Luận văn thạc sỹ - Hoàn thiện công tác kiểm soát chi đầu tư từ ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Bạch Thông – tỉnh Bắc Kạn - Pdf 54

1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
***

NGUYỄN THỊ LỆ HUYỀN

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI ĐẦU TƯ
TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC
NHÀ NƯỚC BẠCH THÔNG – TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐẦU TƯ

HÀ NỘI, NĂM 2018
1


2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
***

NGUYỄN THỊ LỆ HUYỀN

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI ĐẦU TƯ
TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC
NHÀ NƯỚC BẠCH THÔNG – TỈNH BẮC KẠN

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ ĐẦU TƯ
MÃ NGÀNH: 8310104


các đồng nghiệp, bạn bè đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành
luận văn này.
Mặc dù bản thân đã nỗ lực cố gắng rất nhiều trong quá trình làm luận văn,
nhưng vẫn không tránh khỏi những thiếu sót. Còn điểm gì tôi chưa nhận ra, chưa
nhìn thấy, rất mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy, quý cô, đồng
nghiệp và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn./.
Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2018
Tác giả

Nguyễn Thị Lệ Huyền


5

MỤC LỤC


6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT

Ký hiệu

Nguyên nghĩa

1


UBND

Ủy ban nhân dân


7

DANH MỤC BẢNG, BIỂU
BẢNG


8
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) là một nguồn lực tài chính rất
quan trọng của quốc gia đối với sự phát triển kinh tế - xã hội mà chủ yếu là vốn cho
đầu tư xây dựng cơ bản. Nguồn vốn này góp phần quan trọng tạo lập cơ sở vật chất
kỹ thuật cho nền kinh tế, thực hiện những vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường. Để
quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này, nhà nước đã có những văn bản quy
phạm pháp luật dưới nhiều hình thức khác nhau như: Luật, Nghị định, Thông tư…
trong đó có những quy định chung về đầu tư xây dựng và cả những quy định chuyên
ngành về quản lý vốn đầu tư từ nguồn vốn NSNN. Các văn bản này được điều chỉnh,
sửa đổi nhiều lần và ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu quản lý nguồn kinh phí cho
hoạt động đầu tư trong cả nước.
Quản lý quỹ NSNN là chức năng cơ bản và chủ yếu của Kho bạc Nhà nước
(KBNN), trong đó công tác kiểm soát chi (KSC) NSNN nói chung, công tác KSC
vốn đầu tư thuộc nguồn vốn NSNN nói riêng, đã góp phần không nhỏ trong lĩnh
vực thực hành tiết kiệm chống lãng phí, loại bỏ tiêu cực, phòng chống tham nhũng,

muốn đưa ra một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác kiểm soát chi đầu
từ từ NSNN

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan:
Chi NSNN cho đầu tư là khoản chi lớn của Nhà nước (chiếm từ 25-30%) vì
vậy việc tăng cường kiểm soát chi đầu tư được quan tâm, chú trọng đặc biệt. Đến
nay đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khoa học viết về lĩnh vực này:
“Giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư XDCB từ NSNN
trên địa bàn tỉnh Nghệ An”(Phan Thanh Mão, 2003). Luận án tiến sĩ. Luận án đã
đưa ra được những lý luận cơ bản về vốn NSNN trong đầu tư XDCB, đưa ra được
các nhân tố ảnh hưởng. Tác giả đã phân tích sâu về hiệu quả đầu tư XDCB, tuy
nhiên chưa đề cập đến yếu tố kiểm soát chi ảnh hưởng đến hiệu quả vốn NSNN
trong đầu tư XDCB.
“Hoàn thiện công tác quản lý chi vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn NSNN
thuộc Kho bạc Nhà nước”(Vũ Hồng Sơn, 2007). Luận văn thạc sĩ kinh tế. Luận văn
đã đưa ra được những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn vốn đầu tư XDCB và quản lý
chi vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn KSNN qua KBNN; phân tích, đánh giá


