hợp đồng.
Trong quan hệ nghĩa vụ thì quyền của một bên tương ứng với nghĩa vụ của
bên kia. Do vậy, cùng một thời hạn nhưng đối với một bên của hợp đồng làm
phát sinh quyền, nhưng đối với bên kia lại phát sinh nghĩa vụ.
Giá cả của hợp đồng đóng vai trò công cụ chủ yếu để xác định giá trị tương
đương của đối tượng hợp đồng. giá cả thong thường được các bên tự thỏa thuận
hoặc các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ 3 trung gian định giá. Đối
với một số mặt hàng chiến lược hay một số dịch vụ quan trọng thì nhà nước có
quy định khung giá chuẩn mang tính bắt buộc. các bên hoặc thỏa thuận với
Người viết báo cáo: Phùng Minh Tấn

8


nhau giá cả cụ thể, hoặc thỏa thuận phương pháp để tính giá cho đối tượng của
hợp đồng trong thời hạn thực hiện hợp đồng.
4. Địa điểm, thời điểm giao kết hợp đồng:
Quy định tại điều 399 Bộ luật dân sự năm 2015.
“ Địa điểm giao kết hợp đồng do các bên thoả thuận; nếu không có thoả
thuận thì địa điểm giao kết hợp đồng là nơi cư trú của cá nhân hoặc trụ sở của
pháp nhân đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng.”
Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận
giao kết.
Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết

được biệt tạo điều kiện thuận lợi cho bên có quyền trong việc xử lý tài sản bảo
đảm khi không đăng ký biện pháp bảo đảm. Hợp đồng được giao kết dưới
nhiều hình thức khác nhau do thỏa thuận theo pháp luật quy định. Hợp đồng
giao kết là thể hiện ý chí chung của các bên, do đó, thời điểm giao kết các bên
phải thực hiện đúng, đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng. Khi hợp đồng có
Người viết báo cáo: Phùng Minh Tấn

9


hiệu lực, một bên không được tự ý sửa đổi hợp đồng trừ trường hợp có thỏa
thuận hoăc luât có quy định.
Sau khi hợp đồng có hiệu lực pháp luật, các bên phải thực hiện đúng và
đầy đủ các nội dung của hợp đồng đã được giao kết. Mặc dù vậy, có những
trường hợp do các bên thỏa thuận không rõ ràng hoặc dung câu chữ có thể biểu
hiện theo nhiều nghĩa… dẫn đến sự việc thực hiện các điều khoản đó gặp khó
khăn. Vì vậy, để thống nhất cách hiểu và các bên cần phải giải thích một nội
dung đó cho rõ ràng hoặc thống nhất các hiểu về nội dung đó để tiếp tục hợp
đồng. việc giả thích hợp đồng dựa trên nhiều căn cứ như giải thích theo ngữ
pháp, theo tập quán nơi giao kết hợp đồng… Tuy nhiên, vấn đề quan trọng khi
giả thích hợp đồng là phải căn cứ vào ý chí của các bên để giải thích cho phù
hợp với nguyện vọng của các bên nhằm đạt được mục đích tham gia hợp đồng
khoản 1 điều 404 Bộ luật dân sự năm 2015.”Khi hợp đồng có điều khoản
không rõ ràng thì việc giải thích điều khoản đó không chỉ dựa vào ngôn từ của
hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí của các bên được thể hiện trong toàn
bộ quá trình trước, tại thời điểm xác lập, thực hiện hợp đồng”. Hợp đồng là sự
thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên, nên khi giải thích điều khoản của hợp
đồng thì phải xem xét ý chí đích thực của các bên đã được thể hiện trong sút
quá trình chuận bị giao kết và trong khi thực hiện hợp đồng. Ý chí của các bên
có thể đã được thể hiện khi thỏa thuận về nội dung của hợp động hoặc thông


