ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG
LỜI TỎ TÌNH VÀ LỜI HỒI ĐÁP
TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2018
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG
LỜI TỎ TÌNH VÀ LỜI HỒI ĐÁP
TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 8.22.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Quang Năng
THÁI NGUYÊN - 2018
Nguyễn Thị Thùy Dương
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC ..........................................................................................................iii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT ........................................................... iv
DANH MỤC CÁC BẢNG .................................................................................. v
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................... 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phạm vi khảo sát.......................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 3
5. Đóng góp của luận văn .................................................................................... 3
6. Cấu trúc luận văn ............................................................................................. 4
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT...........5
1.1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu................................................................ 5
1.1.1. Những nghiên cứu chung về tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam ............... 5
1.1.2. Những nghiên cứu về lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao người Việt ......... 6
1.2.
Cơ sở lí thuyết ........................................................................................... 7
1.2.1. Lí thuyết hội thoại ..................................................................................... 7
Tiểu kết chương 2 .............................................................................................. 53
Chương 3. LỜI TỎ TÌNH VÀ LỜI HỒI ĐÁP TRONG CA DAO
NGƯỜI VIỆT - DẠNG KHÔNG ĐẦY ĐỦ ........................................ 55
3.1.
Kết cấu của các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng không đầy đủ ......... 55
3.1.1. Các dạng lượt lời của bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng không
đầy đủ ...................................................................................................... 55
3.1.2. Kiểu câu được sử dụng trong ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng
không đầy đủ ........................................................................................... 57
3.1.3. Các mô típ thường gặp ............................................................................ 58
3.2.
Cách thức thể hiện của các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng
không đầy đủ ........................................................................................... 60
3.2.1. Thể hiện bằng các hình ảnh, biểu tượng.................................................. 60
3.2.2. Thể hiện trong bối cảnh giao tiếp ............................................................ 63
3.2.3. Thể hiện qua các nhân vật giao tiếp ........................................................ 65
3.3.
Nội dung của các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp - dạng không đầy đủ ..... 69
3.3.1. Nội dung của các bài ca dao tỏ tình khuyết lời hồi đáp .......................... 70
3.3.2. Nội dung của những bài ca dao là lời hồi đáp khuyết lời tỏ tình ............ 79
Tiểu kết chương 3 .............................................................................................. 84
KẾT LUẬN....................................................................................................... 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 90
Sp2
: Người nghe
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.
Về sự luân phiên lượt lời trong bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp.......... 24
Bảng 2.2.
Các kiểu câu được sử dụng trong ca dao lời tỏ tình có lời hồi đáp ...... 27
Bảng 2.3.
Kiểu câu hỏi trong các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp ............... 27
Bảng 2.4.
Từ chỉ không gian trong các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp ...... 34
Bảng 2.5.
Từ ngữ chỉ thời gian trong các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp ...... 36
Bảng 2.6.
Các nhóm nội dung cơ bản trong ca dao tỏ tình khuyết lời
hồi đáp ........................................................................................... 70
Bảng 3.6.
Lời hồi đáp thuận tình và lời hồi đáp không thuận tình trong
các bài ca dao là lời hồi đáp khuyết lời tỏ tình ............................. 79
v
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Từ xưa đến nay, ca dao Việt Nam được ví như cây đàn muôn điệu,
dòng sữa mát lành nuôi dưỡng tâm hồn nhân dân trải qua nhiều thế hệ. Ca dao
còn là viên ngọc quý sáng lấp lánh trong kho tàng vô giá của văn học dân gian.
Trải qua sự sàng lọc khắc nghiệt nhưng công bằng của thời gian, ca dao dân ca
vẫn luôn được khẳng định là: “kho báu trí tuệ của nhân dân”. Như một thanh
nam châm chứa trong mình trí tuệ, nếp sống, tâm lí, tình cảm, kinh nghiệm của
người đi trước, ca dao luôn thu hút sự tìm tòi, khám phá, mang đến niềm say
mê cho bao thế hệ đến sau.
1.2. Ở bài viết “Lời nói đầu” trong Kho tàng ca dao người Việt, nhóm
biên soạn đã khẳng định: “Ca dao của người Việt hết sức phong phú và có giá
trị, đã có nhiều cuốn sách phản ánh được khối lượng thơ ca dân gian này”.