10
những mặt được và chưa được của quản lý vốn đầu tư XDCB đồng thời đề xuất
được các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư XDCB. Luận văn làm
nổi bật các hạn chế trong công tác quản lý chi vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn
NSNN qua KBNN, nhưng chưa đi sâu phân tích công tác kiểm soát chi đầu tư
XDCB từ NSNN
“Hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB huyện Bá Thước
tỉnh Thanh Hóa” (Lê Hoằng Bá Tuyền, 2008). Luận văn thạc sĩ kinh tế. Luận văn đã
đưa ra được các cơ sở lý luận về quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB; chỉ ra được
những kết quả, hạn chế và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi
NSNN cho đầu tư XDCB tại huyện Bá Thước tỉnh Thanh Hóa.

Mục tiêu chung của đề tài là phân tích, đánh giá thực trạng công tác kiểm
soát chi đầu tư từ nguồn Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc nhà nước Bạch Thông
tỉnh Bắc Kạn trong những năm qua, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện
công tác kiểm soát chi đầu tư cho Kho bạc nhà nước Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn
trong những năm tới.

1.3.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về Kiểm soát chi đầu tư
từ Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước.
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác Kiểm soát chi đầu tư từ nguồn
Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc nhà nước Bạch Thông trong những năm qua.
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác Kiểm soát chi đầu tư cho Kho
bạc nhà nước Bạch Thông trong những năm tới.

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác Kiểm soát chi đầu tư các dự án,
công trình từ nguồn vốn NSNN qua Kho bạc nhà nước Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu các dự án nguồn vốn trong nước do
KBNN Bạch Thông trực tiếp thực hiện kiểm soát trên địa bàn huyện (bao gồm dự
án cấp vốn từ ngân sách trung ương và ngân sách địa phương).
- Phạm vi về thời gian: Luận văn khảo sát thực trạng kiểm soát chi đầu tư từ
nguồn vốn NSNN ở KBNN Bạch Thông trong giai đoạn từ năm 2015 – 2017, đề
xuất giải pháp đến năm 2020
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:


12

Những thông tin về tình hình cơ bản, tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa
phương, công tác điều hành ngân sách nói chung và quản lý điều hành vốn đâu tư


13
tại địa phương.
b. Nguồn số liệu sơ cấp
Mục tiêu: nhằm thu thập số liệu để đánh giá phân tích ý kiến của đơn vị sử
dụng ngân sách về quy trình kiểm soát chi đầu tư, trình độ cán bộ kiểm soát chi
NSNN qua kho bạc nhà nước Bạch Thông.
Đối tượng là cán bộ là đại diện chủ đầu tư ( các cán bộ này đều ở những đơn
vị có phát sinh ít nhất 1 dự án, công trình đầu tư NSNN có KSC qua KBNN Bạch
Thông)
Chọn mẫu điều tra: tác giả đã chọn ngẫu nhiên từ 01 cán bộ là đại diện chủ
đầu tư thuộc các đơn vị có thực hiện chi đầu tư NSNN qua KBNN Bạch Thông
thuộc các cấp tỉnh, huyện, xã. Mỗi cán bộ sẽ thực hiện một mẫu phiếu điều tra.
Cỡ mẫu điều tra: theo kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu thì cho rằng nếu
dùng trong các nghiên cứu thực hành thì kích thước mẫu tối thiểu phải từ 100 -150
( Roger, 2006). Do đó tác giả lựa chọn ngẫu nhiên 116 cán bộ của 58 đơn vị có thực
hiện kiểm soát chi đầu tư qua kho bạc nhà nước Bạch Thông (trong đó có 03 đơn vị
cấp tỉnh, 38 đơn vị cấp huyện, 17 đơn vị cấp xã). Các đơn vị thuộc ngân sách Trung
ương và ngân sách tỉnh không được giao nhiệm vụ là chủ đầu tư thì không có kiểm
soát chi đầu tư qua KBNN Bạch Thông thì không nằm trong đối tượng tham gia vào
điều tra. Sau khi tiến hành điều tra thì tác giả phân loại và xử lý số liệu có 16 bị loại
do phiếu không đạt yêu cầu ( thông tin điền trên phiếu không đầy đủ hoặc chỉ chọn
một mức điểm duy nhất cho tất cả các câu hỏi)
Bảng 1.1 Cơ cấu bảng số liệu điều tra

