Sự biến đổi của các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam hiện nay tt - Pdf 54

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ MẠNH DŨNG

SỰ BIẾN ĐỔI CỦA CÁC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC
TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngành: Đạo đức học
Mã số :9 22 90 06

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2019


Công trình được hoàn thành tại:
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HOC:
GS.TS. Hồ Sĩ Quý

Phản biện 1: GS.TS. Nguyễn Văn Tài
Phản biện 2: PGS.TS. Nguyễn Thị Thọ
Phản biện 3: GS.TS. Trần Phúc Thăng
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện,
họp tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã
hội Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.

trong điều kiện hiện nay, từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp bảo đảm sự biến
đổi các giá trị đạo đức truyền thống theo hướng tích cực.
Nhiệm vụ: để đạt được mục đích trên đây, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là:
Thứ nhất, tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài và
xác định những nội dung mà luận án cần phải tiếp tục nghiên cứu.
Thứ hai, làm rõ các khái niệm cơ bản tạo thành khung lý luận để nghiên cứu
về sự biến đổi giá trị đạo đức truyền thống và phân tích sự biến đổi đó trong sự vận
động lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Thứ ba, nghiên cứu thực trạng biến đổi các giá trị đạo đức truyền thống Việt
Nam, cả những biến đổi theo hướng tích cực lẫn biến đổi tiêu cực và nguyên nhân
của sự biến đổi đó ở nước ta hiện nay.

1


Thứ tư, đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm tác động tích cực và
hạn chế tác động tiêu cực đến sự biến đổi của các giá trị đạo đức truyền thống, đáp
ứng các yêu cầu xây dựng đất nước, con người Việt Nam trong điều kiện hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng: luận án nghiên cứu về sự biến đổi của các giá trị đạo đức truyền
thống Việt Nam trong điều kiện hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: luận án chỉ nghiên cứu sự biến đổi một số giá trị đạo đức
truyền thống Việt Nam tiêu biểu: yêu nước, đoàn kết và ý thức cộng đồng, nhân ái
và thương người, cần cù và tiết kiệm, hiếu học và tôn sư trọng đạo.
Thời gian khảo sát sự biến đổi của các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam
chủ yếu là từ khi Đảng ta khởi xướng công cuộc đổi mới (1986) đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lý luận: luận án dựa trên lý luận triết học, đạo đức học Mác –Lênin;
trên tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về giá trị
đạo đức truyền thống Việt Nam. Đồng thời, chú trọng kế thừa quan điểm và các

TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH
NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Những vấn đề lý luận về giá trị đạo đức truyền thống và sự biến đổi
của giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam
1.1.1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề lý luận về giá trị
đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam
Trần Văn Giàu (1993) trong cuốn “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc
Việt Nam”, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, đã phân tích một cách sâu sắc về các giá
trị tinh thần truyền thống quý báu của người Việt Nam; đó là lòng yêu nước, cần
cù, anh dũng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa...
Trong công trình: “Giá trị truyền thống và giá trị hiện đại” của Nguyễn Ngọc
Vân đăng trên Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 11/ 1995; cũng như công
trình: “Truyền thống và hiện đại: vài suy nghĩ và đề xuất” của Phan Huy Lê, đăng
trên Tạp chí Cộng sản, số 8/1996, các tác giả đều nêu và phân tích những giá trị
truyền thống cơ bản của dân tộc (trong đó có giá trị đạo đức truyền thống) và vai
trò của chúng đối với việc hình thành các giá trị hiện đại.
Công trình: “Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển”,
Tạp chí Triết học, số 2/ 1998; tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn nêu lên tương đối rõ nét
về nội dung và những cách thức nhằm khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu
phát triển
Công trình: “Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa”
do Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên (đồng chủ biên) (2002), Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, các tác giả không chỉ đề cập đến các giá trị truyền
thống và thực trạng của các giá trị truyền thống Việt Nam mà còn nêu lên những
vấn đề về sự cần thiết phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trước
những thách thức của xu thế toàn cầu hóa.
Và một số công trình tiêu biểu của tác giả Ngô Đức Thịnh (Chủ biên) (2014)
trong cuốn sách: “Giá trị văn hoá Việt Nam - truyền thống và biến đổi”, Nxb.
Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội; tác giả Trần Đức Dương, trong bài: “Phát huy
3

đến công trình: “Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị
trườngvới việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay” do
Nguyễn Chí Mỳ (chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999. Các tác giả đã
đề cập đến một số vấn đề về đạo đức đang được xã hội quan tâm, đồng thời cũng đã
có những luận giải khá sâu sắc về sự biến đổi của bậc thang giá trị đạo đức trong cơ
chế thị trường. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã nghiên cứu, đề xuất một số
phương hướng, giải pháp có tính chất định hướng cho việc hình thành các giá trị

4


đạo đức mới dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường nhằm xây dựng những giá
trị đạo đức cho đội ngũ cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay.
Theo tác giả Nguyễn Đình Tường trong bài “Một số biểu hiện của sự biến đổi
giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc
phục”, (Tạp chí Triết học, số 6/2002), thì việc giữ gìn và phát huy các giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc chính là làm phong phú nội dung của các giá trị đạo đức
truyền thống ấy trong thời đại mới, đem lại sức mạnh của chúng phục vụ cho công
cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý (đồng chủ biên) (2002)
trong công trình:“Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa”, (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội), trình bày về sự biến
đổi các giá trị truyền thống sang hiện đại. Đó là do việc chuyển sang thực hiện nền
kinh tế thị trường, do những tiến bộ công nghệ trong sản xuất và trong các lĩnh vực
hoạt động của đời sống xã hội. Sự tác động của kinh tế thị trường, của công nghiệp
hoá, hiện đại hoá trong quá trình toàn cầu hoá tới các giá trị văn hoá truyền thống
luôn có tính hai mặt là tích cực và tiêu cực, nên việc khai thác, giữ gìn và phát huy
các giá trị truyền thống là một trong những đảm bảo cho xã hội và con người phát
triển bền vững.
Cao Thu Hằng trong bài viết: “Giá trị đạo đức truyền thống và những yêu cầu

giai đoạn lịch sử nhất định tạo nên.
Hai là, sự biến đổi của các giá trị đạo đức là sự biến đổi cả về mặt nội dung và
cả về hình thức thể hiện.
Ba là, sự biến đổi diễn ra cả theo chiều hướng tích cực và chiều hướng tiêu
cực trong quá trình vận động. Do vậy, cần phải có sự định hướng cho sự phát triển
của các giá trị đạo đức.
Bốn là, sự biến đổi của các giá trị đạo đức truyền thống không chỉ là sự kế
thừa các giá trị dân tộc mà còn là sự tiếp thu, cải biến những tinh hoa văn hoá tinh
thần và giá trị đạo đức của các dân tộc khác trong quá trình giao lưu tiếp biến.
Năm là, các giá trị đạo đức truyền thống dù biến đổi nhưng vẫn chậm hơn, thể
hiện sự bền vững hơn so với các biến đổi giá trị tinh thần khác. Đồng thời, chúng
vẫn chiếm vị trí và vai trò có ý nghĩa trong sự phát triển của các cộng đồng người,
trước hết về mặt văn hóa tinh thần.
1.2. Những công trình liên quan đến thực trạng, nguyên nhân biến đổi các giá
trị đạo đức truyền thống Việt Nam và phương hướng, giải pháp đảm bảo sự biến
đổi theo hướng tích cực
1.2.1. Những công trình liên quan đến thực trạng biến đổi các giá trị đạo đức
truyền thống Việt Nam và nguyên nhân của thực trạng đó
Trần Ngọc Thêm trong báo cáo, “Giá trị và sự chuyển đổi hệ giá trị văn hoá
truyền thống Việt Nam” trình bày tại Hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy các
giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập” ngày
18/09/2009 tại Biên Hoà - Đồng Nai, cho rằng, khác với các nước khác, Việt Nam
phát triển theo lối trọng tĩnh là từ từ, ít đột biến.
Nguyễn Đình Tường trong bài viết “Giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá truyền
thống ở Việt Nam trước tác động của toàn cầu hoá” (Tạp chí Triết học, số 5/2006), đã nêu
và phân tích thực trạng biểu hiện giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam trước tác động
6


của toàn cầu hoá. Đó là, những tác động tiêu cực của toàn cầu hoá đã và đang làm chao

Hai là, trong quá trình biến đổigiá trị đạo đức truyền thống hiện nay xuất hiện
biểu hiện rối loạn chuẩn mực đạo đức.
Ba là, có hai xu hướng biến đổi:

7


- Xu hướng thứ nhất, hình thành một số giá trị mới, khắc phục những hạn
chế của giá trị truyền thống.
- Xu hướng thứ hai, “trượt dốc”, xuống cấp ngày càng xa rời hoặc làm mai
một các giá trị truyền thống.
Bốn là, do thực trạng đang loạn chuẩn và có sự xuống cấp nên cần quan tâm đến
đạo đức cả về mặt giá trị và phi giá trị (các phẩm chất xấu của người Việt Nam).
Các tác giả đã phân tích và xác định được những nguyên nhân khách quan và
những nguyên nhân chủ quan của thực trạng trên.
Về nguyên nhân khách quan: Do điều kiện kinh tế - xã hội trong thời kỳ quá
độ; do sự tác động của các yếu tố thị trường trong điều kiện hội nhập và toàn cầu
hóa; sự thay đổi ít nhiều về cơ chế vận hành các thể chế chính trị.
Về nguyên nhân chủ quan: do sự quản lý và định hướngchưa thỏa đáng của
các cấp quản lý xã hội, cả ở cấp độ lý luận, pháp luật và thực tiễn quản lý.
1.2.2. Những công trình liên quan đến các giải pháp đảm bảo sự biến đổi
các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam theo hướng tích cực
Tác giả Nguyễn Đình Tường trong bài: “Một số biểu hiện của sự biến đổi giá
trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và giải pháp khắc
phục”, Tạp chí Triết học, số 6/2002, đặc biệt coi trọng và quan tâm đến công tác
tuyên truyền và giáo dục đạo đức cho toàn xã hội, nhất là thế hệ trẻ, đó là nhiệm vụ
của từng gia đình, của các nhà trường và cả xã hội.
Cũng theo Nguyễn Văn Phúc trong bài “Về việc tạo ra bước chuyển mạnh mẽ
trong xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta hiện nay”, (Tạp chí Triết học, số
11/2006), thì thực chất của sự chuyển đổi đạo đức là sự chuyển đổi về giá trị và

tích cực, khắc phục những hạn chế trong tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên và qua đó xây
dựng xã hội ngày càng tốt đẹp hơn.
Công trình “Giá trị văn hoá Việt Nam - truyền thống và biến đổi” (Nxb.
Chính trị quốc gia - sự thật, Hà Nội, 2014) do Ngô Đức Thịnh (Chủ biên), chỉ ra
rằng, để bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, chủ động
hội nhập quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá, cần thực hiện các quan điểm giải
pháp chính yếu.
Từ cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu trong mỗi công trình mà các tác giả có đưa ra
các giải pháp nhằm bảo đảm sự biến đổi các giá trị văn hoá truyền thống nói chung, hay
các giá trị đạo đức truyền thống nói riêng theo hướng tích cực.
Một là, tăng cường giáo dục giá trị văn hoá truyền thống (gồm cả các giá trị
đạo đức truyền thống).
Hai là, đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo tiền đề và điều kiện cơ sở vật chất lành
mạnh bảo đảm cho sự biến đổi các giá trị văn hoá truyền thống nói chung cũng như
giá trị đạo đức truyền thống theo hướng tích cực.
Thứ ba, nhanh chóng hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật, đồng thời
thực thi nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật nhằm đảm bảo định hướng biến đổi giá
trị đạo đức truyền thống theo hướng tích cực.
Thứ tư, phát huy vai trò tích cực của các chủ thể đạo đức (cá nhân, tập thể,
cộng đồng, dân tộc…) trong việc giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống.

9


1.3. Những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Tuy đã có nhiều công trình liên quan đến các vấn đề thuộc đề tài luận án,
nhưng chúng tôi nhận thấy phần lớn các công trình đều chỉ mới tiếp cận vấn đề từ
giá trị văn hoá truyền thống hoặc giá trị tinh thần truyền thống. Trong các công
trình bàn có đến sự biến đổi giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam thì cũng chưa



Chương 2
SỰ BIẾN ĐỔI CÁC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
2.1. Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam: các khái niệm cơ bản và một
số giá trị tiêu biểu
2.1.1. Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1. Khái niệm về đạo đức
Đạo đức là một hiện tượng xã hội được hình thành từ khi hình thành xã hội
con người, đó là những yêu cầu, những quy tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người
phải tuân theo một cách tự nguyện, tự giác. Đạo đức bao gồm: ý thức, hành vi và
quan hệ đạo đức.
Ý thức đạo đức là hệ thống tri thức về giá trị và định hướng giá trị đạo đức, lý tưởng,
tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí điều chỉnh quan hệ và hành vi đạo đức.
Hành vi đạo đức là hành động của con người dưới sự tác động của lý tưởng
đạo đức, biểu thị qua tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí.
Đạo đức còn là một dạng quan hệ xã hội, đó là quan hệ của mỗi con người với
chính bản thân mình và quan hệ của mỗi người với cộng đồng, cho nên đạo đức bao
giờ cũng mang tính xã hội và là sự thống nhất biện chứng giữa đạo đức xã hội và
đạo đức cá nhân.
Đạo đức hiện diện như là cái có ích, có ý nghĩa tích cực đối với đời sống con
người và do đó có giá trị đối với xã hội. Khi hệ thống các giá trị đạo đức đáp ứng
nhu cầu, lợi ích và có ý nghĩa đối với chủ thể, được chủ thể đạo đức lựa chọn nhằm
điều chỉnh và đánh giá hành vi, quan hệ ứng xử, đó cũng chính là sự định hướng
giá trị đạo đức.
2.1.1.2. Khái niệm về giá trị
Trên thực tế, nhiều ngành khoa học có sử dụng khái niệm giá trị, chẳng hạn,
toán học, lôgic học, văn hóa, nghệ thuật, xã hội học, triết học, mỹ học, đạo đức học…
Quan niệm chung, ở khía cạnh này hay khía cạnh khác phần lớn các ngành khoa học

giai cấp, dân tộc mà mình sinh sống và hoạt động theo lý tưởng, theo sự định
hướng giá trị đạo đức nhất định
2.1.2. Giá trị đạo đức truyền thống: khái niệm và một số giá trị đạo đức
truyền thống Việt Nam tiêu biểu
2.1.2.1. Khái niệm về truyền thống
Truyền thống là sự bảo tồn qua thời gian của những hiện tượng văn hoá - xã
hội, bao gồm những tư tưởng và tình cảm, những thái độ và hành vi, những phương
thức và khuôn mẫu trong tư duy, trong lối sống và cách ứng xử… của một cộng
đồng người nhất định được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được lưu
truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
2.1.2.2. Khái niệm về giá trị đạo đức truyền thống
Giá trị đạo đức truyền thống là hệ những giá trị tốt đẹp, thể hiện trong những
chuẩn mực đạo đức phổ biến, có tác động tích cực tới cộng đồng, điều chỉnh hành
vi cá nhân cũng như mọi mối quan hệ trong xã hội, được số đông thừa nhận, mang
tính ổn định tương đối và ăn sâu vào tâm lý, tập quán xã hội từ thế hệ này nối tiếp
thế hệ khác của dân tộc.

12


Giá trị đạo đức truyền thống là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của
lịch sử dân tộc, đó chính là những giá trị đạo đức tốt đẹp được thể hiện trong những
chuẩn mực đạo đức phổ biến, có tác động tích cực tới cộng đồng, điều chỉnh quan
hệ giữa cá nhân và xã hội để tạo nên sự thống nhất hài hòa giữa lợi ích cá nhân và
lợi ích xã hội.
2.1.3. Một số giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam tiêu biểu
Khái quát về các giá trị đạo đức truyền thống tiêu biểu của cộng đồng dân tộc
Việt Nam có sự khác nhau nhưng trong luận án chúng tôi chỉ nêu 5 giá trị đạo đức
truyền thống tiêu biểu đều được các nhà khoa học thừa nhận, đó là: yêu nước; đoàn
kết và ý thức cộng đồng; nhân ái và thương người; cần cù và tiết kiệm; hiếu học và

lựa chọn, rèn luyện đạo đức cá nhân cũng theo đó mà biến đổi.
2.2.3. Sự biến đổi giá trị đạo đức truyền thống qua các thời kỳ trong lịch sử
dân tộc Việt Nam
Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam cũng có sự biến đổi trong suốt quá
trình phát triển của dân tộc Việt Nam.
Sự biến đổi của tinh thần yêu nước trong lịch sử: yêu nước là hệ quan điểm,
quy tắc xem xét đánh giá hành vi, quan hệ đạo đức của mỗi con người với cộng
đồng, đồng thời là tình cảm thiêng liêng của mỗi con người cũng như của cả cộng
đồng đối với Tổ quốc Việt Nam được biến đổi phù hợp với từng thời kỳ lịch sử đấu
tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và dựng xây đất nước.
Sự biến đổi của tinh thần đoàn kết và ý thức cộng đồng: đoàn kết, ý thức cộng
đồng là nguyên tắc, chuẩn mực điều chỉnh hành vi và quan hệ đạo đức của mỗi con
người Việt Nam nhưng do yêu cầu của giai cấp thống trị trong từng thời kỳ lịch sử
mà ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết được thể hiện với những hình thức và nội
dung khác nhau.
Sự biến đổi đức tính cần cù, tiết kiệm:cần cù, tiết kiệm là giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc Việt Nam nhưng ở từng thời kỳ lịch sử, giá trị đó bị chi phối
bởi điều kiện lịch sử, quan điểm giai cấp mà ít nhiều có sự biến đổi theo sự biến đổi
của phương thức sản xuất tạo ra của cải vật chất.
Sự biến đổi tình nhân ái, thương người: tình nhân ái, thương người được
truyền từ đời này qua đời khác và trở thành truyền thống quý báu của dân tộc Việt
Nam. Cùng với ảnh hưởng của văn hoá phương Đông, trong quá trình giáo lưu, tiếp
biến các giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại, các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc
Việt Nam còn được làm giàu có, phong phú hơn bởi những tư tưởng giàu chất nhân
văn như tư tưởng về tự do, bình đẳng, bác ái của nền văn minh phương Tây mà
đỉnh cao là chủ nghĩa Mác – Lênin do Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền bá vào Việt
Nam đầu thế kỷ XX.
Sự biến đổi truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo: hiếu học, tôn sư trọng
đạo hình thành là do sự kết hợp giữa lòng hiếu học, trí thông minh, sáng tạo của
người dân với những ảnh hưởng tích cực của Nho giáo và khát vọng đổi đời. Thời

Chương 3
THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI CÁC GIÁ TRỊ
ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
3.1. Những biểu hiện tích cực trong sự biến đổi các giá trị đạo đức truyền
thống hiện nay ở Việt Nam và nguyên nhân của nó
3.1.1. Sự biến đổi một số giá trị đạo đức truyền thống ở Việt Nam hiện nay
Một là, từ tinh thần yêu nước truyền thống đến tinh thần yêu nước trong giai
đoạn hiện nay – yêu nước thời đại Hồ Chí Minh
Ngày nay yêu nước là trung thành với lợi ích dân tộc, với Tổ quốc Việt Nam
toàn vẹn, thống nhất. Định hướng giá trị đạo đức đó gắn trách nhiệm của mỗi người
dân nước Việt với đất nước của mình, là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi cá nhân với
cộng đồng dân tộc Việt Nam; yêu nước là phấn đấu làm cho dân giàu, nước mạnh,
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; bảo vệ nhân dân, bảo vệ lợi ích của dân tộc,

15


bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN;
lòng yêu nước gắn liền với lòng tự hào về truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Hai là, từ ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết truyền thống của dân tộc đến
ý thức cộng đồng và tinh thần đại đoàn kết trong giai đoạn hiện nay
Biểu hiện của tinh thần đoàn kết và ý thức cộng đồng hiện nay là sự yêu
thương đùm bọc, chia sẻ của đồng bào cả nước mỗi khi nhân dân ở một địa phương
nào đó gặp hoạn nạn, khó khăn; hay thể hiện qua quan hệ gia đình, dòng họ, làng
xã, các tổ chức xã hội; và, dựa trên sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích
cộng đồng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Ba là, từ tinh thần cần cù, tiết kiệm truyền thống đến đức tính cần cù, tiết
kiệm trong giai đoạn hiện nay
Hiện nay, cần cù gắn liền với tinh thần lao động tích cực, năng động, sáng tạo
và tiết kiệm là chi tiêu hợp lý theo khả năng thu nhập; cần cù kết hợp chặt chẽ với

hiện nay ở Việt Nam và nguyên nhân của nó
3.2.1. Biểu hiện tiêu cực trong sự biến đổi các giá trị đạo đức truyền thống
hiện nay ở Việt Nam
Một là, những biểu hiện biến đổi tiêu cực trong tinh thần yêu nước của một số
người Việt Nam hiện nay
Thực tế, vẫn có những người “nhân danh yêu nước” muốn phủ nhận vai trò
lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội, xuyên tạc lịch sử hiện đại Việt Nam, phủ nhận thành quả của công cuộc đổi
mới ở Việt Nam hiện nay; lợi dụng cơ chế để tham ô, trục lợi, vơ vét tài sản của
nhân dân, làm nghèo tài nguyên của đất nước, đi nước ngoài thì trộm cắp, phạm tội
làm nhục quốc thể, làm xấu đi hình ảnh dân tộc Việt Nam.
Hai là, biểu hiện biến đổi tiêu cực trong tinh thần đại đoàn kết, ý thức cộng
đồng của một bộ phận người Việt Nam hiện nay
Sự chênh lệch về thu nhập quá lớn giữa các tầng lớp xã hội đã tạo tâm lý tự ti,
đố kị, ảnh hưởng không nhỏ đến tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng; lối sống
thực dụng đã hình thành nên những cá nhân vị kỷ làm cho sự cố kết giữa các thành
viên trong cộng đồng gia đình, làng xóm, dân tộc trở nên lỏng lẻo hơn; tình trạng
tham nhũng đang làm giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, làm nguy hại đến
khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kẻ thù lợi dụng, kích động phá vỡ khối đại đoàn kết
toàn dân.
Ba là, biểu hiện biến đổi tiêu cực về đức tính cần, kiệm trong một số người
Việt Nam hiện nay
Do ảnh hưởng của lối sống thực dụng, hưởng thụ, một bộ phận lớp trẻ ngày
nay quay lưng lại với giá trị truyền thống của dân tộc, thích ăn chơi hưởng thụ, lười
lao động, học tập và hay đòi hỏi; thường quên đi nghĩa vụ, trách nhiệm của bản
thân mình với gia đình, với xã hội, muốn “làm chơi” nhưng “ăn thật” sa vào tệ nạn
xã hội.
Bốn là, biểu hiện biến đổi tiêu cực về lòng nhân ái, thương người trong một
bộ phận người Việt Nam
Hiện nay, lối sống bạo lực, phi nhân tính có chiều hướng gia tăng, bạo lực học

nhất định về nội dung, hình thức và phạm vi thể hiện do tác động của các nhân tố
xuất hiện khi đất nước đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Đó là tác động có tính hai mặt của kinh tế thị trường, của quá trình đô thị hóa,
toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nên sự biến đổi các giá trị đạo đức truyền thống
cũng diễn ra theo hai hướng cả tích cực lẫn tiêu cực.
Phát huy những tác động tích cực, khắc phục những tác động tiêu cực của
các nhân tố đó, Đảng cộng sản Việt Nam với tư cách người lãnh đạo sự nghiệp xây
dựng đất nước và con người Việt Nam đã chủ động và tích cực tác động vào các
giá trị đạo đức truyền thống. Sự tác động đó đã làm cho sự biến đổi của các giá trị
đạo đức truyền thống diễn ra theo chiều hướng tích cực, nghĩa là theo chiều hướng

18


đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và thực hiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa trong điều kiện hiện nay.
Chương 4
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO SỰ BIẾN ĐỔI GIÁ TRỊ
ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM THEO HƯỚNG TÍCH CỰC
4.1. Một số phương hướng đảm bảo sự biến đổi giá trị đạo đức truyền
thống Việt Nam theo hướng tích cực
4.1.1. Kế thừa, gìn giữ, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống vì sự phát
triển lành mạnh và bền vững của đất nước
Quan tâm đến việc bảo tồn, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của dân
tộc với tính cách là những giá trị cốt lõi của văn hóa Việt Nam, đó là chỗ dựa cho
công tác giáo dục đạo đức, nhân cách, nhất là đối với việc giáo dục đạo đức cho thế
hệ trẻ. Bởi vì, chính thế hệ trẻ mới là người đóng vai trò tiếp nối truyền thống đạo
đức tốt đẹp của dân tộc do các thế hệ trước đã vun đắp và để lại. Cho nên, tạo môi
trường cho sự tồn tại và phát triển của các giá trị đạo đức truyền thống là nhân tố cơ
bản tạo thành sức mạnh nội sinh của yếu tố văn hóa trong công cuộc xây dựng xã

Theo kinh nghiệm xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường của nhiều
quốc gia trên thế giới, họ không chỉ chú trọng phát triển kinh tế, khoa học và công
nghệ, mà còn rất đề cao các giá trị đạo đức. Bởi lẽ, chính các giá trị đó trong nhiều
trường hợp, đã đóng vai trò là động lực đối với sự phát triển cho đất nước của họ.
Cho nên, nếu chúng ta biết hướng về cội nguồn, biết bảo vệ những giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc, đó cũng chính là nội lực cho sự phát triển bền vững của xã
hội Việt Nam hiện tại và cả trong tương lai. Đất nước phát triển mà tách khỏi cội
nguồn dân tộc thì nhất định sẽ lâm vào nguy cơ tự tha hóa. Đi vào kinh tế thị
trường, hiện đại hóa đất nước mà xa rời, phủ nhận những giá trị truyền thống (trong
đó có các giá trị đạo đức truyền thống) sẽ làm mất đi bản sắc dân tộc, sẽ đánh mất
bản thân mình và trở thành cái bóng mờ của người khác, của dân tộc khác.
4.2. Một số giải pháp đảm bảo sự biến đổi giá trị đạo đức truyền thống
Việt Nam theo hướng tích cực
4.2.1. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống
nhằm nâng cao trách nhiệm đạo đức cho mỗi cá nhân
Trong thời gian vừa qua, do ảnh hưởng của bối cảnh hội nhập, do công tác
tuyên truyền, giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống trong toàn xã hội chưa được
đề cao, chưa sâu, chưa sát nên đã xuất hiện nhiều hiện tượng trái với truyền thống
của dân tộc. Chẳng hạn, tình trạng lợi dụng quyền tự do, dân chủ phá hoại khối đại
đoàn kết toàn dân; nhân danh “yêu nước”, lợi dụng những sai phạm của một số
doanh nghiệp để chống lại công cuộc kiến thiết đất nước trong hợp tác đầu tư; bạo
lực học đường, bạo lực trong gia đình, xâm hại tình dục trẻ em, buôn bán trẻ em,
phụ nữ và nhiều tệ nạn xã hội gia tăng... Những điều này gây nhức nhối xã hội, đòi
hỏi chúng ta phải quan tâm đến công tác tuyên truyền, giáo dục các giá trị đạo đức
truyền thống, nhằm tác động đến mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi tập thể, qua đó
giúp cho mỗi chủ thể tự nhận thức, tự đánh giá, tự điều chỉnh hành vi đạo đức của
mình theo xu hướng tích cực.

20


bị ảnh hưởng xấu của các luồng văn hoá, tư tưởng hiện đại nhưng độc hại xâm
nhập vào. Việc tăng quy định của pháp luật trong việc kiểm tra các sản phẩm văn
hoá là biện pháp cần thiết giúp cho thanh niên biết lựa chọn các giá trị hiện đại mà
vẫn phù hợp với bản sắc văn hoá dân tộc mình.
4.2.3. Xây dựng môi trường kinh tế-xã hội lành mạnh, tạo điều kiện cho sự
biến đổi tích cực các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam

21


Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc là một bộ phận của nền văn hóa, đồng
thời cũng là một bộ phận quan trong trong cấu trúc ý thức xã hội. Nguyên lí của
chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã
hội đã chỉ ra rằng, tồn tại xã hội quy định ý thức xã hội. Vì vậy, trong điều kiện
kinh tế thị trường, đô thị hóa, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cần phải xây dựng
môi trường kinh tế - xã hội lành mạnh đóng vai trò là cơ sở cho sự phản ánh của ý
thức xã hội nói chung, các giá trị đạo đức nói riêng. Chúng ta chỉ có thể giữ gìn và
phát huy nghĩa là biến đổi theo chiều hướng tích cực các giá trị đạo đức truyền
thống trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Nhiệm vụ trung tâm của
chúng ta là chăm lo phát triển kinh tế, nhưng chúng ta phải nhận thức rằng động lực
tạo ra phồn vinh và phát triển lâu bền của quốc gia không chỉ đơn thuần là vốn đầu
tư, công nghệ hiện đại, tài nguyên phong phú, mà còn là khả năng sáng tạo, là ý chí
và những đức tính được hình thành từ truyền thống văn hóa, đặc biệt là truyền
thống đạo đức của dân tộc.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4
Đảng và Nhà nước đã có những sự chủ động và tích cực nhất định trong
việc kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống trong điều kiện mới.
Trong đời sống đạo đức của nhân dân trong những năm qua cho thấy, về cơ bản,
những giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam biến đổi theo chiều hướng tích cực.
Tuy nhiên, do những tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường, quá trình gia tăng

cộng đồng, lòng nhân ái và thương người, đức tính cần cù và tiết kiệm, đức tính
hiếu học và tôn sư trọng đạo. Đó là sự thể hiện những đặc trưng cơ bản nhất, cái tạo
nên sức mạnh tiềm tàng và bền vững của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên,
các giá trị đạo đức truyền thống, thể hiện nội dung cốt lõi nhất trong bản sắc văn
hóa dân tộc Việt Nam, không phải là bất biến mà trong quá trình phát triển cũng có
sự biến đổi cùng với sự biến đổi của lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước,
trong sự giao lưu tiếp biến những giá trị văn hoá của các cộng đồng dân tộc khác ở
trong khu vực và trên thế giới. Với sức mạnh nội sinh, giá trị đạo đức truyền thống
vẫn luôn là cơ sở vững chắc cho sự vận động của xã hội, cho sự phát triển của đất
nước và dân tộc.
Thực tế, công cuộc xây dựng đất nước trong điều kiện nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập
quốc tế hiện nay, giá trị đạo đức truyền thống trong sự vận động của nó ít nhiều có
sự biến đổi cả theo xu hướng tích cực lẫn tiêu cực. Sự biến đổi tích cực của các giá
trị đạo đức truyền thống ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, có nhiều nguyên nhân,
nhưng trước hết phải khẳng định, nhờ có sự định hướng của Đảng đối với sự phát
triển xã hội và xây dựng con người mới, xây dựng đạo đức mới. Đồng thời, kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không đối lập với các giá trị đạo đức truyền
thống mà còn tạo ra những cơ hội mới cho các giá trị đạo đức truyền thống, được
phát huy sức mạnh trong điều kiện mới. Ngoài xu hướng biến đổi tích cực của các
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status