Thực ra, việc sưu tầm, nghiên cứu ca dao, dân ca từ lâu đã nhận được sự quan
tâm của các học giả, các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, giống như một kho báu
còn rất nhiều điều quí giá chưa được khai phá, ca dao vẫn là mảnh đất màu mỡ
để những cây trí tuệ gieo mầm. Bài học từ ca dao, câu chuyện của ca dao, tình
yêu cuộc sống, con người trong ca dao…sẽ mang đến cho chúng ta bao điều
2.1. Mục đích
Nghiên cứu lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao, tìm ra những đặc
trưng về hình thức, nội dung của lời tỏ tình, lời hồi đáp trong ca dao người Việt
để thấy được vẻ đẹp tâm hồn con người Việt được bộc lộ trong những bài ca
dao này. Từ đó góp phần lưu giữ, bảo tồn những vẻ đẹp của ngôn ngữ, tâm hồn
dân tộc Việt. Đồng thời kết quả nghiên cứu sẽ được sử dụng làm tư liệu tham
khảo cho những người muốn nghiên cứu về hành động ngôn ngữ trong ca dao.
2.2. Nhiệm vụ
Nhiệm vụ nghiên cứu của chúng tôi là:
- Xác lập một khung lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Thống kê, phân loại lời tỏ tình và lời hồi đáp trong kho tàng ca dao
người Việt.
- Miêu tả, phân tích đặc điểm của lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao
người Việt.
2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phạm vi khảo sát
3.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu là lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao người Việt.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng khảo sát: nghiên cứu lời tỏ tình và hồi đáp trong kho tàng ca
dao người Việt trong cuốn Kho tàng ca dao Người Việt, Nguyễn Xuân Kính
(Chủ biên) Nxb văn hóa.
- Nội dung nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn là:
+ Cấu tạo hình thức của các bài ca dao tỏ tình có lời hồi đáp.
+ Hành động ngôn ngữ trong các bài cao dao tỏ tình có lời hồi đáp.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thống kê phân loại
Chúng tôi dựa vào phương pháp này để thu thập ngữ liệu trong từng vấn
Việt. Nó là cơ sở để hiểu thêm về cách mà người Việt bày tỏ tâm tư, tình cảm
của mình qua ca dao; đồng thời qua đó cũng để hiểu thêm phong tục, tập quán
và con người của dân tộc Việt Nam.
Khóa luận còn có ý nghĩa sư phạm, kết quả của đề tài sẽ góp thêm một cứ
liệu trong lĩnh vực nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hoá, văn học dân gian và
văn hoá dân gian; là nguồn tư liệu tham khảo cần thiết cho việc nghiên cứu và
giảng dạy ngữ dụng học, văn học dân gian trong nhà trường. Từ đó, góp phần
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận.
Chương 2: Lời tỏ tình và lời hồi đáp - dạng đầy đủ.
Chương 3: Lời tỏ tình và lời hồi đáp - dạng không đầy đủ.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Những nghiên cứu chung về tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam
Từ xưa đến nay, vấn đề nghiên cứu tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam ít
nhiều đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và tiếp nhận. Tuy
nhiên, phần lớn những công trình nghiên cứu về tục ngữ, ca dao, dân ca chỉ dừng
lại ở việc sưu tầm giới thiệu sơ lược. Được đánh giá cao là công trình sưu tầm
nghiên cứu: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ
Việt Nam của tập thể tác giả, Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Trù,
Kho tàng ca dao Người Việt, 3 tập của tập thể tác giả Nguyễn Xuân Kính, Phan
Đăng Nhật, Phan Đăng Tài, Nguyễn Thúy Loan, Đặng Diệu Trang.
lịch sự.
+ Nguyễn Bích Hảo (2014) với “ Lời khen trong ca dao Việt Nam dưới
góc nhìn ngôn ngữ văn hóa”.
1.1.2. Những nghiên cứu về lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao người Việt
Đến nay, trong số các tài liệu mà chúng tôi tham khảo và sưu tầm được,
chưa phát hiện đề tài nào trùng tên với đề tài của luận văn này. Có thể trên thực
tế, tùy theo khuôn khổ của từng bài viết, và tùy theo mục đích yêu cầu nghiên
cứu cụ thể mà một vài khía cạnh của vấn đề đã được đề cập đến, nhưng chưa có
nghiên cứu nào về “Lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao người Việt”. Trên
cơ sở tiếp nhận và kế thừa những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước,
với mong muốn góp phần làm rõ thêm mảng đề tài nghiên cứu một số hành
động ngôn ngữ được thể hiện trong một thể loại của văn học dân gian là ca dao,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao
người Việt”.