Số phiếu phát
ra (người)

sách cấp huyện
Cán bộ là đại diện chủ đầu tư có thực hiện
chi đầu tư qua KBNN Bạch Thông thuộc
sách cấp xã


14
Tổng

100

100%

( Nguồn: tính toán của tác giả dựa trên kết quả điều tra)

Mẫu phiếu điều tra: gồm 2 phần là phần thông tin chung và phần thông tin
điều tra. Sau khi thu thập phiếu tác giả dùng phần mềm Excel để tổng hợp lại số liệu
phục vụ cho việc tính toán.
Mỗi phiếu điều tra sẽ quy định như sau:
Mỗi biến số sẽ được ghi điểm theo quy ước thể hiện tại bảng:
Bảng 1.2: Bảng ý nghĩa của điểm số các biến

Điểm
Ý nghĩa

1
Kém

2
Trung bình

: Điểm trung bình

Xi : Điểm ở mức độ i
Ki : Số người tham gia đánh giá ở mức độ Xi
n: Số người tham gia đánh giá.
Điểm số bình quân sẽ phản ánh với 5 mức đánh giá theo thang điểm như sau:
Bảng 1.3: Ý nghĩa của điểm số bình quân

Mức

Khoảng

Ý nghĩa

1
2
3
4
5

4.20 - 5.00
3.40 - 4.19
2.60 - 3.39
1.80 - 2.59
1.00 - 1.79

Rất tốt
Tốt
Khá
Trung bình

thực tế đã xảy ra trong quá khứ được chọn làm gốc so sánh
- So sánh số tương đối: biểu hiện sự so sánh mức độ của hiện tượng ở 2 thời
kì hay 2 thời điểm khác nhau nhằm phản ánh rõ hơn tình hình của hiện tượng ở thời
kỳ nghiên cứu.
Công thức:
y1
y0
Trong đó: y1 là mức độ thực tế xảy ra trong năm nghiên cứu; y 0 là mức độ
t

=

thực tế đã xảy ra trong quá khứ được chọn làm gốc so sánh
Phương pháp phân tích tỷ lệ: là phương pháp truyền thống, được sử dụng
phổ biến trong phân tích tài chính. Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với


16
các điều kiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện.
Phương pháp dự báo thống kê: dự báo là việc xác định các thông tin chưa
biết có thể xảy ra trong tương lai của hiện tượng được nghiên cứu dựa trên cơ sở
những số liệu thống kê trong những giai đoạn đã qua.
Dự báo sự biến động các chỉ tiêu nghiên cứu. Công việc dự báo được dựa
vào ước tính dựa trên số liệu thực tế trong một khoảng thời gian phù hợp. Sự chính
xác trong các kết quả của dự báo sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động trong thời
gian tới. Để kết quả của các dự báo tương đối sát với những gì sẽ xảy ra trong tương
lai, điều quan trọng là phải có phương pháp dự báo hợp lý.


17

Chi đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước là một bộ phân trong chi ngân sách


