CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHƯƠNG PHÁP NÊU
VẤN ĐỀ TRONG DẠY HỌC BÀI TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ MÔN NHỮNG VẤN ĐỀ
CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MAC LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
MINH Ở TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ
Cơ sở lý luận của phương pháp nêu vấn đề trong dạy
học bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán
bộ” - chương trình Trung cấp LLCT –HC.
Một số vấn đề lý luận về phương pháp nêu vấn đề trong
dạy học
Khái niệm về phương pháp nêu vấn đề trong dạy học
Theo triết học duy vật biện chứng: Động lực thúc đẩy sự phát
triển là kết quả của việc giải quyết có hiệu quả các mâu thuẫn
trong mỗi sự vật hay quá trình.
Theo Kudiatxev, DHNVĐ là tạo ra những tình huống và giúp
HS giải quyết tình huống này bằng sự tự lực của học sinh và dưới
sự giúp đỡ của giáo viên.
Theo B. Okon, DHNVĐ là tổ chức tình huống CVĐ, giúp
đỡ người học GQVĐ, hệ thống hóa, củng cố và vận dụng kiến
thức mới. [24]
Dạy học nêu và GQVĐ là giúp người học có thói quen
tìm tòi GQVĐ một cách khoa học. Nó giúp người học thích
thú với nội dung học và hình thành năng lực GQVĐ. Điểm
nổi bật của PP là người học GQVĐ trong tình huống, từ đó
chiếm lĩnh nội dung bài học.[5]
Trong dạy học NVĐ, điểm mấu chốt là phải làm sao tạo
ra được các mâu thuẫn hay các tình huống có vấn đề. Từ đó
trúc lại một cách sư phạm để thực hiện đồng thời cả hai tính
chất trái ngược nhau (vừa sức, xuất phát từ cái quen biết và
không có lời giải đáp chuẩn bị sẵn). Cấu trúc này giúp HS tìm
tòi và phát hiện (dựa vào tình huống có vấn đề).[6], [10]
Như vậy điểm nổi bật của dạy học nêu và GQVĐ là sự
lĩnh hội tri thức diễn ra thông qua việc tổ chức cho người học
GQVĐ. Qua đó, người học thu nhận được kiến thức mới, kĩ
năng mới, thái độ mới.
*Tình huống vấn đề
Có nhiều cách hiểu và diễn đạt về tình huống vấn đề.
Theo Rubinstein, tình huống có vấn đề là tình huống chứa
đựng những khâu hoặc những yếu tố chưa xác định, đòi hỏi một
cái gì đó chưa được vạch ra.
Ở góc độ tâm lý, tình huống có vấn đề là trạng thái tâm lý
của sự khó khăn về mặt trí tuệ nảy sinh ở con người trong
những tình huống khách quan khi không thể giải quyết bằng
các tri thức đã có hay cách thức hành động quen thuộc trước
đây mà phải tìm tri thức hoặc cách thức hành động mới.
Theo tác giả Phan Hồng Vinh, tình huống có vấn đề là
tình huống tạo ra các mâu thuẫn khách quan giữa nhiệm vụ
nhận thức và khả năng của người học, được người học nắm
được và tìm cách giải quyết. [33]
Như vậy, dù tình huống có vấn đề đang được diễn đạt
khác nhau, nhưng có chung mấy điểm cơ bản:
Tình huống chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và chưa
biết, tức là người học chưa giải đáp được.
thực hiện các phương cách giải quyết mâu thuẫn đó. Giải
quyết được mâu thuẫn người học có thêm hiểu biết mới, và cứ
như vậy, trình độ nhận thưc, phương thức khám phá, GQVĐ
được nâng lên, phát triển thêm lên.
Đối với GV, thiết lập được THCVĐ là mấu chốt để thực
hiện DHNVĐ. Xây dựng THCVĐ, giúp người học phát hiện
và giải quyết mâu thuẫn là con đường tất yếu để khám phá,
làm chủ nội dung học tập.
Cơ sở tâm lý học:
Các hành động tư duy có vai trò quan trọng để con người
tiếp thu, lĩnh hội tri thức. Theo các nhà TLH, con người bắt
đầu tư duy tích cực khi có khó khăn về nhận thức.
Rubeinstein cho rằng, tư duy sáng tạo luôn bắt đầu từ
THCVĐ. Do đó, người dạy có nhiệm vụ tạo môi trường học
tập thuận lợi, thường xuyên khuyến khích quá trình tư duy.