điều kiện nói trên nhưng hợp đồng vẫn không có hiệu lực nếu như hợp đồng
chính bị coi là không có hiệu lưc.
e. Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết
hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ
việc thực hiện nghĩa vụ đó.
f. Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng mà việc thực hiện phụ thuộc vào
việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một sự kiện nhất định.
7. Phụ lục hợp đồng:
Quy định tại điều 403 Bộ luật dân sự năm 2015.“Hợp đồng có thể có
phụ lục kèm theo để quy định chi tiết một số điều khoản của hợp đồng. Phụ lục
hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng. Nội dung của phụ lục hợp đồng không
được trái với nội dung của hợp đồng.
Trường hợp phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với nội dung của điều
khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có
thỏa thuận khác. Trường hợp các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điều
khoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp
đồng đã được sửa đổi.”
8. Giải thích hợp đồng:
Khi giao kết hợp đồng các bên thường thỏa thuận với nhau một các
kỹ lưỡng từng nội dung của hợp đồng. Nhưng trong thực tế vẩn không
tránh khỏi những trường hợp sơ suất mà trong ngôn từ của hợp đồng
chưa rõ ràng, dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau. Giải thích hợp đồng dân
sự được quy định tại điều 404 Bộ luật dân sự năm 2015.
Khoản 1“Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì việc giải thích
điều khoản đó không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ
vào ý chí của các bên được thể hiện trong toàn bộ quá trình trước, tại thời
điểm xác lập, thực hiện hợp đồng.
Khoản 2. Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ có thể hiểu theo nhiều
nghĩa khác nhau thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với mục đích, tính

Khoản 2. Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng
thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản
đó.
Khoản 3. Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm
của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi
chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp
có thỏa thuận khác.”
10. Điều Kiện giao dịch hợp đồng:
Điều 406 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Điều kiện giao dịch chung là
những điều khoản ổn định do một bên công bố để áp dụng chung cho bên
được đề nghị giao kết hợp đồng; nếu bên được đề nghị chấp nhận giao kết
hợp đồng thì coi như chấp nhận các điều khoản này. Điều kiện giao dịch
chung chỉ có hiệu lực với bên xác lập giao dịch trong trường hợp điều kiện
giao dịch này đã được công khai để bên xác lập giao dịch biết hoặc phải
biết về điều kiện đó. Trình tự, thể thức công khai điều kiện giao dịch chung
thực hiện theo quy định của pháp luật. Điều kiện giao dịch chung phải bảo
đảm sự bình đẳng giữa các bên. Trường hợp điều kiện giao dịch chung có
quy định về miễn trách nhiệm của bên đưa ra điều kiện giao dịch chung,
tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì quy
định này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác:
“Khoản 1. Điều kiện giao dịch chung là những điều khoản ổn định do một
bên công bố để áp dụng chung cho bên được đề nghị giao kết hợp đồng; nếu
bên được đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng thì coi như chấp nhận các điều
khoản này.
Khoản 2. Điều kiện giao dịch chung chỉ có hiệu lực với bên xác lập giao
dịch trong trường hợp điều kiện giao dịch này đã được công khai để bên xác
lập giao dịch biết hoặc phải biết về điều kiện đó.
Trình tự, thể thức công khai điều kiện giao dịch chung thực hiện theo quy định
của pháp luật.
Khoản 3. Điều kiện giao dịch chung phải bảo đảm sự bình đẳng giữa các

thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi
thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc
hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được.
Khoản 3. Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cũng được áp dụng
đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực
hiện được nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực.”
II. NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN TRONG BỘ
LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015:
1. Những bất cập liên quan đến sự liên hệ giữa thời điểm giao
kết hợp đồng và thời điểm có hiệu lực của Hợp đồng:
Theo báo cáo tổng kểt hàng năm của Ngành Tòa án nhân dân và Viện
kiểm sát có nêu số liệu về các vụ việc dân sự (bao gồm : các tranh chấp, yêu
cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động) được
thụ lý, giải quyết, nhưng không có số liệu đánh giá riêng về giải quyết tranh
chấp HĐDS cũng như giao kết HĐDS. Qua tìm hiểu thực tế giải quyết các vụ
việc tranh chấp về hợp đồng dân sự của Tòa án và Viện kiểm sát cho thấy các
bên chủ yếu tranh chấp về các quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh trong quá trình
thực hiện hợp đồng; Còn tranh chấp trong quá trình giao kêt hợp đồng rất ít và

