SỰ THAM GIA của LUẬT sư NGƯỜI bào CHỮA TRONG xét xử sơ THẨM vụ án HÌNH sự - Pdf 54

SỰ THAM GIA CỦA LUẬT
SƯ NGƯỜI BÀO CHỮA
TRONG XÉT XỬ SƠ
THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ


- Quy định của pháp luật về vai trò của luật sư người bào chữa trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Trong quá trình giải quyết VAHS, xét xử được coi là
"hoạt động trọng tâm" [16]. Thông qua xét xử, các vấn đề liên
quan đến vụ án được làm rõ, trên cơ sở đó, Tòa án ra phán
quyết về việc giải quyết vụ án. Giai đoạn xét xử được chia
làm hai giai đoạn nhỏ, đó là chuẩn bị xét xử và phiên tòa xét
xử. Ở mỗi giai đoạn nhỏ này, để việc bào chữa có kết quả cao,
luật sư phải thực hiện những hoạt động cần thiết trên cơ sở
các quyền, nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho luật sư, qua đó
thể hiện vai trò của luật sư.
"Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác
bào chữa" [38, Điều 31]. Luật sư tham gia bào chữa trong
TTHS nói chung và trong XXST VAHS nói riêng do được
mời hoặc được yêu cầu. Trong trường hợp mời luật sư bào
chữa, bị cáo có thể trực tiếp hoặc thông qua người thân thích
của mình mời luật sư bào chữa. Trường hợp này, luật sư tham
gia TTHS bằng một quan hệ dân sự. Trong một số trường
hợp, nếu bị cáo không có luật sư bào chữa bằng một quan hệ


dân sự nêu trên, các CQTHTT phải yêu cầu Đoàn luật sư tại
địa phương nơi có trụ sở của Tòa án phân công tổ chức hành
nghề luật sư cử luật sư tham gia bào chữa cho bị cáo. Trường
hợp này, luật sư tham gia bào chữa bằng một quan hệ tố tụng.

bào chữa
Để thực hiện việc bào chữa, luật sư không chỉ căn cứ và
các chứng cứ, tài liệu mà CQĐT đã thu thập được mà còn
phải tự mình thu thập các tài liệu, đồ vật, tình tiết có liên
quan. Nếu chỉ dựa vào các chứng cứ mà CQĐT đã thu thập
được thì luật sư sẽ dễ bị ảnh hưởng của kết quả điều tra, có
thể không nắm bắt được tình tiết có lợi cho bị cáo hoặc sẽ có
cái nhìn về vụ án theo hướng kết luận của CQĐT. Do vậy, pháp
luật cho phép người bào chữa được tự mình thực hiện các hoạt


động nhằm làm rõ hơn sự thật khách quan của vụ án thông
qua việc luật sư có thể thu thập để biết thêm những tình tiết
mới hoặc tìm thêm nhân chứng, vật chứng có thể chứa đựng
những tình tiết có lợi cho bị cáo.
Luật sư có thể thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên
quan đến việc bào chữa thông qua việc tiếp xúc với bị cáo,
người thân thích của họ hoặc thu thập từ cơ quan, tổ chức, cá
nhân theo yêu cầu của bị cáo nếu không thuộc bí mật Nhà
nước, bí mật công tác. Đây là quy định nhằm đảm bảo bình
đẳng về quyền đưa ra tài liệu, đồ vật của luật sư với KSV và
những người tham gia tố tụng khác trước tòa. Luật sư là người
gỡ tội nên họ cũng phải có quyền thu thập những tài liệu, đồ
vật để nhằm chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ TNHS cho
bị cáo. Ngoài việc thu thập các tài liệu, đồ vật có liên quan
trực tiếp đến vụ án, luật sư còn cần thu thập các tài liệu về
nhân thân, hoàn cảnh gia đình bị cáo như các giấy tờ chứng
nhận thành tích trong công tác, trong học tập, sản xuất và
chiến đấu; các giấy tờ chứng nhận bị cáo thuộc diện chính
sách, ưu tiên, gia đình có công với cách mạng; các giấy tờ