Dạy học nêu và GQVĐ được đặc trưng bởi hoạt động nhận
thức độc lập của người học. Người học lĩnh hội kiến thức và
phương pháp nhận thức bằng con đường phát hiện và giải
quyết các vấn đề học tập.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bảo: Dạy học là kết hợp
những phương pháp dạy và học có những nét cơ bản của sự
tìm tòi khoa học. Nhờ vậy đảm bảo cho học sinh lĩnh hội
vững chắc kiến thức của bài và có được PP khám phá, tự học
để hình thành cơ sở thế giới quan khoa học cho họ.
Như vậy, phương pháp DHNVĐ có thể hiểu:
Là hệ thống những tác động phối hợp giữa GV và HS
nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ DH.
Giáo viên điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh
Về nội dung, bước này là “tổ chức điều kiện dạy học như
thế nào để làm xuất hiện tình huống có vấn đề”. Về mặt mục
đích của bước này là giúp HV “ý thức được nhiệm vụ nhận
thức, kích thích nhu cầu, hứng thú nhận thức và GQVĐ sáng
tạo”
Có nhiều cách để thực hiện bước này, GV có thể “Đưa ra
một câu hỏi, một bài tập”, “Giới thiệu một hiện tượng không
thể giải thiechs được bằng kiến thức có sẵn” hay cho HV
“quan sát sự kiện, hiện tượng” hoặc có thể “Giới thiệu và đặt
người học vào vai Chính để giải quyết vấn đề đặt ra lúc đó”
Kết quả của bước thứ nhất này phải: - Tạo tình huống gợi
vấn đề và phát biểu VĐ sao cho đặt ra được mục đích GQVĐ
đó.
Bước 2. “Đưa ra giả thuyết vầ luận chứng giả thuyết (có
thể gọi là giai đoạn nghiên cứu)”.
Đây là bước thứ 2 của quy trình thực hiện PPNVĐ.
Để thực hiện bước này tốt, GV cần hiểu rõ bản chất của
giả thiết. “Giả thiết là hình thức độc đáo của tư duy, không
những nó bao gồm sự phán đoán, suy lý, giả định mà còn là
Chính bản thân quá trình đề xuất vấn đề, chứng minh và giải
quyết vấn đề”.
Về mục tiêu, bước này cần đưa ra được giả thuyết: “Đây
là bước đưa ra kế hoạch tìm tòi (làm gì và làm như thế nào)”.
Yêu cầu là GV phải “lôi cuốn HV vào xây dựng giả thuyết,
lựa chọn giả thuyết, luận chứng giả thuyết và để dẫn tới chứng
minh tính đúng đắn của giả thuyết”.
Như vậy, HV phải thực hiện các thao tác tư duy như so
sánh, liên hệ với những cách giải quyết các vấn đề tương tự
Bước 5: Vận dụng. Đây là bước có ý nghĩa trong việc
“củng cố và vận dụng độc lập tri thức mới”.
Tìm kiếm các phương hướng ứng dụng kết quả.
Biết cách vận dụng một cách khoa học vào các tình huống
thực tiễn để giải quyết,…
Đề xuất những vấn đề mới có liên quan.
Quy trình này phụ thuộc vào tính chất của vấn đề nghiên
cứu, trình độ của người học, sự dẫn dắt của GV… Do đó quá
trình vận dụng có thể thay đổi đơn giản hơn hoặc phức tạp
hơn. Trong dạy học, quá trình thực hiện dạy học nêu và
GQVĐ cũng không nhất thiết phải tuân thủ theo trình tự các
bước mà có thể vận dụng linh hoạt cho phù hợp.
Cách tiến hành PPNVĐ trong dạy học
Cách thức tiến hành phương pháp NVĐ trong dạy học thể
hiện tổ chức dạy học nêu vấn đề được thực hiện như thế nào.
Đây là những chỉ dẫn quan trọng cho giáo viên khi triển khai
phương pháp trong thực tiễn dạy học. Tổ chức dạy học nêu
vấn đề thường gồm 3 bước:
Tổ chức cho người học Phát hiện vấn đề:
Đây là bước giáo viên tạo cơ hội để “người học tham gia
phát hiện vấn đề, phát biểu vấn đề, phát biểu và nhận dạng
vấn đề nảy sinh và nêu vấn đề cần giải quyết ở các mức độ
khác nhau cho phù hợp” [6, tr.70]. Bước này cần được tổ chức
cho phù hợp với trình độ của đối tượng người học. Bước này
cần làm được mấy việc:
+ Tạo tình huống có vấn đề.
+ Giải thích tình huống có vấn đề.
+ Phát biểu vấn đề bằng câu hỏi nhận thức và đặt nhiệm vụ
phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, phát triển năng lực
nhận thức, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề thông
qua các trải nghiệm” [6, tr.73].
