[ H tì V I ; \
BỌ• GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
BỘ Y TẾ
Dược HÀ NỘI
L ________________ '
DS. NGUYỄN SỸ VIỆT
NGHIÊN CỨU BÀO CH ế VIÊN NÉN
CHỮA Dị■ ỨNG TỪ DƯỢC
LIỆU
■
■
LUẬN VĂN THẠC SỸ Dược HỌC
Chuyên ngành:
Công nghệ dược phẩm
và bào chế
Mã số:
60.73.01
Người hướng dẫn: TS. Phạm Thanh Trúc
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
NaCMC
Natri carboxy methyl cellulose
CMC
Carboxy methyl cellulose
EC
Ethyl cellulose
HPMC
Hydroxy propyl methyl cellulose
ANN
Mạng thần kinh nhân tạo (Artificial neural network)
SKLM
Sắc ký lớp mỏng
DST
Sodium starch glycolat
1.2.1 Thuốc vô hiệu hóa các hoạt chất trung gian
5
1.2.2 Một số dạng thuốc có nguồn gốc đông dược có trên thị trường
6
1.3 Sự liên quan giữa tác dụng sinh học của flavonoid và cơ chế
chống dị ứng
6
1.4 Một số đặc điểm về các thành phần từ bài thuốc chữa dị ứng
7
1.4.1 Kim ngân hoa
7
1.4.2 Thổ phục linh
9
1.4.3 Mã đề
11
1.4.4 Lá khế
1.6.4 Sinh khả dụng của viên nén
21
1.7 Sơ lược về tối ưu hóa trên mạng thần kinh nhân tạo
24
Chương 2. NGUYÊN LIỆU, HÓA CHẤT, TRANG THIẾT BỊ VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
27
2.1 Nguyên liệu, hóa chất, trang thiết bị
27
2.1.1 Nguyên liệu, hóa chất
27
2.1.2 Trang thiết bị
27
2.2 Phương pháp nghiên cứu
3.1.2 Đề xuất tiêu chuẩn lá khế
3
3.2 Nghiên cứu chiết xuất bán thành phẩm trong phòng thí nghiệm
1
32
3.2.1 Chiết xuất lá khế và kim ngân hoa
32
3.2.2 Chiết xuất thổ phục linh và mã đề
36
3.3 Đề xuất tiêu chuẩn cao khô
40
3.3.1 Đề xuất tiêu chuẩn cao khô
40
3.3.2 Phương pháp thử
4Q
59
3.8.1 Nội dung tiêu chuẩn viên nén bao film
59
3.8.2 Phương pháp thử
59
3.9 Kết quả theo dõi độ ổn định của thuốc
62
3.9.1 Điều kiện bảo quản để khảo sát
62
3.9.2 Phương pháp khảo sát
62
3.9.3 Kết quả khảo sát
62
Chương 4. BÀN LUẬN
64
67
4.7 Về tối ưu hóa công thức bào chế
68
4.8 Về đề xuất tiêu chuẩn viên nén
68
4.9 Thử độ ổn định
68
KẾT LUẬN
69
ĐỂ XUẤT
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
ĐẶT
VÂN ĐỂ
•
Những công trình nghiên cứu dị ứng ở Việt Nam trong 30 năm qua cho
thấy số người mắc bệnh dị ứng tăng nhanh trong những năm gần đây, gồm
cha ông ta từ dược thảo rất đa dạng và dồi dào. Trong kho tàng kinh nghiệm
quý báu đó chúng tôi xây dựng bài thuốc chữa dị ứng gồm 4 vị kim ngân hoa,
lá khế, thổ phục linh, mã đề. Đây là những vị thuốc thường có mặt trong
những thang thuốc chữa dị ứng, tiêu độc, chống viêm. Nhằm giúp người bệnh
sử dụng bài thuốc trên một cách thuận lợi và có hiệu quả, đồng thời để thuốc
có thể đưa vào sản xuất đại trà sau này chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu
2
bào chế viên nén chữa dị ứng từ dược liệu” bao gồm: kim ngân hoa, lá khế,
thổ phục linh, mã đề.
Mục tiêu của đề tài:
Nghiên cứu chiết xuất các nhóm hoạt chất từ 4 dược liệu và bào chế
viên nén chữa dị ứng.