Qua đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi mong muốn mang đến một
cách nhìn, cách cảm mới về lời tỏ tình và lời hồi đáp trong ca dao của người
Việt; góp một phần công sức nhỏ bé vào gìn giữ và phát huy những giá trị cao
đẹp của ca dao, dân ca. Chúng tôi cho rằng đó cũng là cách thiết thực để bảo
tồn, phát huy những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc.
6
1.2. Cơ sở lí thuyết
1.2.1. Lí thuyết hội thoại
1.2.1.1. Khái niệm hội thoại
Hội thoại là một vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới và hiện
nay ngôn ngữ học của hầu hết các quốc gia đều bàn đến hội thoại. Ở nước ta, kế
thừa những thành quả của ngôn ngữ học thế giới, hội thoại đã trở thành mảng
nghiên cứu hấp dẫn của ngôn ngữ học ứng dụng. Xoay quanh khái niệm “hội
thoại”, chúng ta phải kể đến một số khái niệm sau:
cuộc thoại, các đối tác đối thoại đã phải xác định mục tiêu giao tiếp mà mình
cần đạt được từ đó xây dựng chiến lược phù hợp. Tuy nhiên, đối với những
cuộc tán gẫu thì “đích” này thường không cụ thể và mang tính tự phát.
- Các cuộc hội thoại khác nhau về tính có hình thức hay không có hình
thức. Căn cứ vào từng cuộc thoại mà hình thức thể hiện, quy trình tổ chức, dẫn
dắt,... cũng khác nhau... có khi không cần hình thức tổ chức hỗ trợ nào cả.
- Với những hình thức hội thoại khác nhau thì ngữ vực để thể hiện nó
cũng khác nhau [8, tr.201].
1.2.1.2. Cấu trúc hội thoại
Theo Đỗ Hữu Châu [8,tr.90] cho đến thời điểm hiện tại, trên thế giới có ba
trường phái với những quan điểm khác nhau về cấu trúc hội thoại. Thứ nhất là
trường phái phân tích hội thoại ở Mĩ (Conversation analysis) - Trường phái này
cho rằng hội thoại có hai tổ chức cơ bản là lượt lời và cặp thoại. Thứ hai là
trường phái phân tích diễn ngôn (discourse analysis) - Trường phái này dựa
trên mô hình cấu trúc bậc (rank) chia hội thoại thành năm bậc. Trong cấu trúc
tầng bậc này, hành động (act) là đơn vị nhỏ nhất của cuộc thoại tức cuộc tương
tác. Các hành động tạo nên bước thoại, các bước thoại tạo nên cặp thoại và đơn
vị lớn nhất, bao trùm là cuộc thoại. Trong đó, ba đơn vị cuộc thoại, đoạn thoại,
cặp thoại có tính chất lưỡng thoại (dialogal) có nghĩa là hình thành do vận động
trao đáp của các nhân vật hội thoại. Hai đơn vị có tính chất đơn thoại, có nghĩa
là do một người nói ra là tham thoại và hành động ngôn ngữ. Thứ ba là trường
phái lý thuyết hội thoại ở Thụy Sĩ và Pháp - Trường phái này đã phân định các
8
đơn vị cấu trúc hội thoại thành các đơn vị cơ bản: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp
trao đáp, hành động ngôn ngữ và tham thoại. Do điều kiện và mục đích của đề
tài, chúng tôi không thể đi sâu tìm hiểu các đơn vị cấu trúc của các trường phái
khác mà chỉ xin trình bày một số đơn vị hội thoại theo trường phái lý thuyết hội
thoại nhằm làm cơ sở lý thuyết cho đề tài.
b. Đoạn thoại
Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một cặp trao đáp liên kết chặt chẽ
với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng. Về ngữ nghĩa đó là sự liên kết chủ
đề: một chủ đề duy nhất và về ngữ dụng đó là tính duy nhất về đích [8, tr.313].
Cấu trúc tổng quát trong một cặp thoại là:
- Đoạn thoại mở thoại: Mang tính chất “đưa đẩy”, có chức năng mở ra
cuộc thoại và nêu đề tài diễn ngôn.