18
nên nó mang đầy đủ tính chất của khoản chi NSNN đó là:
- Chi đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước là các khoản chi được thực hiện
theo các chương trình, kế hoạch phù hợp với chiến lược phát triển và quy hoạch
kinh tế địa phương, vùng, ngành đã duyệt.
Các khoản chi đầu tư từ NSNN được gắn với những nhiệm vụ kinh tế, chính
trị, xã hội mà nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ. Chi đầu tư từ ngân sách nhà
nước là thực hiện đầu tư công. Mục tiêu của chi đầu từ từ NSNN là tạo lập năng lực
sản xuất phục vụ nền kinh tế và xã hội. Việc thực hiên giải ngân vốn đầu tư chính là
cụ thể hóa các chiến lược kinh tế, quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt,
có ý nghĩa “ định hướng” cho các nguồn vốn ngoài nhà nước thực hiện đúng chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội địa phương nói riêng và quốc gia nói chung
- Chi đầu tư từ nguồn NSNN mang tích chất pháp lý cao
Chủ đầu tư ở đây là nhà nước nhưng nhà nước lại không trực tiếp quản lý
mà giao cho một cơ quan thực hiện nhiệm vụ này, do đó cần có cơ chế điều chỉnh
Các cơ chế điều chỉnh là hệ thống luật và văn bản dưới luật được đươc ra để khoản
chi đúng mục tiêu, tiến độ, chất lượng và hiệu quả.
- Chi đầu tư từ nguồn NSNN mang lại hiệu quả tầm vĩ mô và tính chất không
hoàn trả trực tiếp là chủ yếu
Sản phẩm sau quá trình đầu tư công là tạo ra năng lực sản xuất mới, hình
thành phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội như giao thông, thuỷ lợi, điện,
trường học, trạm y tế… Thông qua việc duy trì và phát triển hoạt động đầu tư xây
dựng, chi đầu tư từ NSNN góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển nền
kinh tế quốc dân, tái tạo và tăng cường năng lực sản xuất, tăng năng suất lao động,
tăng tích luỹ cho nền kinh tế, tăng thu nhập quốc dân và tổng sản phẩm xã hội.
- Chi đầu tư từ ngân sách nhà nước chủ yếu là chi đầu tư xây dựng cơ bản
Chi đầu tư XDCB là một khoản chi lớn trong tổng cầu của nền kinh tế. Mức

Nội, năm 2013)
Như vậy, kiểm soát chi đầu tư NSNN qua KBNN là quá trình xem xét các khoản
chi NSNN đã được thủ trường đơn vị sử dụng NSNN quyết định chi gửi đến cơ quan
Kho bạc nhằm đảm bảo chi đúng theo các chính sách chế độ, định mức chi tiêu do Nhà
nước quy định, đồng thời để phát hiện và ngăn chặn các khoản chi trái với quy định
hiện hành .(Lê Văn Hưng – Lê Hùng Sơn, Giáo trình Kho bạc Nhà nước, trường Đại
học kinh doanh và công nghệ Hà Nội, năm 2013)
b) Sự cần thiết của công tác kiểm soát chi đầu tư từ NSNN
Cần phải kiểm soát chi đầu tư vì những lý do sau đây:
Một là, do yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, trong quá trình đổi mới


20
cơ chế quản lý tài chính nói chung và cơ chế quản lý kiểm soát chi đầu tư phải đảm
bảo tính tiết kiệm và có hiệu quả.
Điều này là một tất yếu khách quan, bởi vì nguồn lực của NSNN bao giờ
cũng có hạn, nó là nguồn lực của đất nước, trong đó chủ yếu là tiền của và công sức
lao động của nhân dân đóng góp, do đó không thể chi tiêu một cách lãng phí. Vì
vậy, kiểm soát chặt chẽ các khoản chi đầu tư thực sự trở thành mối quan tâm hàng
đầu của Đảng, Nhà nước, các cấp lãnh đạo, các ngành của toàn xã hội. Thực hiện tốt
công tác này sẽ có ý nghĩa to lớn trong việc thực hành tiết kiệm, tập trung mọi
nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế - xã hội, chống các hiện tượng tiêu cực, chi
tiêu lãng phí, góp phần lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia, tập trung mọi nguồn
lực tài chính để phát triển kinh tế.
Hai là, do hạn chế của bản thân cơ chế quản lý chi đầu tư.
Cơ chế quản lý, cấp phát thanh toán đầu tư tuy thường xuyên được sửa đổi,
bổ sung và từng bước hoàn thiện, nhưng cũng chỉ có thể quy định được những vấn
đề chung nhất, mang tính nguyên tắc. Vì vậy, nó không thể bao quát được hết tất cả
những hiện tượng nảy sinh trong quá trình thực hiện chi đầu tư . Cùng với sự phát
triển mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế xã hội, công tác chi đầu tư cũng ngày càng