Để thực hiện mục tiêu trên nhiệm vụ khoa học của đề tài gồm các nội
dung sau:
1. Tiêu chuẩn hóa dược liệu
2. Nghiên cứu chiết xuất và tiêu chuẩn hóa cao khô làm bán thành phẩm
trong bào chế viên nén
3. Bào chế viên nén từ cao dược liệu
3
Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Một sô đặc điểm về bệnh dị ứng
1.1.1. Khái niệm
Dị ứng là tình trạng tăng phản ứng với một kháng nguyên đã gây mẫn
cảm (hay còn gọi là phản ứng dị thường so với trạng thái miễn dịch thu được
1.1.2.4. Loại hình IV: Loại hình dị ứng muộn
+ Dị nguyên: thuốc, hóa chất, vi khuẩn, nấm mốc v.v...
+ Kháng thể là các lympho bào mẫn cảm. Sự kết hợp dị nguyên với
lympho bào mẫn cảm, có sự tham gia của đại thực bào, giải phóng hàng loạt
các chất trung gian có tên gọi chung là lymphokin. Các lymphokin gây nên
những rối loạn chức năng, tổn thương tổ chức trong dị ứng muộn. Biểu hiện
lâm sàng là các bệnh viêm da tiếp xúc, viêm da, chàm hóa, sần ngứa, u hạt.
1.1.3. Các giai đoạn chính và yếu tố tham gia trong cơ chê dị ứng
1.1.3.1 Những yêu tố tham gia cơ chế dị ứng [2]
• Dị nguyên:
Dị nguyên tạo nên sự hình thành các kháng thể dị ứng
• Kháng thể:
Có 5 loại kháng thể dị ứng: Reagin (IgE) có vai trò rõ rệt trong các
bệnh dị ứng atopy (có cơ địa, thể tạng dị ứng). Phản vệ tố (IgG) trong hội
chứng choáng phản vệ. Kháng thể ngưng kết hồng cầu (IgM, IgG3, IgG2)
trong cơ chế các bệnh dị ứng loại hình II. Kháng thể kết tủa (IgM, IgG4) có
vai trò rõ rệt trong các bệnh dị ứng loại hình III. Cuối cùng là các kháng thể
bao vây (IgG) xuất hiện trong quá trình giảm mẫn cảm đặc hiệu. Ngoài hai
yếu tố nói trên, trong cơ chế dị ứng nhiều loại hình, có sự tham gia của nhiều
enzym (decacboxylase, histaminase v.v...) vai trò của bổ thể và nhiều hoạt
chất trung gian khác.
1.1.3.2 Các giai đoạn chính
Theo A.D Ado dị ứng là một quá trình gồm ba giai đoạn [1,2]:
• Giai đoạn 1: giai đoạn mẫn cảm kể từ khi dị nguyên xâm nhập vào cơ thể.
Dị nguyên bị các tế bào trình diện kháng nguyên tiếp nhận. Các tế bào này
truyền đặc điểm cấu trúc của dị nguyên đến tế bào Th2. Th2 dưới tác động của
IL4 và IL13 (Interleukin 4,13) làm tế bào lympho B biệt hóa thành plasmocyte.
tương tác với cồn, đôi khi co thắt tử cung.
6
Một số thuốc kháng histamin: alimemazin (Theralen), astemizol
(Hismanal),
cyproheptadin
(Peritol), ketotifen
(Zaditene),
promethazin
(Histalong)...
Một số loại corticoid: methyl prednisolon (Solu Medrol), prednisolon....
1.2.2. Một sô' dạng thuốc có nguồn gốc đông dược có trên thị trường [21]
Một số công ty đã nghiên cứu và đưa ra thị trường các dạng thuốc hoàn
cứng, hay thuốc nước dưới tên “Tiêu độc hoàn” của Công ty cổ phần dược
phẩm Đông Nam Dược Quận 5, “Mộc long” của Công ty đông nam dược Bảo
Long... Nhìn chung các loại thuốc trên chủ yếu dựa vào các bài cổ phương như
“Tiêu phong tán” hoặc “Giải phong sát độc hoàn” có gia giảm. Ngoài ra một
số cơ sở cũng đưa ra thị trường các dạng bào chế từ cây actiso và ghi công
dụng là trị dị ứng, mẩn ngứa.