Người viết báo cáo: Phùng Minh Tấn

13


nếu có thì các bên chủ yếu tranh chấp về khoản tiền đặt cọc để đảm bảo giao
kết HĐ DS.
1.1. Về giao kết HĐDS trong trường hợp một người có nhiều tư cách
chủ thể:
Giao kết HĐDS là quá trình bày tỏ, thống nhất ý chí giữa các bên với
nhau để xác lập HĐ DS. Tuy nhiên, trên thực tế có trường hợp một người lại

đủ năng lực hành vi dân sự vẫn có thể tham gia giao kết với bên được tặng cho.
Bởi lẽ theo hợp đồng này bên được tặng cho chỉ được hưởng tài sản chứ không
phải thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào.
Bản thân tôi đồng ý với quan điểm thứ ba, bởi lẽ trên thực tế, khi bố mẹ
tặng cho con mình (dưới 6 tuổi) những tài sản là đồ dùng sinh hoạt hằng ngày
cũng không cần phải có người đại diện khác, hoặc giám hộ khác. Tuy nhiên,
pháp luật cũng cần phải có quy định hướng dẫn cụ thể việc giao kết hợp đồng
dân sự trong trường hợp mà một người có nhiều tư cách chủ thể để bảo đảm áp
dụng thống nhất trong thực tế. Ví dụ như trường hợp giám đốc doanh nghiệp

Người viết báo cáo: Phùng Minh Tấn

14


trực tiếp kí kết hợp đồng thuê tài sản (máy móc, nhà làm trụ sở... ) mà tài sản
đó là của chính cá nhân họ.
1.2. Về hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề
nghị giao kết hợp đồng bằng văn bản :
Pháp luật không quy định cụ thể về hình thức của đề nghi giao kết hợp
đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự. Khoản 4 Điều 400 BLDS
2015 có quy định : “Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm
bên sau cùng kí vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện
trên văn bản”. Theo quy định này có thể hiểu là: Đề nghị giao kết và chấp nhận
đề nghị giao kết hợp đồng với hình thức bằng văn bản bắt buộc phải có chữ ký
của các bên được hay không? Trên thực tế, đối với những hợp đồng giao kết
bằng văn bản thường phải có chữ ký (hoặc điểm chỉ) của các bên ; Đối với chủ
thể giao kết HĐDS là tổ chức, pháp nhân thì đề nghị giao kết, chấp nhận đề
nghị giao kết HĐDS thường có chữ kí, có đóng dấu.
Theo quy định tại Điều 48 Luật Công chứng năm 2014 thì việc điểm chỉ

hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi
Người viết báo cáo: Phùng Minh Tấn

15


đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm
trả lời ......”.
Như vậy, trả lời chấp nhận đề nghị của Công ty cổ phần xây dựng và
kinh doanh nhà Phước Thịnh được thực hiện trong thời gian đã nêu trong đề
nghị giao kết nên có hiệu lực; Nhưng Công ty trách nhiệm hữu hạn Hải Hoàng
lại nhận được trả lời chấp nhận đề nghị giao kết chậm 3 ngày nên được coi là
một đề nghị mới của Công ty cổ phần xây dựng và kinh doanh nhà Phước
Thịnh đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn Hải Hoàng. Đây là điểm quy định
không thống nhất của khoản 1 Điều 394 BLDS 2015, khi đồng thời quy định
việc trả lời chấp nhận có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đã được ấn
định – tức là khi trả lời chấp nhận được gửi đi đã có hiệu lực lại vừa quy định
bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì
lời chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời – tức là trả lời
chấp nhận đề nghị có hiệu lực và được công nhận khi bên đề nghị giao kết hợp
đồng nhận được trả lời trong thời hạn ấn định.
2. Hướng hoàn thiện bất cập liên quan đến sự liên hệ giữa thời điểm giao
kết hợp đồng và thời điểm có hiệu lực của Hợp đồng:
Việc hoàn thiện pháp luật về giao kết HĐDS ở Việt Nam phải tạo ra bước
chuyển biến căn bản để điều chỉnh các quan hệ dân sự phát sinh trong quá trình
giao kết hợp đồng giữa các chủ thể theo hướng tạo thuận lợi và bảo đảm sự an
toàn pháp lý cho các chủ thể khi tham gia quan hệ hợp đồng. Trong phạm vi bài
viết của mình, tôi xin nêu ra một số kiến nghị, đề ra phương hướng, giải pháp
hoàn thiện pháp luật về giao kết HĐDS ở Việt Nam trong thời gian tới như sau:
2.1. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật quy định về giao kết HĐDS theo