không có bất cứ tài liệu nào, dù là nhỏ nhất, nói về những mất
mát tài sản trong nhà nạn nhân. Tuy nhiên, theo lời khai của
Lý Nguyễn Chung (là người đã ra đầu thú và khai nhận chính
mình là thủ phạm giết chị N.T.H) thì sau khi thấy trong ngăn
tủ kính của nhà chị H có nhiều tiền, Chung đã nảy sinh ý định
giết chị H để lấy tiền, Chung rút dao bấm đâm liên tiếp vào
người, vào bụng chị H, trong lúc giằng co Chung đã đâm
trượt hai nhát vào tay trái của mình đến nay vẫn còn để lại
sẹo. Khi lưỡi dao bị gãy, Chung túm tóc đập đầu nạn nhân vào
tường, nền nhà, dùng chiếc gối đè lên mặt chị H cho đến chết.
Sau đó, Chung mở tủ kính lấy toàn bộ số tiền là 59.000 đồng
và tháo hai chiếc nhẫn vàng trên tay của nạn nhân rồi bỏ trốn.
Chuôi dao bị gãy, Chung đem vứt tại đoạn mương cách hiện
trường vụ án khoảng vài chục mét. Theo gia đình nạn nhân thì
trong lúc khám nghiệm tử thi, người nhà nạn nhân cũng phát
hiện vết đeo nhẫn trên tay chị H và đề nghị làm rõ những tài
sản của chị H bị mất nhưng đã không được CQĐT xem xét.
Tại phiên tòa, mẹ nạn nhân cũng đề nghị bị cáo Chấn phải bồi


thường hai chiếc nhẫn vàng nhưng cũng không được HĐXX
xem xét. Với những gì đã xảy ra, có thể nhận thấy đây chính
là một sơ hở khá lớn của các CQTHTT, vì nếu tập trung vào
tình tiết lưỡi dao gãy và hai chiếc nhẫn vàng bị mất thì mọi
chuyện có thể sẽ khác, có thể đã không xảy ra vụ án oan gây
rúng động xã hội này.
Theo quy định, chứng cứ là những gì có thật, được thu
thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định mà các
CQTHTT dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành
vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những

bảo vệ tối đa quyền lợi hợp pháp của người được bào chữa.
Trong thực tế, các tài liệu do luật sư đưa ra nhằm bào chữa và
bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của thân chủ thường không
được các CQTHTT chấp nhận, không được xác minh để làm


căn cứ giải quyết vụ án.
Thực tiễn xét xử án hình sự, chỉ những chứng cứ về các
tình tiết giảm nhẹ có xác nhận đầy đủ thì Tòa án mới chấp
nhận, còn các chứng cứ liên quan đến việc xác định bị cáo
không phạm tội, hoặc định tội danh, định khung hình phạt mà
luật sư đưa ra thường bị tòa xem nhẹ. Ví dụ, theo luật sư Ngô
Quang Cháng (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội), tháng
4/2013 TAND tỉnh QN đã bác đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ
sung xác định lại độ tuổi của một bị cáo trong vụ án cố ý gây
thương tích vì theo tòa đề nghị của luật sư là "không có căn
cứ". Sau phiên xử, luật sư Cháng lắc đầu thở dài cho công sức
bỏ ra thu thập chứng cứ không được xem xét, đánh giá một
cách nghiêm túc, đầy đủ. Ông kể, khi bắt đầu tham gia vụ án,
ông đã nhiều lần bỏ công về quê của bị cáo để tìm hiểu và
được biết đây là trường hợp khai sinh muộn sau hai năm nên
có sai sót về ngày sinh thực sự của bị cáo. Ông đã thu thập
nhiều giấy tờ pháp lý liên quan cùng lời khai của nhiều nhân
chứng để chứng minh về khả năng bị cáo chưa đủ 18 tuổi khi
thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, tòa đã bác đề nghị của
ông mà lại không nêu rõ lý do vì sao không chấp nhận.
Có thực trạng nêu trên bởi BLTTHS cho phép luật sư


được quyền thu thập, đưa ra tài liệu, đồ vật để chứng minh

phải sử dụng chính hồ sơ buộc tội do CQĐT thu thập được để
gỡ tội cho bị cáo. Thực tế, các vụ án oan, sai chủ yếu là do
chứng cứ. Theo luật sư Hà Đăng (Đoàn Luật sư thành phố Hà
Nội): "Nếu cơ quan tiến hành tố tụng phối hợp với luật sư thì
sẽ có một hồ sơ hoàn chỉnh, cả chứng cứ gỡ tội và chứng cứ
buộc tội". Luật cũng không quy định rõ việc luật sư được
quyền gặp riêng người được bào chữa để thu thập các thông
tin, tài liệu gỡ tội trong trường hợp người này bị tạm giam.
Luật sư muốn tham gia vào giai đoạn nào của quá trình tố
tụng phải được các cơ quan tố tụng cho phép. Khi tham gia
các buổi thẩm vấn, lấy lời khai ở giai đoạn điều tra, luật sư
luôn bị động, không được phép hỏi riêng thân chủ, muốn hỏi thì
phải được ĐTV đồng ý và luật sư luôn bị ĐTV giám sát rất


