Một số biện pháp chỉ đạo chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng học sinh giỏi ở trường THCS
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Từ lâu, GD & ĐT được Đảng và nhà nước ta xác định là quốc sách hàng
đầu và là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước.
Sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước luôn đòi hỏi phải có
một đội ngũ đi trước giàu tài năng, sức sáng tạo. Trong các chủ trương nghị
quyết về giáo dục, đào tạo, Đảng, nhà nước ta luôn quan tâm đến nhiệm vụ bồi
dưỡng các tài năng trẻ, nhằm tạo dựng đội ngũ nhân tài cho đất nước.
Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của Đảng, nhà nước về GD & ĐT thực
hiện chiến lược phát triển giáo dục năm 2001 đến 2010 và tầm nhìn năm 2030.
Ngành giáo dục đang từng bước đổi mới nội dung chương trình, đổi mới
phương pháp dạy học, đổi mới công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng
Giáo dục và đào tạo hoàn thành mục tiêu: “ Nâng cao dân chí, đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài ”.Đào tạo một lớp người mới có khả năng tư duy ,
sáng tạo, giỏi kỹ năng thực hành giúp thế hệ trẻ rèn luyện để trở thành những
con người vừa “ Hồng” , vừa “Chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ kính yêu.
Nghị quyết TW 2 - khoá VIII của Đảng đã nêu những giải pháp phát triển giáo
dục cùng với việc cải tiến các vấn đề về công tác giáo dục toàn diện học sinh
cả về tri thức khoa học và tri thức đạo đức .
Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XI về “ Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ”
Với các trường THCS bên cạnh việc nâng cao chất lượng đại trà thì việc nâng
cao chất lượng mũi nhọn là vấn đề rất quan trọng, là cơ sở để bồi dưỡng, đào
tạo nguồn nhân tài cho đất nước.
Từ nhiều năm nay, kết quả học sinh giỏi của các nhà trường là một trong
những cơ sở để Phòng GD & ĐT đánh giá thi đua các nhà trường. Bên cạnh
đó địa phương cũng rất quan tâm đến chất lượng mũi nhọn.
nước, việc đào tạo nguồn nhân lực trẻ cho đất nước ngày càng được chú trọng.
Muốn có nguồn nhân lực này thì việc bồi dưỡng thế hệ trẻ càng phải được coi
trọng hơn. Chính vì thế việc đào tạo học sinh giỏi là một nhân tố quyết định
cho tương lai của đất nước sau này.
Thực tế là những năm gần đây chính sách của nhà nước ta đã quan tâm đến
chất lượng đại trà trong giảng dạy nhưng bên cạnh đó việc bồi dưỡng học sinh
có năng lực cũng là mục tiêu của nhà trường phổ thông. Vì vậy, việc nghiên
cứu đề tài nhằm giải quyết những khó khăn, tồn tại trong công tác bồi dưỡng
học sinh giỏi tại nhà trường chúng tôi, góp phần nâng cao hiệu quả của nhiệm
vụ bồi dưỡng học sinh giỏi, tạo động lực thúc đẩy chất lượng đại trà là mục
tiêu tôi muốn trình bày.
2/16
Một số biện pháp chỉ đạo chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng học sinh giỏi ở trường THCS
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Giáo viên, học sinh tham gia bồi dưỡng HSG ở trường THCS – nơi tôi công
tác.
- Kế hoạch bồi dưỡng HSG ở trường THCS – nơi tôi công tác.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp điều tra thực tế.
- Phương pháp khảo sát.
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp tổng hợp…
5. PHẠM VI VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN:
Đề tài này được thực hiện ở trường THCS – nơi tôi công tác trong 2 năm:
năm học 2013 – 2014 và năm học 2014 – 2015.
3/16
được năng khiếu của mình
Nhân tài là kết quả của 99% là mồ hôi, nước mắt. Một học sinh vốn thông
minh nhưng không được tôi luyện, kèm cặp, bồi dưỡng thường xuyên thì cũng
khó có thể khẳng định, phát triển được trí thông minh ở các em. Đó cũng là
yêu cầu đặt ra trong quá trình chỉ đạo, bồi dưỡng ở các nhà trường. Nó đòi hỏi
sự trăn trở, lăn lộn, tâm huyết ở mỗi giáo viên, đòi hỏi ở sự đổi mới về phương
pháp dạy học theo hướng tích cực, ở năng lực của đội ngũ nhà giáo, sự chỉ đạo
4/16
Một số biện pháp chỉ đạo chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng học sinh giỏi ở trường THCS
đúng hướng của người lãnh đạo, điều kiện phục vụ dạy học và các tác động,
động viên tích cực của toàn xã hội như: gia đình, dòng họ, đoàn thể... Đặc biệt
là cải tiến khâu bồi dưỡng học sinh giỏi về phương pháp dạy, nghiên cứu tài
liệu, lựa chọn học sinh trong đội tuyển, tạo động lực, niềm tin cho người dạy,
người học.