bên trong quá trình giao kết hợp đồng:
+ Về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tại khoản 2 điều 393 BLDS 2015:
Theo tôi, BLDS có thể quy định chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo hướng
khái quát là: “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị
giao kết hợp đồng trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập
giữa các bên” nên bỏ cụm từ “ hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”. Vì
quy định này dễ phát sinh tranh chấp giữa các bên tham gia giao kết.

Bộ luật dân sự cũng cần quy định chấp nhận đề nghi giao kết hợp đồng
với hình thức văn bản bắt buộc phải có chữ kí hoặc điểm chỉ của chủ thể giao
kết hợp đồng.
Đối với chủ thể giao kết HĐDS là tổ chức, pháp nhân thì đề nghị giao
kết, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có chữ kí của người có thẩm quyền
và có đóng dấu của tổ chức, pháp nhân đó.
+Về nội dung đề nghị giao kết hợp đồng: Theo tôi, nội dung của đề nghị
giao kết hợp đồng cần có ba yếu tố chính:
(1) Đề nghị giao kết HĐDS phải thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng
của bên đề nghị giao kết hợp đồng;
(2) Phải có các nội dung chủ yếu của loại hợp đồng mà các bên muốn
xác lập;
(3) Phải thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng của bên đề nghị giao kết
với chủ thể khác đã được xác định cụ thể.
Ngoài ra, nội dung đề nghi giao kết HĐDS có thể xác định rõ thời hạn
trả lời chấp nhận đề nghị giao kết. Bộ luật Dân sự cũng cần quy định cụ thể
cách thức xác định thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết thì không được
ấn định rõ trong đề nghị theo hướng: Đề nghị giao kết phải được chấp nhận
trong khoảng thời gian hợp lý tùy từng trường hợp, có xem xét đến tốc độ
truyền tin mà bên đề nghị dùng; Hoặc theo hướng quy định rõ số ngày (15 ngày
hoặc 30 ngày) hoặc giao cho Tòa án xác định cụ thể khi giải quyết vụ việc
tranh chấp.

đề nghị giao kết hợp đồng biết trước khi bên đề nghị giao kết nhận được văn
bản chính thức theo đường bưu điện...
Cuối cùng cần bỏ sung cụ thể quy định về giao kết HĐDS trong trường
hợp một người có nhiều tư cách chủ thể:
Giao kết HĐDS là quá trình bày tỏ, thống nhất ý chí giữa các bên với
nhau để xác lập HĐ DS. Tuy nhiên, trên thực tế có trường hợp một người lại
mang nhiều tư cách chủ thế khác nhau, khi ấy họ có được giao kết HĐDS với
chính họ hay không
C.

KẾT LUẬN:

Việc hoàn thiện pháp luật về giao kết HĐDS ở Việt Nam phải tạo ra bước
chuyển biến căn bản để điều chỉnh các quan hệ dân sự phát sinh trong quá trình
giao kết hợp đồng giữa các chủ thể theo hướng tạo thuận lợi và bảo đảm sự an
toàn pháp lý cho các chủ thể khi tham gia quan hệ hợp đồng. Trong phạm vi bài
viết của mình, tôi đã nêu ra một số bất cập và giải pháp hoàn thiện pháp luật về
giao kết HĐDS ở Việt Nam trong thời gian tới.
Trên đây là toàn bộ ý kiến của em về đề tài: “Quy định về giao kết hợp
đồng trong bộ luật dân sự 2015-Những bất cập và hướng hoàn thiện”, vì nhận
thức còn hạn chế nên khi tiếp cận vấn đề không tránh khỏi những sai sót. Kính
mong nhận được sự bổ sung, đánh giá của các thầy, cô giáo để bài viết của em
được hoàn thiện hơn.
Người viết báo cáo

Phùng Minh Tấn

Người viết báo cáo: Phùng Minh Tấn

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status