chặt chẽ…
Để khắc phục tình trạng trên, cần thiết phải có những
quy định pháp luật cụ thể để tạo ra sự bình đẳng hơn nữa
trong việc thu thập, cung cấp chứng cứ trong VAHS, đảm bảo
giữa CQTHTT và người tham gia tố tụng trong đó có luật sư
thực sự bình đẳng trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ có liên
quan đến vụ án. Các CQTHTT phải tạo điều kiện để luật sư
thực sự được thực hiện các quyền này theo đúng quy định của
pháp luật. Về lâu dài, cần tiếp tục mở rộng những quy định về
chứng cứ thành một luật riêng, thay vì chỉ là một chương
trong BLTTHS hiện nay. Luật về chứng cứ này phải quy định
một cách cụ thể, chặt chẽ về trình tự, thủ tục thu thập chứng
cứ, về giá trị chứng minh của chứng cứ… để các CQTHTT và
luật sư, người tham gia tố tụng vận dụng. Lúc đó, mọi chứng
cứ buộc tội hay gỡ tội nếu được thu thập đúng luật đều có giá

thực tế, ở nhiều vụ án bản kết luận điều tra không thể hiện rõ
được hành vi phạm tội của bị cáo, kết luận bị cáo phạm tội
một cách sơ sài, thiếu căn cứ nhưng VKS vẫn ra quyết định
truy tố bị cáo trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu mà CQĐT đã
thu thập được mà không yêu cầu điều tra bổ sung, làm rõ. Có
thể nêu ví dụ như vụ ông B.M.H ở Đồng Nai: Ông H là cán
bộ thống kê xã Long Tân, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Chiều tối 24/01/2008, ông H ra thị trấn Long Thành dự tiệc tất
niên với bạn nên mang theo chiếc đồng hồ hiệu Seiko của con
đi sửa. Trên đường quay về nơi làm thêm buổi tối ở một Công
ty trong khu công nghiệp Nhơn Trạch, do say rượu nên ông
ngã và làm rơi chiếc đồng hồ bên vệ đường sát vườn điều ở xã
Phước Tiền. Sáng hôm sau, ông quay lại tìm chiếc đồng hồ
nhưng không thấy. Cũng trong thời điểm ấy, người dân phát
hiện thi thể của chị D bị giết hại trong tình trạng trên người có
nhiều vết đâm, áo bị vén lên ngực. Gần hiện trường vụ án,
CQĐT thu giữ được chiếc đồng hồ Seiko. Chiều cùng ngày,
ông H bị cảnh sát bắt giữ vì bị tình nghi là thủ phạm giết chị
D và giấu xác nạn nhân nơi chiếc đồng hồ bị đánh rơi. Sau đó
Tòa án đã tuyên phạt ông H mức án tù chung thân về hành vi
giết người, hiếp dâm. Ông H và gia đình đã kêu oan vì có


nhiều nhân chứng xác định thời điểm xảy ra vụ án ông H đang
đi nhậu cùng bạn bè. Thời gian ông H chờ phúc thẩm, trên địa
bàn huyện Nhơn Trạch tiếp tục xảy ra vụ án giết người, hiếp
dâm mà nạn nhân là một bé gái. Quá trình điều tra, cơ quan
chức năng bắt giữ hung thủ N.V.T. Người này đã thừa nhận hà
hung thủ giết chị D trong vụ án mà ông H bị buộc tội oan. Sau
đó, tại phiên tòa phúc thẩm, ông H đã được tòa xác định là vô

nghĩa không được "chụp" dưới bất cứ hình thức nào [61, tr.
123].
* Gặp, trao đổi với bị cáo
Để hoạt động bào chữa đạt kết quả cao, một trong
những việc quan trọng mà luật sư cần thực hiện đó là gặp gỡ
để trao đổi với bị cáo. Việc bào chữa của luật sư sẽ chỉ mang
tính hình thức và không có hiệu quả nếu luật sư không hiểu


được bản chất sự việc cũng như thái độ, tâm lý và nguyện
vọng của bị cáo mà mình nhận bào chữa.
Qua việc tiếp xúc với bị cáo, luật sư sẽ phần nào hiểu
được bị cáo có thật sự là người đã phạm tội hay không.
Trường hợp hành vi phạm tội của bị cáo đã rõ ràng nhưng họ
vẫn vẫn phủ nhận thì luật sư cần động viên tinh thần, tư vấn,
giải thích cho họ hệ quả của việc không nhận tội, đồng thời
chỉ ra cho họ thấy các tình tiết giảm nhẹ TNHS mà họ sẽ được
hưởng để họ yên tâm thành khẩn khai báo trước tòa, thông
qua việc phân tích các điều kiện, hành vi phạm tội, mức độ
lỗi, động cơ, mục đích của họ khi thực hiện hành vi… Luật sư
cần giải thích cho bị cáo những việc mà luật sư sẽ làm nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo trên cơ sở pháp
luật và sự thật khách quan của vụ án, thống nhất với bị cáo về
những nội dung, cách thức sẽ trình bày trước tòa, dự liệu các
tình huống có thể xảy ra tại phiên tòa và cách ứng xử của bị
cáo… Nếu vụ án có nhiều người tham gia, luật sư cần xác
định rõ vai trò, vị trí của từng bị cáo, đồng thời khai thác các
chứng cứ có lợi để bào chữa cho bị cáo. Trường hợp bị cáo
thực sự không phạm tội, luật sư cần trao đổi để nắm được
những chứng cứ ngoại phạm, chứng cứ gỡ tội của bị cáo.