Các loại thuốc nói trên chủ yếu dựa vào bài cổ phương, chưa được
nghiên cứu sâu, dạng thuốc chưa thuận tiện cho người sử dụng.
1.3 Liên quan giữa tác dụng sinh học của flavonoid và cơ chế chống dị
ứng
kể trên [45,47].
1.4Một sô đặc điểm về các thành phần từ bài thuốc chữa dị ứng
Chúng tôi xây dựng bài thuốc chống dị ứng bao gồm các dược liệu: kim
ngân hoa, lá khế, thổ phục linh, mã đề (kim ngân hoa, lá khế, thổ phục linh
đồng lượng, lượng mã đề bằng một nửa so với các dược liệu khác trong bài).
1.4.1 Kim ngán hoa
• Mô tả
Hoa kim ngân hay kim ngân hoa là hoa phơi hay sấy khô của cây kim
ngân (Lonicera japonica Thunb.), họ kim ngân Caprifoliaceae [6].
Cây kim ngân còn được gọi là Nhẫn đông, Chừa giang khằm (Thái),
Bjoóc kim ngần (Tày) [7,22]
Kim ngân là một loại dây mọc leo, thân có thể vươn dài tới 10m hay
hơn. Cành lúc còn non màu lục nhạt, có phủ lông mịn, khi cành già chuyển
mầu nâu đỏ nhạt, nhẵn. Lá nguyên, mọc đối, phiến lá hình trứng, có lông mịn.
Hoa mọc đôi một ở kẽ lá gần ngọn, khi mới nở mầu trắng, sau chuyển sang
8
màu vàng nhạt, mùi thơm nhẹ. Hoa hình ống, quả hình trứng, dài chừng 5mm,
màu đen. Mùa hoa tháng 3-5, quả tháng 6-8.
Kim ngân là một loại cây mọc hoang tại nhiều tỉnh vùng núi nước ta,
nhiều nhất ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An...Một số
nơi bắt đầu trồng lấy hoa và cành lá làm thuốc. Sau một năm bắt đầu có thể
thu hoạch, càng về những năm sau càng nhiều hoa. Nên hái hoa vào lúc sắp nở
hoặc khi mới nở, màu còn trắng chưa chuyển vàng. Hoa hay cành lá hái về
phơi hay sấy khô là dùng được không phải chế biến gì khác. Việc bảo quản
hoa và cành lá kim ngân tương đối dễ vì ít bị mốc mọt [9,17,22].
• Thành phẩn hóa học
Kết quả nghiên cứu của các tác giả ở trong và ngoài nước đã chứng
và giải độc.
Hoa kim ngân có tác dụng kháng khuẩn trên một số vi khuẩn thuộc các
chi Staphylococcus, Streptococcus, Shigella, Salmonella và một số virus. Được
dùng để trị viêm nhiễm đường hô hấp trên như viêm amydan, viêm họng, viêm
thanh quản, viêm da, mụn nhọt, sưng vú, viêm ruột thừa, trị lỵ trực trùng, viêm
màng kết do siêu vi, cúm [6]. Gần đây có tác giả Trung Quốc công bố về tác
dụng ức chế HIV in vitro của kim ngân [16,19]. Kim ngân còn có tác dụng
ngăn ngừa sự tích mỡ ở bụng . v ề độc tính, cho chuột nhắt uống nước sắc kim
ngân liên tục 7 ngày với liều gấp 150 lần liều điều trị cho người, chuột vẫn
hoàn toàn khoẻ mạnh [17].
1.4.2 Thổ phục linh
• Mô tả
Cây thổ phục linh (Smilax glabra Liliaceae) có thân leo dài 4-5m, nhỏ,
nhẵn, không có gai. Lá trái xoan thuôn, đỉnh nhọn, gốc nhọn, có 3-5 gân
chính xuất phát từ gốc đến đỉnh lá. Lá nhẵn, mặt dưới lá thường có lớp sáp
trắng, cuống lá dài l-l,5cm . Lá kèm biến thành 2 tua cuốn tiêu giảm thành
mũi nhọn ngắn, có khi kéo dài. Hoa đơn tính khác gốc. Cụm hoa tán mọc ở
nách lá, cuống chung 2-5mm. Cuống hoa nhỏ dài l-l,5cm . Ra hoa mùa hạ.
Quả mọng, đường kính 6-8mm, màu đỏ [6].