- Đoạn thân thoại: Là đoạn thoại phản ánh nội dung chính của cuộc thoại.
- Đoạn kết thoại: Là đoạn thoại có chức năng tổng kết, kết luận về chủ đề
hội thoại. Để kết thúc chúng ta có thể đưa ra những lời hứa hẹn, cảm ơn, chúc
mừng, xin lỗi, từ biệt...
c. Cặp thoại
Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại do các tham thoại
tạo nên “Tham thoại là đơn vị đơn thoại do một cá nhân nói ra cùng với tham
thoại khác lập thành một cặp thoại” [8, tr.315]. Về nguyên tắc, một cặp thoại ít
nhất phải do hai tham thoại tạo nên. Tham thoại thứ nhất ở lượt lời người trao
là tham thoại dẫn nhập. Tham thoại thứ hai ở lượt lời người đáp là tham thoại
hồi đáp.
Trong giao tiếp, như đã biết, mỗi cặp thoại bình thường gồm ít nhất hai
tham thoại. Tuy nhiên, trong giao tiếp vẫn có những cặp thoại chỉ có một
tham thoại còn phổ biến là trường hợp cặp thoại có từ hai tham thoại trở lên.
Gọi là cặp thoại một tham thoại là căn cứ vào hình thức biểu hiện của nó trên
bề mặt diễn ngôn, còn thực tế quan hệ trao đáp trong cặp thoại luôn giả định
sự thực tồn của tham thoại thứ hai. Quả thực những cặp thoại một tham thoại
là cặp thoại đơn giản nhưng lại không bình thường về cấu tạo. Nó tạo ra cấu
10
trúc hẫng của cặp thoại (theo cách gọi của Đỗ Hữu Châu) (gọi là cặp thoại
hẫng) nhưng là một hiện tượng khá phổ biến. Hơn nữa, trong nhiều tình
Một tham thoại hồi đáp không chỉ đáp lại nội dung của tham thoại ở lời
dẫn nhập, nó không chỉ thực hiện vế thứ hai của hiệu lực ở lời tức thực hiện
trách nhiệm đối với tham thoại dẫn nhập. Tự nó khi thực hiện trách nhiệm thì
cũng đồng thời đưa ra một quyền lực: quyền lực buộc người đối thoại (người
đưa ra tham thoại dẫn nhập) phải tin vào, phải đáp lại điều mà tham thoại hồi
đáp đưa ra (do trách nhiệm phải hồi đáp). Chính vì vậy khi một tham thoại hồi
đáp cho tham thoại dẫn nhập thứ nhất thì nó tự khắc trở thành một tham thoại
đòi hỏi sự hồi đáp của người đối thoại. Như vậy trong một cặp thoại có các
tham thoại sau:
- Tham thoại có chức năng dẫn nhập (tham thoại chủ hướng).
- Tham thoại hồi đáp - dẫn nhập trong lòng cặp thoại.
- Tham thoại hồi đáp.
1.2.1.3. Vận động hội thoại
Trong bất cứ cuộc hội thoại nào cũng có 3 vận động chủ yếu: trao lời, trao
đáp và tương tác.
a. Sự trao lời
Vận động đầu tiên xuất hiện trong một cuộc hội thoại là vận động mà Sp1
(người nói) nói lượt lời của mình ra và hướng lượt lời của mình vào Sp2 (người
nghe) làm cho Sp2 nhận biết lượt lời đó là dành cho Sp2.
b. Sự trao đáp
Sau khi tiếp nhận phát ngôn của Sp1, Sp2 đưa ra phát ngôn để thể hiện
quan điểm, ý kiến, tình cảm của mình để đáp lại lời trao từ Sp1, và cuộc thoại
chính thức được bắt đầu. Đây gọi là vận động trao đáp.
c. Sự tương tác hội thoại.
Trong quá trình hội thoại, các đối ngôn sẽ có ảnh hưởng lẫn nhau, tác
động tác động đến cách ứng xử của nhau. Đây được xem là vận động tương tác
xảy ra trong hội thoại. Trước khi hội thoại giữa các đối ngôn tồn tại một
khoảng cách nhất định về sự hiểu biết lẫn nhau, về tâm lí, tình cảm… Sau khi
hội thoại, nếu những khoảng cách ấy được thu hẹp lại, rút ngắn lại, khi ấy có
12
phù hợp với mục đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh đã chấp
nhạn tham gia vào (Grice 1967).
13
Trong hội thoại, ngoài quan hệ trao đổi thông tin (miêu tả, trần thuật những thông tin được đánh giá theo tiêu chí đúng sai lôgic) còn có quan hệ
được gọi là liên cá nhân (quan hệ giữa các vai trong gia tiếp). Liên quan trực
tiếp đến quan hệ liên cá nhân là vấn đề lịch sự trong giao tiếp.
1.2.2. Lí thuyết hành động ngôn ngữ
1.2.2.1. Khái quát hành động ngôn ngữ
Giữa những năm 1950, J.L.Austin - nhà triết học người Anh đã trình bày
12 chuyên đề liên quan đến hành động ngôn ngữ (HĐNN) (cũng gọi là hành vi
ngôn ngữ). Ông đã tiến hành phân biệt phát ngôn khảo nghiệm với phát ngôn
ngữ vi và phát hiện ra được bản chất hành động của ngôn ngữ. “Khi chúng ta nói
năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà
phương tiện là ngôn ngữ. Một HĐNN được thực hiện khi một người nói (hoặc
viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong
một ngữ cảnh C” (dẫn theo [7, tr.446]).
1.2.2.2. Các hành động ngôn ngữ
J.L.Austin cho rằng có ba loại HĐNN lớn là: hành động tạo lời
(locutionary act), hành động mượn lời (perlocutionary act), hành động ở lời (Illocutionary act).
a. Hành động tạo lời (HĐTL)
"Là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, vốn từ,
quy tắc kết hợp để tạo thành những phát ngôn (đúng về hình thức và cấu trúc)
hay những văn bản có thể hiểu được" (dẫn theo [25, tr.70]).
b. Hành động mượn lời (HĐML)
"Là những hành động mượn những phương tiện ngôn ngữ, hay nói một
cách khác, là mượn các phát ngôn để gây ra một tác động hay hiệu quả
ngoài ngôn ngữ đối với người nghe. Hiệu quả này không đồng nhất ở những
người khác nhau" (dẫn theo [25, tr.71]).
ngôn ngữ trực tiếp) là những HĐNN được thực hiện đúng với đích ở lời, đúng
với điều kiện sử dụng của chúng.
Ví dụ:
Sp1: Cô sinh được mấy cháu?
Sp2: Em có tất cả ba cháu bác ạ!
Trong phát ngôn trên, Sp1 đã thực hiện HĐOLH, được đánh dấu bằng
phương tiện hình thức là dùng đại từ nghi vấn mấy để hỏi về số lượng (số ít, đếm
16
được, dưới 10). Xét về các điều kiện sử dụng HĐOL cho thấy phát ngôn không
vi phạm điều kiện nào. Với đích ở lời là hỏi, phát ngôn đã mang tới hiệu lực của
HĐOLH bằng sự phản ứng của Sp2 trả lời và cung cấp cho Sp1 thông tin về số
lượng mà Sp1 muốn biết. Như vậy, phát ngôn chúng tôi vừa phân tích trên đây
đã thực hiện HĐOLH trực tiếp.
Ví dụ:
Gặp đây anh nắm cổ tay,
Anh hỏi câu này có lấy anh không?
Trong bài ca dao trên, Sp1 đã thực hiện HĐOLH bằng phương tiện đánh
dấu về hình thức là cặp phụ từ nghi vấn có... hay không để hỏi về việc có đồng
ý lấy anh không. Tuy nhiên, khi xét các điều kiện sử dụng HĐOL cho thấy phát
ngôn không thỏa mãn đầy đủ 4 điều kiện. Sp1 không biết rõ câu trả lời, nhưng
Sp1 thực hiện hành động hỏi không hoàn toàn nhằm mục đích để Sp2 cung cấp
cho mình thông tin chưa rõ, Sp1 cũng không cố gắng nhận thông tin đồng ý hay
không đồng ý từ Sp2. Sp1 thực hiện HĐOLH nhưng là để làm quen, để bông
đùa. Như vậy, phát ngôn đã vi phạm điều kiện 3 và 4 trong các điều kiện sử
dụng HĐOL mà Searle đưa ra. Từ đó có thể thấy phát ngôn trên thực hiện
HĐOLH nhưng nhằm mục đích thực hiện hành động gián tiếp là làm quen, là