CƠ sở lý LUẬN và THỰC TIỄN của VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG lực THỰC HÀNH PHÁP LUẬT CHO học SINH TRONG dạy học môn GIÁO dục CÔNG dân lớp 12 - Pdf 54

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰCTHỰC HÀNH PHÁP
LUẬT CHO HỌC SINH TRONG
DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC
CÔNG DÂN LỚP 12


- Cơ sở lý luận.
Các khái niệm cơ bản
Khái niệm về năng lực
Mỗi lĩnh vực khác nhau có một cách hiểu khác nhau về
năng lực. Năng lực, theo nghĩa tiếng Anh là Competence, có
nguồn gốc Latinh "Competentia", tùy vào phạm vi nghiên
cứu, không gian địa lý để các nhà khoa học đưa ra các khái
niệm khác nhau về năng lực.
Theo [36 ] tác giả Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang
Uẩn (1998), khái niệm năng lực được thể hiện như sau: "Năng
lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp
với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm
đảm bảo việc hình thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt
động ấy.
Theo Nguyễn Văn Cường và Bern Meier , “Năng lực là
khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động
giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống thay
đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ


sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn
sàng hành động” [ 13].
Theo [25], OECD (Tổ chức các nước kinh tế phát triển)

Kết quả đầu ra của quá trình dạy học theo định hướng
phát triển năng lực, học sinh phải thể hiện được khả năng
hành động nhằm giải quyết được các vấn đề diễn ra đối với
bản thân và một số mặt đối với xã hội.
Ở đề tài này chúng tôi thống nhất nội dung khái niệm
năng lực: Là khả năng sẵn có và trải qua học tập để làm chủ
các yếu tố kiến thức, kỹ năng, thái độ mà cá nhân có được để
đưa ra các giải pháp tối ưu và sẵn sàng ứng phó với các tình


huống diễn ra của cuộc sống nhằm tạo ra các giá trị sống cơ
bản.
Với các khái niệm về năng lực đã nêu trên, học sinh bậc
THPT phải có được các dấu hiệu quan trọng của năng lực
cần hình thành là khả năng vận dụng được các tri thức, kỹ
năng trong bối cảnh phù hợp.
Năng lực tồn tại ở hai hình thức: Năng lực chung và
năng lực chuyên biệt. Năng lực chung đòi hỏi phải có và cần
được hình thành ở mỗi cá nhân, là nguyên tắc tối thiểu để cá
nhân học tập, lao động, gắn kết với cộng đồng và tự thân giải
quyết các vấn đề của cuộc sống. Năng lực chuyên biệt, mang
tính đặc một số cá nhân và lĩnh vực hoạt động nhất định.
Năng lực chuyên biệt cần thiết ở lĩnh vực này nhưng lại
không cần thiết ở lĩnh vực khác, năng lực chuyên biệt không
thay thế được năng lực chung. Sự phận chia hai hình thức
năng lực mang tính tương đối.
Nhà trường được coi là môi trường chủ yếu nhất để hình
thành năng lực cần thiết của mỗi cá nhân - học sinh, nhưng
không phải là nơi duy nhất. Ngoài nhà trường, các yếu tố như
gia đình, cộng đồng, văn hóa cũng là môi trường hình thành

Năng lực được phân loại theo hai nhóm, nhóm tiếp cận
cấu trúc năng lực theo nguồn hợp thành tạo nên năng lực sáng
tạo và nhóm tiếp cận cấu trúc của năng lực theo bộ phận tạo
thành năng lực giải quyết vấn đề. Năng lực có thành phần và
cấu trúc trừu tượng, tính mở, liên kết và hàm chứa "cấu trúc
bề mặt", " cấu trúc bề sâu" của năng lưc. Tùy thuộc vào mức
độ tiếp cận, năng lực thể hiện các cấu trúc, thành phần năng
lực khác nhau.
Về mặt bản chất:


Chủ thể có năng lực biết kết hợp hài hòa, linh hoạt các
mục tiêu về kiến thức, kỹ năng, thái độ nhằm đáp ứng qui
trình của một hoạt động để đạt được mục đích hành động .
Về mặt biểu hiện:
Năng lực được biểu hiện thông qua sự hiểu biết sử dụng
kiến thức, kỹ năng như thế nào cho phù hợp với tình huống
cuộc sống của sự liên kết giữa các thành tố của năng lực.
Thành phần cấu trúc của năng lực hành động:
Có nhiều hình thức thể hiện mô hình cấu trúc năng lực
khác nhau. Theo quan điểm của các nhà sư phạm nghề Đức,
cấu trúc chung của năng lực hành động là sự kết hợp của 4
năng lực thành phần sau:
Năng lực chuyên môn
Năng lực phương pháp
Năng lực xã hội.
Năng lực cá thể.
Theo [30]" năng lực của học sinh phổ thông do tổ OEDC
đưa ra gồm: Năng lực giải quyết vấn đề, Năng lực xã hội,




cho XH phát triển và ổn định nhà nước ban hành PL với tư
cách là công cụ bảo vệ nhà nước.
Theo Từ điển tiếng Việt, pháp luật là: "Những qui phạm
hành vi do nước ban hành mà mọi người dân buộc phải tuân
theo, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và bảo vệ trật tự xã
hội" [ 36,736].
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, "Pháp luật
vốn là sản phẩm của xã hội có giai cấp đối kháng gắn liền với
hoạt động của nhà nước", "Pháp luật XHCN là toàn bộ những
nguyên tắc xử sự do nhà nước chuyên chính vô sản đặt ra, thể
hiện ý chí, nguyện vọng và lợi ích cơ bản của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động, có tính bắt buộc chung, được bảo
đảm chấp hành bàng giáo dục, thuyết phục hoặc bằng cưỡng
chế của nhà nước xã hội chủ nghĩa"[ 36,743].
Theo [10] "Pháp luật là hệ thống các qui tắc xử sự mang
tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành và đảm bảo thực
hiện bằng quyền lực nhà nước" .Theo [ 27] "Ở Việt Nam hiện
nay, về mặt thuật ngữ pháp lý, "Pháp luật là toàn bộ các qui
phạm do Nhà nước ban hành để bảo vệ, củng cố và phát triển
xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong chế độ xã hội


chủ nghĩa, pháp luật thể hiện ý chí của toàn thể nhân dân.
Nhiệm vụ của pháp luật trong giai đoạn này là đảm bảo và
không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân
dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh. Biện pháp chủ yếu bảo đảm thi hành
là tuyên truyền, phổ biến pháp luật, là thuyết phục và tạo

PL trong cuộc sống do bản thân công dân đó chưa được giáo
dục, rèn giũa thông qua học tập hoặc không vận dụng được
kiến thức vào cuộc sống. Thực hành PL có các cách thức khác


nhau thể hiện qua hành động hoặc không hành động. Cách
thức thực hành PL qua hành động là công dân phải làm, phải
thực hiện. Cách thức thực hành PL thể hiện ở không được
làm, không được hành động theo qui định của PL. Tùy thuộc
vào thực tế để công dân lựa chọn hành vi giải quyết tình
huống đặt ra.
b. Tổ chức
Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hành pháp
luật theo trình tự, thủ tục do pháp luật qui định theo phạm vi
chức năng. Các tổ chức xã hội hoạt động thực hành pháp luật
theo lĩnh vực nghề nghiệp mà PL qui định.
Hình thức thực hành pháp luật
Các hình thức TH (thực hiện) PL tùy thuộc vào ý chí của
mỗi cá nhân khi tham gia vào hoạt động xã hội. Hình thức
THPL gồm có:
Tuân thủ PL, thi hành PL, sử dụng PL, áp dụng PL
Trong đó các giai đoạn thực hành PL như: Tuân thủ PL, thi
hành Pl, sử dụng PL các đối tượng theo sự điều chỉnh của PL
đều có thể tham gia và lựa chọn hành vi phù hợp. Áp dụng PL


vừa là một hình thức THPL vừa là một giai đoạn hoạt động tư
pháp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi ra quyết định
làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật của các
chủ thể PL. Áp dụng PL có đặc điểm riêng, các cơ quan nhà

luận gắn với thực tiễn. Qua thực tiễn, HS củng cố được kiến
thức về PL đã được học ở chương trình GDCD lớp 12. Từ đó,
các em có niềm tin, động lực để phát triển năng lực THPL của
mình. Hình thành các NL phẩm chất cần có của người CD
trong nhà nước XHCN. Biết tôn trọng lợi ích hợp pháp của cá
nhân và XH.
Đối với GV giảng dạy môn GDCD lớp 12, muốn phát
triển được NL THPL cho HS phải nâng cao chuyên môn,


nghiệp vụ, đổi mới PPDH "theo định hướng phát triển năng
lực" của người học.
Môn Giáo dục công dân với việc phát triển NLTH
- Đặc điểm môn GDCD lớp 12 với việc phát triển
NLTH.
Về thời lượng thực hiện chương trình
Chương trình môn GDCD lớp 12 có thòi lượng 35 tiết,
thực hiện trong 37 tuần của năm học. Thời gian dạy chính khóa
bắt đầu từ ngày 20 tháng 8 hàng năm, trong đó có 2 tuần dự
phòng, kết thúc chương trình khoảng 15 tháng 5.
Với thời lượng 1 tiết tuần, cho nên việc tổ chức thực
hiện về hình thức còn có mặt hạn chế.
Nội dung thực hiện chương trình
Môn GDCD lớp 12 bao gồm toàn bộ kiến thức PL, được
xây dựng theo nguyên tắc phát triển đi từ khái niệm đến nội
dung, đi từ phạm vi hẹp đến phạm vi rộng của khái niệm phù
hợp với mức độ hình thành kiến thức và kỹ năng cần đạt của
HS THPT.



XH. Trên nền tảng kiến thức PL đã có PL còn đóng vai trò là
công cụ bảo vệ cuộc sống của HS khi cần.
- Vai trò của phát triển NLTH trong dạy học môn GDCD
lớp 12
Về nội dung
Môn GDCD lớp 12 ở nhà trường THPT là một môn
KHXH, nội dung xuyên suốt của chương trình với chủ đề lớn:


"Công dân với pháp luật". PL phản ánh mọi mặt của đời sống
xã hội đã và đang diễn ra sinh động. Do đó, dạy học môn
GDCD lớp 12 phải gắn liền với thực tiễn XH, gắn với tinh
thần trách nhiệm của mỗi HS và đề cao được tinh thần thái độ
của CD tương lai với PL. Môn học GDCD lớp 12 trực tiếp
hình thành ý thức PL, bồi dưỡng đạo đức tối thiểu nhất cho
HS bậc cuối cấp học THPT. Riêng vấn đề này đã nói lên vị trí
chủ đạo của môn học trong việc hình thành những năng lực
phẩm chất mà người CD cần có trong xu thế hội nhập quốc tế
và thời kỳ CNH - HĐH đất nước. Mỗi bài học chứa đựng
nhiều qui phạm PL. Mỗi qui phạm PL điều chỉnh các mỗi
quan hệ XH thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống. Do
đó, khi tổ chức dạy học GDCD phần kiến thức PL không thể
thoát ly khỏi những bối cảnh thực, điển hình. Qua bối cảnh,
câu chuyện PL phù hợp với nội dung bài học giúp HS vừa
hứng thú vừa khắc sâu được nội dung kiến thức. Qua kiến
thức PL các em biết trân trọng các giá trị của cuộc sống, biết
hướng đến các chuẩn mực đạo đức vàPL.
Vai trò phát triển NLTH
Thông qua việc trang bị kiến thức PL có hệ thống, qua
các câu chuyện PL, tình huống PL giúp cho học sinh biết và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status