khiến lời khai của bị cáo thay đổi và khó được chấp nhận vì
"không thống nhất với lời khai ở Cơ quan điều tra" [18].
* Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu
Đây là quyền của luật sư không chỉ trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử mà là quyền trong suốt quá trình tham gia bào
chữa nhằm góp phần làm sáng tỏ sự thật của vụ án. Thông qua
các hoạt động nghiên cứu hồ sơ, thu thập các tài liệu, chứng
cứ, gặp và trao đổi với bị cáo… luật sư sẽ nắm được một cách
tương đối đầy đủ các tình tiết của vụ án cũng như quá trình
điều tra, thu thập chứng cứ của các CQTHTT, qua đó luật sư
có thể đưa ra các tài liệu, đồ vật và những yêu cầu cần thiết.
Khi thu thập được các tài liệu, đồ vật có liên quan đến
việc bào chữa của mình, luật sư có quyền cung cấp các tài
liệu, đồ vật đó và đề nghị Tòa án xem xét nhằm chứng minh
sự vô tội của bị cáo hoặc chứng minh các tình tiết giảm nhẹ


TNHS cho bị cáo.
Khi thấy có các vấn đề quan trọng có liên quan đến việc
bào chữa mà cần phải được làm rõ mà sẽ không thể làm rõ
được tại phiên tòa, hoặc khi phát hiện có vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn trước đó, hoặc khi có căn
cứ cho rằng bị cáo không phải là người chủ mưu trong vụ án
có đồng phạm…, luật sư có thể đề nghị Tòa án ra quyết định
trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung. Trường hợp có căn cứ để
đình chỉ hoặc tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án, luật sư cũng
cần đề nghị Tòa án xem xét, quyết định. Ví dụ: Trong một vụ
án hiếp dâm, trên cơ sở đơn tố cáo và đề nghị khởi tố của nạn
nhân, CQĐT đã tiến hành điều tra và ra bản kết luận điều tra,
VKS đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng cho

khi làm nhiệm vụ cũng là một trong những hoạt động quan


trọng của luật sư trong thời gian chuẩn bị xét xử. Ví dụ, khi có
căn cứ cho rằng trong HĐXX có thẩm phán là người có mối
quan hệ thân thiết với gia đình người bị hại, chịu ơn gia đình
người bị hại thì người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi
Thẩm phán để bảo đảm tính khách quan của hoạt động xét xử.
Trong trường hợp thấy rằng không cần thiết phải áp
dụng các biện pháp ngăn chặn, đặc biệt là biện pháp tạm
giam, luật sư có thể đề nghị CQTHTT thay đổi, hủy bỏ biện
pháp ngăn chặn này với bị cáo, bảo vệ quyền lợi chính đáng
của bị cáo. Theo quy định của pháp luật, tạm giam có thể
được áp dụng đối với bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng,
phạm tội rất nghiêm trọng; bị cáo phạm tội nghiêm trọng
hoặc tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù trên
hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản
trở việc điều tra, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội. Trường
hợp bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36
tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư
trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn
chặn khác, trừ khi họ bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã, họ
được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm
tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc xét xử, hoặc


bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ
cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại
đến an ninh quốc gia [33, Điều 88]. Trên thực tế, trong nhiều
vụ án, các CQTHTT đã quá lạm dụng biện pháp tạm giam,

VKS thì luật sư cần khiếu nại vì theo quy định Tòa án chỉ xét
xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS đã
truy tố hoặc xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS
đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng
hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố [33, Điều 196]. Những
hoạt động này của luật sư là rất quan trọng vì nó góp phần bảo
đảm quyền bào chữa của bị cáo. Bị cáo và luật sư sẽ không
thể thực hiện tốt việc bào chữa nếu không được thông báo kịp
thời về thời gian, địa điểm mở phiên tòa cũng như về tội danh
mà bị cáo bị đưa ra xét xử.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status