10
Cây thổ phục linh mọc hoang ở các đồi núi nước ta. Thu hoạch vào cuối
thu, sang đông. Đào lấy thân rễ (thường ăn sâu đến lm hoặc hơn), cắt bỏ rễ
nhỏ, rửa sạch, thái thành lát mỏng, hoặc để nguyên phơi khô. Dược liệu
(nguyên) sau khi chế biến thì hình thù không nhất định, to nhỏ không đều,
thường hình trụ dẹt dài có thể đến 20cm, rộng đến 5cm. Mặt ngoài nâu nhạt,
xù xì, thường có vết dao gọt và phần còn lại của rễ phụ, phần trên có vết của
thân. Chất cứng khó bẻ, chỗ bẻ có chất bột, không mùi, vị nhạt. Thổ phục linh
nhiên các tác dụng này rất yếu so với các loại thuốc có nguồn gốc hóa dược.
Theo y học hiện đại thổ phục linh có chứa saponin steroid, hệ thống
vòng spiroketal trong cấu trúc của chúng dễ dàng bị phá vỡ để cho hợp chất
trung gian là dehydropregnenolin acetat (DPA) là khung cơ bản của các thuốc
steroid. Vì vậy thổ phục linh là nguồn nguyên liệu cho kỹ nghệ bán tổng hợp
các thuốc corticoid và thuốc hạn chế sinh đẻ.
Năm 1999, Bộ môn dược liệu Trường Đại học Dược Hà Nội và Bộ môn
Dược lý Trường Đại học Y Hà Nội đã phối hợp nghiên cứu tác dụng hạ đường
huyết của dịch chiết thổ phục linh trên chuột nhắt và kết luận: dịch chiết cồn
thân rễ thổ phục linh làm hạ đường huyết trên chuột nghiên cứu và thời gian
tác dụng kéo dài hơn so với insulin.
Nghiên cứu tác dụng của dịch chiết cồn thân rễ loài Smilax glabra Roxb
trên chuột bình thường và chuột bị bệnh, kết quả cho thấy ở liều 100mg/lkg
cân nặng dịch chiết có tác dụng làm giảm glucose máu trên chuột bình thường
sau 4h tiêm màng bụng, đồng thời cũng có tác dụng giảm glucose máu trên
chuột bị bệnh đái đường không phụ thuộc insulin. Tuy nhiên dịch chiết này lại
không có tác dụng trên chuột đái đường có phụ thuộc insulin [6,29].
Trong số các tác dụng dược lý nêu trên, có thể tác dụng tẩy độc của thổ
phục linh được sử dụng trong bài thuốc chống dị ứng. Tuy nhiên cho đến nay
chưa tìm được tài liệu thông báo về nhóm chất hay thành phần hoá học có tác
dụng tẩy độc.
1.4.3 Mã đê
• Mô tả
Cây mã đề (Plantago major L., Plantaginaceae) là cây thảo sống lâu,
thân ngắn gần như không có. Lá mọc thành cụm ở gốc, cuống lá dài. lá
12
nguyên, hình thìa hay hình trứng, dài 12cm, rộng 8cm, có 5-7 gân lá hình
[44].
• Cồng dụng
-Tác dụng lợi tiểu: nước sắc mã đề có tác dụng làm tăng lượng nước
tiểu, tăng lượng urê, acid uric và muối trong nước tiểu (thí nghiệm trên chó,
thỏ và trên lâm sàng)
-Tác dụng chữa ho: nước sắc mã đề có tác dụng trừ đờm, mạnh nhất sau
khi uống từ 3 đến 6 giờ.
-Tác dụng kháng sinh: nước sắc mã đề có tác dụng ức chế đối với một
số vi trùng bệnh ngoài da.
-Tác dụng hạ huyết áp.
13
-Tác dụng chống viêm cấp và mãn tính [34, 41].
Những nghiên cứu gần đây cho thấy aucubin và catalpol đều là các
thành phần có tác dụng lợi tiểu và bảo vệ gan [34]. Như vậy các iridoit là các
thành phần cần được chiết xuất cho bài thuốc chống dị ứng.
1.4.4 Lá khê
Lá của cây khế (Averrhoa carambola L.Oxalidaceae) có ílavonoid,
saponin và đã thử tác dụng kháng khuẩn thấy dịch chiết nước lá khế ức chế vi
khuẩn mạnh hơn dịch chiết cồn. Dịch chiết nước có tác dụng trên vi khuẩn
gram (-) và nấm Candida và không có tác dụng trên vi khuẩn gram (+).