ưu thế vô cùng to lớn đối với các đơn vị sử dụng NSNN. Trách nhiệm của họ là phải
chứng minh được việc sử dụng của các khoản kinh phí bằng các kết quả công việc
cụ thể đã được Nhà nước giao. Tuy nhiên, việc dùng những chỉ tiêu định tính và
định lượng để đánh giá và đo lường kết quả công việc trong nhiều trường hợp là
thiếu chính xác và gặp không ít những khó khăn. Vì vậy, cần phải có một cơ quan
chức năng có thẩm quyền để thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi của
đầu tư, bảo đảm tương xứng giữa khoản tiền Nhà nước đã chi ra với kết quả công
việc mà các đơn vị sử dụng NSNN thực hiện.
Năm là, do yêu cầu mở cửa hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới.
Theo kinh nghiệm quản lý NSNN của các nước và những khuyến nghị của tổ
chức tài chính quốc tế; việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi đầu tư chỉ thực hiện
có hiệu quả trong điều kiện thực hiện cơ chế chi trả trực tiếp từ cơ quan quản lý quỹ
đầu tư đến từng đối tượng sử dụng ngân sách, kiên quyết không chuyển kinh phí
của NSNN qua các cơ quan quản lý tài chính nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả
sử dụng kinh phí của nhà nước.
2.1.2.2 Nguyên tắc kiểm soát chi đầu tư Ngân sách nhà nước:
Kiểm soát chi đầu tư NSNN được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
a. Nguyên tắc đúng đối tượng.
Cấp phát vốn đầu tư được thực hiện theo phương thức cấp phát không hoàn


22
trả nhằm đảm bảo vốn để đầu tư các dự án cần thiết phải đầu tư thuộc kết cấu hạ
tầng kinh tế- xã hội không có hoặc ít có khả năng thu hồi vốn và các công trình bí
mật Nhà nước, quốc phòng, an ninh… Từ đó để tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cần
thiết cho sự phát triển toàn diện và cân đối của nền kinh tế quốc dân. Với sự hạn
hẹp của nguồn vốn NSNN và để đảm bảo hiệu quả đầu tư, đòi hỏi việc cấp phát vốn
phải đúng đối tượng, sử dụng vốn NSNN theo quy định của pháp luật hiện hành.
b. Nguyên tác thực hiện nghiêm chỉnh trình tự đầu tư và xây dựng, có đầy đủ các
tài liệu thiết kế và dự toán được duyệt.