Để thực hiện nhiệm vụ dạy học, người học phải phát hiện
và GQVĐ bằng cách huy động những kiến thức, kỹ năng đã
có để giải quyết vấn đề mới. DO vậy, phương pháp tạo môi
trường, điều kiện để phát triển tư duy logic, tư duy sáng tạo,
hình thành và phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn
đề, năng lực sáng tạo, năng lực tư duy và phản biện,… Đó là
những năng lực cơ bản đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển xã
hội hiện nay.
Kết quả của PPNVĐ mang lại là “Kiến thức, kỹ năng
được hình thành một cách sâu sắc và vững chắc”, HV sẽ “biết
cách chủ động chiếm lĩnh kiến thức và đánh giá được kết quả
học tập của bản thân” [6, tr.73]. Vì thế, NVĐ là phương pháp
có ưu thế trong DH phát triển năng lực HS.
Hạn chế:
Giảng viên cần dành nhiều thời gian để nghiên cứu nội
dung bài học, đầu tư trí tuệ để chuẩn bị bài dạy, tìm ra các
cách thức để đưa học viên vào tình huống có vấn đề.
Thành công của phương pháp cần rất nhiều vào sự tham
gia của người học (tâm thế, thái độ, năng lực tham gia).
Việc triển khai phương pháp nhiều khi cần có các điều
kiện hỗ trợ để tạo những thuận lợi cho học viên phát hiện và
GQVĐ, kích thích hứng thú, tập trung chú ý của người học.
[7]
Từ ưu điểm và hạn chế phương pháp, GV cần nắm được
bản chất của và mối quan hệ của phương pháp NVĐ với các
Yêu cầu đối với cán bộ: Phải có đủ phẩm chất đạo đức,
trí tuệ, bản lĩnh, phương pháp và phong cách…
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đức và tài của người cán bộ
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách của người cán bộ
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ
Quan niệm của Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và vai
trò của công tác cán bộ
Nội dung công tác cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Hiểu và đánh giá đúng cán bộ
Khéo dùng cán bộ
Huấn luyện cán bộ
Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác
cán bộ
Đánh giá chung
Đánh giá cụ thể một số khâu của công tác cán bộ
Đánh giá cán bộ
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
- Sử dụng cán bộ
Vai trò của PPNVĐ trong dạy học bài "Tư tưởng Hồ Chí
Minh về cán bộ và công tác cán bộ"
Phương pháp NVĐ có vai trò và ý nghĩa trong dạy học
bài "Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ"
trong chương trình môn Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều đó thể hiện ở
mấy điểm: 1. Đó là con đường thuận lợi, phù hợp đối với sự
tác cán bộ của Đảng trong xây dựng Đảng và xây dựng Nhà
nước Việt Nam. Do đó, phương pháp NVĐ là con đường quan
trọng để giảng viên tổ chức, điều khiển học viên chiếm lĩnh
nội dung bài học.
Với đặc điểm của phương pháp NVĐ là một hệ phương
pháp dạy học phức hợp và có tính đa năng. GV có thể kết hợp
với nhiều PPDH
khác nhau. Có thể xem đó là tiếp cận
phương pháp luận, nhưng lại là PPDH về mặt kỹ thuật. Tương
ứng với đặc điểm nội dung bài học, phương pháp NVĐ là
phương pháp dạy học ưu thế nhằm thực hiện tốt mục tiêu DH
cho đối tượng học viên là người lớn. Phương pháp NVĐ giúp
cho GV tạo môi trường thuận lợi để phát huy tính tích cực của
HV. Bên cạnh đó, đây là PP phù hợp để GV tổ chức cho HV
học một cách chủ động. Những hạn chế của dạy học theo tiếp
cận nội dung được hóa giải, không còn tình trạng thụ động
tiếp nhận tri thức theo kiểu một chiều của người học, tránh
được hiện trạng giáo viên độc thoại trong dạy học truyền
thống. Một thế mạnh nội dung bài học gắn liền với công tác
xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước Việt Nam hiện nay, do đó
phương pháp cho phép GV có nhiều thuận lợi để đưa học viên
vào tình huống có vấn đề, giúp HV phát hiện và GQVĐ. Nhờ
đó, GV cũng huy động kinh nghiệm, hiểu biết đã có của người
học nhằm làm rõ nội dung Chính của bài học.
Mặc dù bài học có tính lý luận cao nhưng lại có tính thực
tiễn sâu sắc. Cho đến nay, những nội dung cơ bản trong tư
học viên giúp cho mỗi cá nhân học viên tham gia học tập
nghiêm túc, có trách nhiệm, có động cơ rõ ràng.Từ đó, người
học ý thức hơn, hứng thú hơn, chủ động hơn trong học bài