Kết quả phân tích sơ bộ thành phần hoá học của lá khế của Đỗ Văn
Thiên cho thấy trong lá khế có: flavonoid (1.17%), saponin (0,93%), tanin,
acid hữu cơ và canxi. Trên sắc ký lớp mỏng saponin toàn phần cho 6 vết. Trên
sắc ký giấy flavonoid toàn phần cho 5 vết [10, 20].
Tác dụng dược lý của lá khế hầu như chưa được nghiên cứu, trừ tác dụng
kháng khuẩn. Theo Đỗ Văn Thiên dịch chiết nước (2;1), dịch chiết cồn,
saponin toàn phần và flavonoid toàn phần của lá khế đều có tác dụng ức chế 4
kiệt, trong quá trình chiết xuất không tiến hành khuấy trộn.
Nguyên tắc: luôn tạo ra sự chênh lệch nồng độ hoạt chất cao vì dược
liệu luôn tiếp xúc với dung môi mới, do đó có thể chiết kiệt hoạt chất.
Các hiện tượng xẩy ra: Khi cho dược liệu vào bình ngấm kiệt và cho
dung môi lên trên mặt dược liệu, trước tiên do tác dụng của trọng lực, dung
môi sẽ chảy xuống luồn vào các khe hở gọi là các không gian mao dẫn có
trong khối dược liệu. Khi tác dụng của độ nhớt, lực mao dẫn đã cân bằng với
tác dụng của trọng lực, dung môi không tiếp tục chảy xuống nữa và bị giữ lại
trong khối dược liệu. Trong thời gian dung môi tiếp xúc với dược liệu sẽ xảy
ra các hiện tượng hòa tan, khuyếch tán, thẩm thấu, thẩm tích.
Các tiểu phân dược liệu phồng lên, các khe hở giữa các tiểu phân dược
liệu thu hẹp lại và khối bột được nén chặt hơn. Nếu sau đó đổ lên mặt dược
liệu lớp dung môi mới, do tác dụng của trọng lực trạng thái cân bằng đã thiết
lập ở trên bị phá vỡ. Dung môi mới thấm vào trong khối dược liệu đẩy dịch
chiết chuyển về phía dưới.
15
Lớp dung môi mới sẽ tiếp tục hòa tan hoạt chất còn lại trong tế bào
dược liệu.
Quá trình này sẽ tiếp diễn cho đến khi không thêm dung môi mới nữa.
1.6 Vài nét về viên nén [4,5,33,38]
Viên nén là dạng thuốc rắn được điều chế bằng cách nén một hay nhiều
dược chất (có thêm hoặc không thêm tá dược) mỗi viên là một đơn vị liều.
Hiện nay viên nén vẫn là loại thuốc phổ biến nhất do có nhiều ưu điểm như:
phân liều chính xác, thể tích nhỏ dễ vận chuyển, che dấu mùi vị khó chịu của
dược chất, dược chất có độ ổn định cao tuổi thọ dài hơn dạng thuốc lỏng, dễ
đầu tư sản xuất lớn, diện sử dụng rộng.
1.6.1 Thành phần viên nén và việc lựa chọn tá dược [4,5,23]
saccarose..dễ hút ẩm, trơn chảy kém, có xu hướng kéo dài thời gian rã của
viên làm cho hoạt chất giải phóng chậm. Hiện nay dùng lactose phun sấy có
cấu trúc tinh thể đều đặn, trơn chảy tốt, chịu nén tốt. Ngoài ra còn có manitol,
sorbitol, bột đường hay dùng trong viên ngậm, viên sủi bọt.
- Nhóm tá dược độn không tan trong nước:
+ Tinh bột: trơ về mặt dược lý, bền về mặt hóa học, có khả năng biến
dược chất sơ nước thành dược chất thân nước làm cho viên dễ rã. Nhược điểm
của nó là trơn chảy kém, hút ẩm, ít chịu nén nếu dùng với tỷ lệ lớn sau một
thời gian bảo quản viên dễ bị bở, dễ nhiễm nấm mốc. Thường hay dùng tinh
bột ngô, tinh bột mì, khoai, sắn đạt tiêu chuẩn dược dụng.