của NSNN phải đúng mục đích, đúng kế hoạch nhằm tuân thủ đúng nguyên tắc
quản lý NSNN và đảm bảo tính kế hoạch, tính cân đối của toàn bộ nền kinh tế quốc
dân, của từng ngành, từng lĩnh vực và từng địa phương.
Vốn đầu tư chỉ được sử dụng cho mục đích đầu tư theo kế hoạch đã được
cấp có thẩm quyền phê duyệt, không được sử dụng cho các mục đích khác như:
trang trải các nhu cầu chi thường xuyên, trả nợ dân… Cấp phát vốn đầu tư phải
tuân thủ theo đúng kế hoạch vốn đã được duyệt cho từng công trình; Tổng số vốn
thanh toán cho dự án trong năm kế hoạch (bao gồm vốn tạm ứng và thanh toán khối
lượng hoàn thành) cho từng công trình, dự án không được vượt kế hoạch vốn cả
năm đã bố trí cho công trình, dự án đó; Không được điều chuyển vốn từ dự án này
sang dự án khác nếu không có quyết định của cấp có thẩm quyền, đặc biệt là việc
điều chuyển vốn từ dự án, công trình trung ương sang dự án, công trình địa phương
quản lý. Khối lượng thực hiện vượt tiến độ thuộc các công trình, dự án có yêu cầu
đẩy nhanh tiến độ đầu tư và xây dựng chỉ khi cấp có thẩm quyền cân đối được
nguồn vốn mới được cấp phát thanh toán.
d. Nguyên tắc kiểm soát chi đầu tư NSNN được thực hiện theo khối lượng công việc
thực tế hoàn thành và chỉ trong phạm vi giá trị dự toán được duyệt.
Cũng như sản phẩm của chi đầu tư nói chung thì sản phẩm của chi đầu tư
NSNN có mức vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựng dài, kết cấu kỹ thuật phức tạp. Do
đó quản lý và cấp phát thanh toán vốn theo khối lượng công việc thực tế hoàn thành
nhằm đảm bảo vốn cho quá trình đầu tư được liên tục đúng kế hoạch tiến độ đề ra,
kiểm tra chặt chẽ tiến độ, chất lượng từng công việc và khối lượng công trình hoàn
thành, đảm bảo vốn được sử dụng đúng mục đích và có vật tư, tài sản đảm bảo,
tránh ứ đọng hoặc gây thất thoát, lãng phí vốn của Nhà nước.
Sản phẩm chi đầu tư có tính đơn chiếc, mỗi công trình có một thiết kế và dự
toán riêng. Dự toán công trình xây dựng phản ánh những chi phí cần thiết và là giới
hạn tối đa được phép đầu tư cho công trình, dự toán được xác định dựa trên cơ sở
các tiêu chuẩn định mức kinh tế- kỹ thuật, đơn giá do cơ quan Nhà nước có thẩm



2.1.2.3 Vai trò của KBNN trong công tác kiểm soát chi đầu tư từ NSNN
Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng
tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về quỹ ngân sách nhà nước,


25
các quỹ tài chính nhà nước; quản lý ngân quỹ nhà nước; tổng kế toán nhà nước; thực
hiện việc huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển thông qua
hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ theo quy định của pháp luật.
KBNN giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình quản lý ngân sách. Mọi
khoản chi của NSNN chỉ được thực hiện khi có đủ điều kiện quy định, đồng thời theo
nguyên tắc thanh toán trực tiếp cho đơn vị sử dụng ngân sách và các tổ chức được
NSNN hỗ trợ thường xuyên phải mở tài khoản tại KBNN, chịu sự kiểm tra của cơ quan
tài chính và KBNN trong quá trình thanh toán và sử dụng kinh phí.
KBNN chính là “trạm canh gác và kiểm soát cuối cùng” được Nhà nước giao
nhiệm vụ kiểm soát trước khi đồng vốn của Nhà nước ra khỏi quỹ NSNN.
KBNN không chỉ có nhiệm vụ xuất nhập công quỹ mà còn có trách nhiệm quản
lý quỹ NSNN. Với nhiệm vụ này, KBNN chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, hợp lệ
của hồ sơ thanh toán. Đồng thời phải kiểm tra việc sử dụng kinh phí NSNN cấp cho
các đơn vị, tổ chức kinh tế, bảo đảm đúng mục đích, đúng chế độ của Nhà nước. Công
việc kiểm tra đó được KBNN thực hiện thông qua việc xem xét hồ sơ, tài liệu chi.
Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện thấy việc sử dụng kinh phí được NSNN cấp
không đúng mục đích, không đúng chế độ, chính sách của Nhà nước, KBNN có quyền
từ chối cấp phát thanh toán.
Như vậy, trong quá trình quản lý và điều hành NSNN, KBNN không thụ động
thực hiện theo các lệnh của cơ quan tài chính, hoặc đơn vị sử dụng ngân sách một cách
đơn thuần. KBNN hoạt động có tính chất độc lập tương đối, theo cơ chế tác động trở
lại đối với các cơ quan, đơn vị này. Thông qua đó, KBNN có thể đảm bảo tính chặt chẽ
trong quá trình sử dụng công quỹ Nhà nước, đặc biệt trong chi đầu tư XDCB... Chính
vì vậy, việc này không những đã hạn chế được tình trạng lãng phí, thất thoát, tiêu cực,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status