Người lãnh đạo trong nhà trường phải biết phối kết hợp tất cả các yếu tố trên
thì công tác bồi dưỡng học sinh giỏi trong nhà trường mới có kết quả tốt.
2. THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, BỒI DƯỠNG HỌC SINH
GIỎI Ở NHÀ TRƯỜNG.
Trường THCS Phú Phương chúng tôi nằm trên địa bàn xã Phú Phương là một xã nhỏ ven Sông Hồng với khoảng 6000 nhân khẩu chủ yếu sống bằng
nghề nông nghiệp.
Năm học 2013 - 2014 số học sinh của trường là 305 em. Trong đó có 38
em thuộc hộ nghèo chiếm tỷ lệ 12,5 %. Số cán bộ, viên chức là 34 đồng chí,
trong đó 4 đồng chí hợp đồng.Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn là 100 %.
Năm học 2014 - 2015 số học sinh của trường là 315 em. Trong đó có 28
em thuộc hộ nghèo chiếm tỷ lệ 8,9 %. Số cán bộ, viên chức là 36 đồng chí,
trong đó 4 đồng chí hợp đồng.Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn là 100 %.
Từ nhiều năm nay, ở trường tôi, ban giám hiệu vẫn thường xuyên tập trung chỉ
trường tuy có được cải thiện song chưa thực sự đi vào chiều sâu (có học sinh
được chọn vào đội tuyển để bồi dưỡng dự thi ở cấp huyện mà không được cha
mẹ học sinh quan tâm để cùng với nhà trường lo cho việc học của con cái
mình). Điều đó đã làm phiền lòng các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy, kết quả
học tập của các em vì thế không cao.
Thực trạng trên dẫn đến chất lượng học sinh giỏi không ổn định trong một số
năm trước ở nhà trường.
KẾT QUẢ HỌC SINH GIỎI CÁC CẤP QUA 3 NĂM HỌC
Năm học
Tổng số HS
dự thi
Số HSG cấp
huyện
Số HSG cấp
thành phố
2010 - 2011
65
41em = 63,0%
1
2011 - 2012
69
học sinh về khả năng học tập, về ưu-nhược điểm của học sinh… Từ đó có
được định hướng về phương pháp bồi dưỡng, phát huy khả năng của học sinh.
Cách tiến hành như sau:
Tổ chuyên môn ra để khảo sát (ngay từ đầu năm học), Ban giám hiệu duyệt
đề, yêu cầu đề phải có nội dung kiến thức nâng cao. Việc tổ chức khảo sát thật
khách quan, đánh giá đúng đối tượng. Căn cứ kết quả khảo sát, giáo viên bộ
môn kết hợp với việc điều tra kết quả năm trước để chọn đối tượng học sinh
(theo từng môn học ở tất cả các khối lớp).
Đặc biệt lớp 8 được chọn, định hướng môn ôn thi học sinh giỏi từ học kỳ II để
chuẩn bị cho các môn thi học sinh giỏi lớp 9.
Đối tượng học sinh được phân loại để tiếp tục bồi dưỡng theo hướng nâng cao
là các em học sinh học khá bộ môn trở lên (Kết quả phân loại đầu năm học
2013 - 2014 : tỉ lệ khá, giỏi đạt 42,0%).
3.2. Lập kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi:
Trên cơ sở phân loại khá chính xác, Ban giám hiêu chỉ đạo mỗi giáo viên được
phân công bồi dưỡng, các tổ nhóm chuyên môn xây dựng kế hoạch, xác định
chỉ tiêu học sinh mũi nhọn các môn cần phấn đấu, thảo luận quyết nghị ở hội
nghị cán bộ viên chức đầu năm, ở tổ, nhóm bộ môn. Sau đó lập danh sách cụ
thể đối tượng cần bồi dưỡng theo mỗi môn, Ban giám hiệu tiến hành lập kế
hoạch chỉ đạo bồi dưỡng cụ thể theo từng tháng, từng tuần học. Yêu cầu trước
hết là quán triệt việc dạy học theo đối tượng ở mỗi giáo viên, ở mỗi tiết dạy có
phần câu hỏi, bài tập giành cho cả ba đối tượng: khá, giỏi, TB và yếu.
Những học sinh có khả năng tuyển chọn vào các đội tuyển dự thi được bồi
dưỡng thêm (chủ yếu là kỹ năng tư duy sáng tạo) ở một số buổi trong tuần
(thường là 3 tiết/tuần ở mỗi môn). Ngay từ tháng 8 hàng năm và được tăng lên
6 tiết/tuần từ tháng 11 cho đến khi huyện tổ chức kỳ thi học sinh giỏi lớp
9.Sau khi thi học sinh giỏi lớp 9 các em được chọn vào đội tuyển của huyện đi
thi cấp thành phố, các em vẫn thường xuyên được các thầy cô bộ môn tiếp tục
ôn luyện.
Đối với học sinh khối 6,7,8 chúng tôi đã chỉ đạo chọn đội tuyển bắt đầu từ đầu
học sinh giỏi môn Toán...).
Yêu cầu giáo viên giảng dạy tìm mua tài liệu phục vụ cho bộ môn ôn thi nhà
trường sẽ thanh toán.
Yêu cầu khi thực hiện là phải đảm bảo được mức tiếp thu ở học sinh, biết rõ
những lỗ hổng kiến thức cần bổ sung cho các em, tránh quá tải gây sức ép,
làm mệt mỏi học sinh theo kiểu nhồi nhét nhiều kiến thức khó cho các em;
phải áp dụng phương châm "mưa dầm, thấm sâu"
Hàng tháng Ban giám hiệu nhà trường kiểm tra giáo án bồi dưỡng học sinh
giỏi và có ý kiến chỉ đạo kịp thời.
3.4. Quán triệt đổi mới phương pháp dạy học tích cực, rèn luyện khả
năng tự học cho học sinh.
Đối với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi thì việc đổi mới phương pháp dạy
học là rất quan trọng và cần thiết nên phải quán triệt ngay từ đầu.
8/16
Một số biện pháp chỉ đạo chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng học sinh giỏi ở trường THCS
Đối tượng học sinh ở đây là những em khá, giỏi, có khả năng tiếp thu nhanh.
Tuy nhiên, nếu giáo viên không có phương pháp giảng dạy tốt cũng dễ gây ức
chế, nhàm chán ở các em. Cũng có em thiếu tự tin trong học tập. Gặp những
đối tượng đó, giáo viên cần biết rõ tâm lý học sinh, xác định phương pháp phù
hợp, linh hoạt
Một số phương pháp dạy học sinh giỏi đã áp dụng trong trường tôi, đó là:
- Dạy học nêu vấn đề.
- Sân chơi bộ môn.
- Ra bài tập, câu hỏi hướng dẫn học sinh tự học ở nhà và kiểm tra việc học của
các em ở nhà.
- Dạy học theo kiểu chương trình mở.
- Đặc biệt là rèn luyện tính tự học, phương pháp tự học cho học sinh, rèn
Chỉ đạo tổ chuyên môn, nhóm chuyên môn sinh hoạt thường xuyên 2
lần/tháng thật sự có chất lượng, tập trung vào hội thảo các yêu cầu đổi mới
phương pháp dạy học, cải tiến bài soạn, rút kinh nghiệm về làm, sử dụng đồ
dùng dạy học, về cách kiểm tra, đánh giá học sinh.
Dạy thao giảng ở 2 tổ chuyên môn vào dịp 20/11 và 26/03
- Tăng cường dự giờ: Chỉ tiêu 1 tiết/tuần ở giáo viên (theo môn đào tạo), giám
hiệu dự giờ: 2 tiết /tuần (hiệu trưởng và hiệu phó) kiểm tra và gắn với đánh
giá thi đua trong từng tháng.
- Duy trì nề nếp kiểm tra đọt xuất, kiểm tra thường xuyên, kiểm tra toàn diện
đối với giáo viên theo kế hoạch kiểm tra nội bộ. Tổ chức đánh giá, rút kinh
nghiệm chu đáo ở mỗi lần kiểm tra.
Việc kiểm tra nề nếp dạy học được duy trì ở từng buổi dạy; kiểm tra hồ sơ
giáo án định kì 1lần/ tháng ở tổ, Ban giám hiệu, Ban trung tâm thường xuyên
kiểm tra giáo án, dự giờ đột xuất. Đặc biệt, chúng tôi chú ý chỉ đạo tổ kiểm tra
việc tự làm và sử dụng đồ dùng dạy học của giáo viên (qua theo dõi trực hàng
ngày cuả ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn và nhân viên thiết bị).
Trong phân công lao động phải lưu ý đến thời gian tự học ở mỗi giáo viên, sắp
xếp, tạo điều kiện để giáo viên được đi học nâng cao trình độ ( kết quả ở
trường tôi có 100 % đạt chuẩn (CĐSP), giáo viên có trình độ Đại học là 21/25
đồng chí – đạt 84 %.
- Việc cải tiến các hình thức thi đua, khen thưởng cũng được tiến hành hàng
năm nhằm kịp thời động viên khích lệ phong trào "hai tốt"; tiến hành 4 đợt/
năm (20/11, HKI, 26/3, HKII).
- Đầu tư đúng mức nguồn kinh phí chi cho công tác nghiệp vụ chuyên môn, tự
học, tự bồi dưỡng như chế độ bồi dưỡng tham gia tiếp thu chuyên đề, triển
khai chuyên đề, dạy thử nghiệm, kinh phí chè nước, tài liệu tham khảo… Đặc
biệt là mua sắm các tài liệu để giáo viên tự học, tài liệu bồi dưỡng học sinh, tài
liệu cho các học sinh đội tuyển học sinh giỏi sử dụng .
3.6. Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ dạy học và bồi dưỡng học sinh
giỏi
25 triệu đồng/năm)
3.8. Xã hội hoá công tác bồi dưỡng học sinh giỏi:
Chúng tôi xác định việc bồi dưỡng học sinh giỏi không là việc riêng của nhà
trường. Bởi vậy, phải làm tốt phối hợp với các gia đình học sinh để kèm cặp,
đầu tư cho học sinh học tập
Các em học sinh đội tuyển cần phải học nhiều hơn, cần sự sắp xếp thời gian,
động viên từ phía gia đình các em. Nhà trường đã tổ chức họp cha mẹ học sinh
giỏi, trao đổi cụ thể về các yêu cầu, về tài liệu giúp các em học tốt, đề nghị
Phụ huynh học sinh tạo điều kiện, động viên con em mình trong quá trình học
11/16
Một số biện pháp chỉ đạo chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng học sinh giỏi ở trường THCS
tập, bồi dưỡng.
Phối hợp với đoàn đội, hội khuyến học, Ban đại diện cha mẹ học sinh các lớp,
Ban đại diện cha mẹ học sinh nhà trường để có biện pháp động viên giúp đỡ
các em, nhất là những học sinh nghèo, học giỏi. Kết quả là đã nhận được sự
ủng hộ tích cực của các tổ chức đó, đặc biệt là tăng được nguồn quỹ thưởng
cho học sinh đạt giải các kỳ thi, học sinh tiên tiến của trường, khiến các em
tích cực, tự giác học tập. Tham mưu vơi Đảng uỷ - UBND xã về kế hoạch,
nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi, xin kinh phí hỗ trợ động viên phong trào.
Ngoài ra Ban giám hiệu nhà trường còn làm tốt việc vận động các doanh
nghiệp trên địa bàn, các nhà hảo tâm, các cựu học sinh của nhà trường đã
thành đạt về tham gia ngoại khoá, nói chuyện, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm
và cùng với nhà trường động viên, khen thưởng các em học sinh có thành tích
xuất sắc trong học tập. Trong nhiều năm qua, kết quả hoạt động xã hội hoá
giáo dục của nhà trường đã có nhiều tác dụng trong việc duy trì, phát huy
thành tích.
4. KẾT QUẢ THỰC HIỆN
39 em = 56,5%
2012 - 2013
74
35 em = 55,5 %
63/302 = 20,9%
1
SỐ LIỆU SAU KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
12/16
Số HSG toàn
diện
71/307 = 23,1%
68/314 = 21,7%
Một số biện pháp chỉ đạo chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng học sinh giỏi ở trường THCS
Năm học
Tổng số HS
dự thi
Số HSG cấp
huyện
Nhận thức của đội ngũ cán bộ, giáo viên cũng có nhiều chuyển biến. Hoạt
động phối hợp của các đoàn thể (khuyến học, hội cha mẹ học sinh) cũng được
củng cố. Phong trào thi đua "hai tốt" được nâng lên. Những kết quả trên đã tạo
dựng được nền móng vững chắc cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ở những
năm tiếp theo.
5. BÀI HỌC KINH NGHIỆM.
Tóm lại, như nội dung mà đề tài đã nêu, công tác chỉ đạo bồi dưỡng học sinh
giỏi là một nhiệm vụ trọng tâm ở nhà trường nói chung, trường THCS Phú
Phương nói riêng là công việc khó khăn đòi hỏi sự nỗ lực chỉ đạo của Ban
giám hiệu, tổ chuyên môn, sự lăn lộn, trăn trở của mỗi thầy cô giáo. Từ khâu
phát hiện, sàng lọc đội tuyển đến việc nghiên cứu nội dung, chương trình, các
kiến thức cần đi sâu cho học sinh, các kỹ năng cần rèn luyện cho các em; việc
cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học. Bồi dưỡng học sinh giỏi phải gắn liền
với việc nâng cao chất lượng đại trà. Phải quán triệt được phương châm: dạy
học theo đối tượng, trình độ tiếp thu ở học sinh. Không nên đưa những vấn đề
quá khó đối với học sinh. Giáo viên cũng như các nhà quản lý phải kiên trì,
bền bỉ xây dựng phong trào một cách hệ thống, đồng bộ từ nhiều khâu, đặt ra
nhiều giải pháp thực hiện theo điều kiện cơ sở vật chất và hoàn cảnh cụ thể ở
từng nhà trường, từng địa phương. Tránh suy nghĩ chủ quan, nóng vội, phải
tiến hành từ thấp đến cao, có kế hoạch dài hơi ở nhiều năm. thường xuyên
chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên có tay nghề vững, trách nhiệm cao, gần
13/16
Một số biện pháp chỉ đạo chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng học sinh giỏi ở trường THCS
gũi thương yêu học sinh. Chú trọng công tác đúc rút sáng kiến kinh nghiệm,
đổi mới phương pháp dạy học, tạo không khí thi đua "dạy tốt - học tốt" thường
xuyên trong nhà trường, củng cố phong trào khuyến học, tạo cơ sở vật chất tốt
cho nhà trường. Tạo sự thi đua từ mỗi gia đình, mỗi dòng họ.
14/16
Một số biện pháp chỉ đạo chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng học sinh giỏi ở trường THCS
Thường xuyên trau dồi, học hỏi, tích luỹ, nâng cao kinh nghiệm, kiến thức
trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
Tăng cường sinh hoạt chuyên đề, sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn về công tác
bồi dưỡng học sinh giỏi để trao đổi, bàn bạc, thống nhất trong quá trình thực
hiện.
Làm tốt hơn nũa công tác tham mưu với Ban giám hiệu nhà trường trong công
tác chỉ đạo, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng học sinh.
* Đối với Ban giám hiệu nhà trường:
Tiếp tục làm tốt công tác xây dựng kế hoạch, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện
công tác bồi dưỡng học sinh giỏi một cách thường xuyên; kịp thời có những
biện pháp, điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng.
Tiếp tục làm tốt công tác tham mưu với Phòng GD&ĐT trong việc triển khai
kế hoạch bồi dưỡng, ra đề, tổ chức các kỳ thi học sinh giỏi hàng năm, khen
thưởng, động viên kịp thời cá nhân thầy, trò có thành tích cao trong công tác
bồi dưỡng học sinh giỏi.
* Đối với Phòng GD& ĐT Ba Vì:
Trang bị tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi để các trường có thêm tư liệu giảng
dạy sát với các kỳ thi của huyện và thành phố.
Mở lớp chuyên đề bồi dưỡng cho giáo viên ôn thi học sinh giỏi.
Khen thưởng xứng đáng cho giáo viên dạy và học sinh giỏi đạt giải.
Đề nghị việc tổ chức bồi dưỡng đội tuyển Thành phố bố trí hợp lý hơn về địa
điểm để học sinh đi ôn thi được thuận lợi.
Tăng kinh phí cho giáo viên bồi dưỡng, từ đó gắn trách nhiệm, quyền lợi để
công tác bồi dưỡng có hiệu quả hơn.
Hà Nội, ngày 14 tháng 5 năm 2015
2. Mục đích nghiên cứu.
3. Đối tượng nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu.
5. Phạm vi thực hiện và thời gian thực hiện.
B. Nội dung nghiên cứu.
1. Cơ sở lí luận.
2. Thực trạng.
3. Các biện pháp.
4. Kết quả thực hiện.
5. Bài học kinh nghiệm.
C. Kết luận và khuyến nghị.
1. Kết luận.
2. Khuyến nghị.
16/16
Trang
1
1
2
3
3
3
4
4
5
6
12
13
14