+ Tinh bột biến tính là tinh bột đã qua xử lý bằng phương pháp vật lý
hoặc hóa học, trơn chảy và chịu nén tốt đồng thời làm viên dễ rã. Thường gặp
với các tên thương mại là Lycatab, Primojel, Explotab
+ Cellulose vi tinh thể (Avicel): cấu trúc tinh thể đều đặn, trơn chảy tốt,
chịu nén tốt, làm cho viên dễ rã. Trên thị trường có các loại Avicel kích thước
tiểu phân khác nhau. Hay dùng Avicel PHI01 (kích thước 50 ịim) và Avicel
PHI02 (kích thước 90ụm)
+ Nhóm bột mịn vô cơ: calci carbonat, magnesi carbonat, kaolin,
bentonit, calci phosphat, magnesi oxid, nhôm hydroxyd. Trong đó calci
carbonat, magnesi carbonat hay được dùng làm tá dược hút cho các công thức
viên nén có chứa dược chất háo ẩm, cao mềm dược liệu. Nhóm tá dược này có
tính kiềm, khả năng trơn chảy và tạo hạt kém.
• Tá dược dính: Có vai trò liên kết các tiểu phân, tạo hình cho viên, đảm bảo
độ chắc của viên. Tá dược dính gồm hai loại chính sau:
17
- Nhóm tá dược dính dạng lỏng: dùng trong phương pháp sát hạt ướt
gồm:
năng rã trước khi dùng phải sấy khô. Thường chia làm hai phần: rã trong (5075%), rã ngoài (25-50%)
- Avicel: độ xốp cao. Rã theo cơ chế trương nở (sau khi hút nước trương
nở tăng, phá vỡ cấu trúc viên, làm viên nhanh rã)
• Tá dược trơn:
Tăng cường độ trơn chảy của bột hoặc hạt dập viên do giảm ma sát liên
tiểu phân, viên dễ đồng nhất về khối lượng và hàm lượng
Giảm ma sát, chống dính giữa viên và chày cối, làm viên dễ dàng được
đẩy ra khỏi cối
Làm cho mặt viên bóng đẹp
Tá dược trơn nhẹ và mịn, bám vào bề mặt hạt tạo thành màng mỏng
ngoài hạt, làm trơn, ít tích điện, dễ chảy và ít bị dính. Tuy nhiên tá dược trơn
thường là chất sơ nước làm cho viên khó thấm nước, do đó có xu hướng kéo
dài thời gian rã của viên, làm giảm liên kết giữa các hạt làm cho viên khó đảm
bảo độ chắc. Do vậy cần lựa chọn tá dược trơn với tỷ lệ sao cho:
Hạt có thể chảy tốt, phân phối lực đồng đều
Không gây ra sự sơ nước quá lớn làm hạn chế sự hòa tan dược chất
Các loại tá dược trơn hay dùng:
Acid stearic và muối: tác dụng làm giảm ma sát, điều hòa sự chảy. Do
sơ nước nên kéo dài rõ rệt thời gian rã của viên.
Talc: có tác dụng làm trơn và chống dính, khả năng bám dính kém hơn
magnesi stearat, do đó thường dùng tỷ lệ 1-3%. Tuy nhiên do ít sơ nước nên
bột talc ít ảnh hưởng nhiều đến thời gian rã của viên. Bột talc thường dễ lẫn
kim loại và carbonat ảnh hưởng không tốt đến độ ổn định dược chất dễ bị oxy
hóa.
Aerosil: bột mịn nhẹ khả năng bám dính tốt. Tỷ lệ dùng thấp 0,1-0,5%.
Tác dụng chính là điều hoà sự chảy bột hoặc hạt, ít ảnh hưởng đến khả năng
giải phóng dược chất của viên.
19
hợp, màng bao phải tan rã và giải phóng trong hệ tiêu hóa. Có ba loại bao
phim chính: bao bảo vệ, bao tan ở ruột, bao giải phóng thuốc chậm.
- Phim bao bảo vệ: các polymer này tan trong môi trường dịch vị, dùng
che dấu mùi vị khó chịu của dược chất, bảo vệ viên chống lại các tác động của
yếu tốc ngoại lai, cách ly các dược chất tương kỵ. Hay sử dụng các loại sau: