ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HOÀNG MINH HẢI
QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI THÀNH PHỐ BẮC KẠN,TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨTHEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGÀNH:QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2019
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HOÀNG MINH HẢI
QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI THÀNH PHỐ BẮC KẠN,TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨTHEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 8.34.04.10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN NHUẬN KIÊN
THÁI NGUYÊN - 2019
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó.
Thái Nguyên, tháng
năm 2019
Tác giả
Hoàng Minh Hải
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................. ii
MỤC LỤC .................................................................................................. iii
DANH HIỆU CÁC KÍ HIỆU, VIẾT TẮT ............................................. vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ........................................................... viii
MỞ ĐẦU ......................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu ..................................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................................2
4. Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận văn ............................................3
5. Kết cấu của luận văn .................................................................................3
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI
THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC .............................4
1.1. Cơ sở lý luận về chi thường xuyên ngân sách nhà nước .......................4
1.1.1. Khái quát về ngân sách Nhà nước.......................................................4
1.1.2. Chi ngân sách nhà nước ......................................................................5
1.1.3. Chi thường xuyên ngân sách Nhà nước ..............................................6
3.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội năm vừa qua ........................................... 33
3.2. Thực trạng chi thường xuyên NSNN tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc
Kạn ..................................................................................................... 34
3.3. Thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước tại thành phố
Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn ....................................................................... 38
3.3.1. Thực trạng hệ thống định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân
sách hàng năm .................................................................................... 38
v
3.3.3. Quản lý công tác điều hành, chấp hành dự toán chi thường xuyên ngân
sách nhà nước ..................................................................................... 47
3.3.4. Quản lý quyết toán và kiểm tra, kiểm toán các khoản chi thường xuyên
ngân sách nhà nước ............................................................................ 50
3.3.5. Nhận thức của đối tượng tham gia về công tác quản lý chi thường
xuyên NSNN tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn .......................... 61
3.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý chi thường xuyên NSNN tại thành phố
Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn ....................................................................... 65
3.4.1. Các nhân tố khách quan ................................................................... 65
3.4.2. Các nhân tố chủ quan ....................................................................... 67
3.5. Đánh giá quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước tại thành phố
Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn ....................................................................... 72
3.5.1. Những kết quả đạt được ................................................................... 72
3.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân ........................................................ 73
CHƯƠNG 4.GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI THƯỜNG
XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ BẮC
KẠN, TỈNH BẮC KẠN ................................................................... 78
4.1. Quan điểm, định hướng và mục tiêu hoàn thiện quản lý chi thường
xuyên ngân sách nhà nước tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn trong
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
NSNN
: Ngân sách Nhà nước
XDCB
: Xây dựng cơ bản
KT-XH
: Kinh tế - Xã hội
QLNN
: Quản lý Nhà nước
KBNN
: Kho bạc Nhà nước
NĐ-CP
: Nghị định – Chính phủ
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nước vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước, vừa là
công cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội. Một trong
những giải pháp quan trọng để đảm bảo cân bằng ngân sách chính là phải quản lý chi
thường xuyên ngân sách thật tốt. Chính vì vậy, việc hoàn thiện công tác quản lý chi
thường xuyên NSNN luôn là vấn đề cốt lõi của mỗi quốc gia. Đặc biệt đối với nước
ta hiện nay, trong điều kiện nền kinh tế chưa thật sự phát triển, nguồn thu vào NSNN
không lớn như các quốc gia khác trong khu vực. Trong khi đó, Nhà nước đang phải
giải quyết bài toán cho đầu tư phát triển để hội nhập, vừa tập trung giải quyết rất
nhiều vấn đề xã hội, an ninh - quốc phòng thì việc quản lý chặt chi thường xuyên
ngân sách Nhà nước được coi là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Bắc Kạn là một tỉnh mới được tái lập từ ngày 01/01/1997, với nhiều tiềm năng,
lợi thế về phát triển du lịch, dịch vụ. Kinh tế của tỉnh Bắc Kạn sau hơn 20 năm tái lập
đã có những bước phát triển đáng kể, thu ngân sách của tỉnh năm sau cao hơn năm
trước.Bên cạnh những thành quả đã đạt được về thu và chi NSNN, công tác quản lý
chi ngân sách trên địa bàn tỉnh thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn vẫn bộc lộ một số
điểm yếu và những tồn tại, ví dụ như: Trình độ xây dựng dự toán của các đơn vị sử
dụng ngân sách (NS) còn yếu; việc phân bổ dự toán của một số đơn vị sử dụng NS
chưa thực hiện tốt; báo cáo quyết toán của các đơn vị sử dụng NS thường chưa đảm
bảo đúng tiêu chuẩn, quy định, chất lượng công tác thẩm định, xét duyệt báo cáo
quyết toán chưa cao; công tác thanh tra, kiểm tra chưa mang lại hiệu quả cao... Những
điểm yếu và tồn tại trong quản lý chi ngân sách nếu không sớm được nhận diện và
khắc phục sẽ ảnh hưởng tiêu cực và lâu dài tới quá trình phát triển kinh tế, xã hội của
tỉnh, thậm chí tiềm ẩn cả những nguy cơ về mất ổn định an ninh, chính trị trên địa
bàn.
- Làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về quản lý chi thường
xuyên ngân sách nhà nước tại các trường Đại học trên cả nước.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo luận văn
được chia làm 4 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi thường xuyên ngân sách
nhà nước.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 3: Thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại thành
phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước
tại thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG
XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1. Cơ sở lý luận về chi thường xuyên ngân sách nhà nước
1.1.1. Khái quát về ngân sách Nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm
Khái niệm về NSNN có nhiều quan điểm khác nhau: Một số tác giả cho rằng
NSNN là một bản dự toán thu - chi trong năm của Nhà nước. Cách quan niệm này
đúng về hình thức, nhưng đó chỉ là một giai đoạn của quá trình ngân sách và cũng
chưa thể hiện được vị trí của NSNN.
Một nhóm tác giả khác cho rằng, NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước.
Cách quan niệm này đúng ở chỗ, người ta đã thực thể hóa được NSNN và cũng nêu
được vị trí của NSNN so với các quỹ tiền tệ khác. Vì thực tế cũng thường thấy thu
ương. Ngân sách địa phương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp
địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương
và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương.
1.1.2. Chi ngân sách nhà nước
Về phương diện pháp lý: Chi NSNN là những khoản chi tiêu do chính phủ hay
các pháp nhân hành chính thực hiện để đạt được những mục tiêu công ích.
Về bản chất: Chi NSNN là hệ thống các quan hệ phân phối lại các khoản thu
nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước,
nhằm thực hiện tăng trưởng và phát triển kinh tế, phát triển các sự nghiệp văn hóa xã hội, duy trì bộ máy quản lý nhà nước và đảm bảo an ninh, quốc phòng.
Như vậy, chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập
trung vào quỹ NSNN cho từng mục tiêu, từng hoạt động, từng công việc cụ thể thuộc
chức năng của Nhà nước(Luật Ngân sách Quốc hội, 2015).
Chi NSNN bao gồm hai quá trình: Phân phối và sử dụng quỹ NSNN.
Quá trình phân phối là quá trình phân bổ kinh phí từ quỹ NSNN theo những tiêu
chí, tỷ lệ nhất định để hình thành các quỹ tiền tệ nhỏ hơn trước khi đưa vào sử dụng.
Nói cách khác, đó là quá trình phân bổ quỹ NSNN thành nhiều phần với những cơ
cấu nhất định cho những nội dung, đối tượng thụ hưởng NSNN khác nhau đảm bảo
với một nguồn lực tài chính có hạn nhưng lại phải đáp ứng các nhu cầu chi tiêu trong
quá trình thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.
Quá trình sử dụng NSNN là quá trình trực tiếp chi dùng các khoản tiền được
cấp phát từ quỹ NSNN cho các công việc cụ thể theo các mục đích đã định.
6
1.1.3. Chi thường xuyên ngân sách Nhà nước
1.1.3.1. Khái niệm
Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối và sử dụng các nguồn tài chính
đã tập trung được vào NSNN để đáp ứng cho các nhu cầu chi giúp bộ máy Nhà nước
Với đặc điểm trên, lựa chọn phương thức cấp phát như cấp dự toán, hay cấp
bằng lệnh chi tiền, việc theo dõi các khoản chi đặt ra yêu cầu không để ngân sách bị
tồn đọng, phân khúc, gây tình trạng nơi thừa nguồn nơi thiếu nguồn, khiến cho các
khoản chi bị gián đoạn ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng công việc đôi khi còn gây
những thiệt hại lớn có thể đo đếm được và không thể đo đếm được.
Thứ hai, theo cơ cấu chi NSNN ở từng niên độ và mục đích sử dụng cuối cùng
của vốn cấp phát thì đại bộ phận các khoản chi thường xuyên của NSNN có hiệu lực
tác động trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội. Chi thường
xuyên đáp ứng cho các nhu cầu chi để thực hiện các nhiệm vụ Nhà nước về quản lý
kinh tế, quản lý xã hội ngay trong năm ngân sách hiện tại.
Khi nghiên cứu cơ cấu chi NSNN theo mục đích sử dụng cuối cùng của vốn cấp
phát, người ta phân loại các khoản chi thành hai nhóm: Chi tích lũy và chi tiêu dùng.
Theo tiêu thức này thì đại bộ phận các khoản chi thường xuyên được xếp vào chi tiêu
dùng bởi vì chi thường xuyên chủ yếu trang trải cho các nhu cầu về quản lý hành
chính nhà nước; về quốc phòng, an ninh; về các hoạt động sự nghiệp; các hoạt động
xã hội khác do Nhà nước tổ chức.
Vấn đề đặt ra đối với công tác kiểm soát chi thường xuyên là kiểm soát các
khoản chi sao cho vừa đúng luật, tuân thủ các quy định tài chính, các điều kiện chi
nhưng không thể chậm trễ cấp phát đối với những khoản chi như lương, phụ cấp,
điện, nước, văn phòng phẩm, nghiệp vụ chuyên môn.
Thứ ba, phạm vi, mức độ chi thường xuyên của NSNN gắn chặt với cơ cấu tổ
chức của bộ máy nhà nước và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng các hàng
hóa công cộng. Chi thường xuyên luôn phải hướng vào việc bảo đảm hoạt động bình
thường của bộ máy Nhà nước. Nếu bộ máy quản lý nhà nước gọn nhẹ, hoạt động hiệu
quả thì số chi thường xuyên được giảm bớt và ngược lại. Hoặc quyết định của Nhà
nước trong việc lựa chọn phạm vi và mức độ cung ứng các hàng hóa công cộng cũng
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi và mức độ chi thường xuyên của NSNN. Nếu Nhà
nước quyết định cung cấp hàng hoá dịch vụ miễn phí thì phạm vi và mức độ chi NSNN
phải rộng và lớn. Ngược lại Nhà nước quyết định cung cấp hàng hoá dịch vụ có thu
một phần kinh phí thì mức độ chi NSNN sẽ giảm bớt.
sách và quyết định phân bổ dự toán; chấp hành dự toán; kiểm tra, kiểm soát, thanh
toán; quyết toán các khoản chi thường xuyên ngân sách nhà nước đều phải bảo đảm
nguyên tắc này. Điều đó có nghĩa là dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước
được quyết định trên cơ sở nhu cầu chi tiêu hợp lý của các đơn vị sử dụng ngân sách.
Khi dự toán ngân sách đã được quyết định thông qua, mọi đối tượng thụ hưởng ngân
sách đều phải tuân thủ các quyết định về dự toán, phân bổ dự toán, kiểm tra, quyết toán
ngân sách...
9
- Nguyên tắc quản lý theo dự toán:
Hoạt động của NSNN, đặc biệt là cơ cấu thu, chi của NSNN phụ thuộc vào
quyền phán quyết của cơ quan quyền lực Nhà nước. Do vậy mọi khoản chi từ NSNN
chỉ có thể trở thành hiện thực chỉ khi các khoản chi đó nằm trong cơ cấu chi theo dự
toán đã được cơ quan quyền lực Nhà nước xét duyệt và thông qua.
Lập dự toán là khâu mở đầu của một chu trình NSNN. Những khoản chi thường
xuyên đã được ghi vào trong dự toán và được cơ quan quyền lực nhà nước xem xét
duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh. Xét trên góc độ quản lý, số chi thường xuyên đã
được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của các cơ quan chức năng về quản lý tài
chính công với các đơn vị thụ hưởng NSNN.
Quản lý chi thường xuyên theo dự toán là cơ sở để đảm bảo cân đối NSNN, tạo
điều kiện chấp hành NSNN, hạn chế tuỳ tiện của các đơn vị sử dụng NSNN, hạn chế
tính tuỳ tiện trong quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách tại các đơn vị dự toán.
- Nguyên tắc tiết kiệm hiệu quả:
Nguyên tắc này đòi hỏi bảo đảm với một chi phí thấp nhất sẽ phải thu được lợi
ích lớn nhất. Trong quản lý chi thường xuyên ngân sách, nguyên tắc tiết kiệm và hiệu
quả đòi hỏi việc chi một đồng ngân sách phải tạo ra lợi ích lớn nhất có thể. Tiết kiệm
không đồng nghĩa với hạn chế chi tiêu, tiết kiệm là sự chi tiêu hợp lý. Đó là chi đúng
lúc, đúng chỗ, đúng mức, đảm bảo đáp ứng đầy đủ, kịp thời các nhiệm vụ chi thường
nước trong quá trình lập dự toán, phân bổ, cấp phát, thanh toán, hạch toán, quyết toán
NSNN.
Cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm xem xét ngân sách của các cơ quan,
đơn vị cùng cấp; kiểm tra phương án phân bổ và giao dự toán của các đơn vị dự toán
cấp trên cho các đơn vị dự toán cấp trên cho đơn vị dự toán cấp dưới. Trong trường
hợp không đúng dự toán ngân sách được giao, không đúng chế độ, chính sách, tiêu
chuẩn, định mức thì yêu cầu phải điều chỉnh lại.
Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi
và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN theo quy định; Tham
gia với cơ quan tài chính, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm
tra tình hình sự dụng NSNN và xác nhận số thực chi NSNN qua KBNN của các đơn
vị.
Lựa chọn phương thức cấp phát đối với từng khoản thường xuyên cho phù hợp
với hoàn cảnh kinh tế, xã hội hiện tại.
11
1.2.3. Vai trò của quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước
Chi thường xuyên NSNN chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số chi NSNN hàng
năm, chính vì vậy quản lý chi thường xuyên NSNN có vị trí rất quan trọng, thể hiện
qua các giác độ sau theo Nguyễn Thị Thu Hương (2014):
Quản lý chi thường xuyên NSNN cấp tỉnh góp phần cung ứng kịp thời, đầy đủ
tài chính cho hoạt động của Nhà nước và nhu cầu của xã hội. Trong điều kiện nguồn
tài chính công còn hạn hẹp, việc cung ứng tài chính đúng địa chỉ, kịp thời, phù hợp
với yêu cầu là điều kiện cơ bản để các hoạt động sử dụng nguồn tài chính đó đạt
được mục tiêu đã định. Quản lý chi thường xuyên NSNN góp phần để quá trình chi
NSNN đáp ứng được các yêu cầu đó. Thông qua quản lý chặt chẽ các khoản chi
thường xuyên NSNN, quản lý chi NSNNtác động đến đời sống KT - XH, giữ vững
ổn định chính trị - xã hội, góp phần giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội như:
triển các kết cấu hạ tầng kinh tế như giao thông, thuỷ lợi, điện, nước trên địa bàn (chủ
yếu do ngân sách địa phương đảm nhận) có vai trò tạo động lực cho phát triển kinh tế
- xã hội. Quản lý tốt các khoản chi ngân sách tại địa phương, đặc biệt là các khoản chi
đầu tư phát triển, còn cho phép chính quyền địa phương hỗ trợ hình thành các ngành
then chốt, các công trình thuộc ngành kinh tế mũi nhọn trên địa bàn, qua đó đẩy nhanh
tốc độ tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp phát triển (thông
qua chính sách trợ giá, hỗ trợ vốn, ưu đãi về thuế...), tạo ra môi trường và điều kiện
thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, đảm bảo ổn định về mặt xã hội, chính
trị...
Thông qua đầu tư và quản lý vốn đầu tư từ NSNN, quản lý chi NSNN sẽ tạo
điều kiện rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và miền
núi,giữa vùng phát triển và vùng sâu, vùng xa, giảm bớt khoảng cách phân hoá giàu
nghèo giữa các vùng, các khu vực, các tầng lớp dân cư, góp phần khắc phục những
khiếm khuyết của kinh tế thị trường. Có thể nói quản lý chi ngân sách có hiệu quả
còn là yếu tố góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Quản lý chi NSNN có hiệu quả sẽ góp phần chống tham ô, tham nhũng, giảm
nguy cơ suy thoái đạo đức của công chức, cán bộ quản lý nhà nước.
Thông qua việc xây dựng dự toán có căn cứ thực tiễn và khoa học, giám sát chặt
chẽ quá trình cấp phát và sử dụng, thực hiện quyết toán theo đúng chế độ, chính sách,
quản lý chi NSNN giảm thiểu cơ hội tham ô, tham nhũng của công chức, cung cấp
thông tin để khen, chê đúng người, đúng việc, xử lý nghiêm khắc các trường hợp chi
sai chế độ, chính sách. Kết quả của những tác động quản lý đó là tạo ra được trật tự,
13
kỷ luật nghiêm minh trong chi tiêu NSNN. Hơn nữa, với công cụ dự toán, quản lý chi
NSNN góp phần làm cho quá trình chi NSNN trở nên minh bạch hơn, dễ kiểm tra,
giám sát hơn. Việc định mức hóa, tiêu chuẩn hóa, công khai hóa các khoản chi NSNN
cũng tạo điều kiện để nhân dân giám sát hoạt động chi NSNN, qua đó tạo áp lực để
như vậy định mức chi mới trở thành chuẩn mực cho cả quá trình quản lý kinh phí chi
thường xuyên.
Thứ ba: Định mức chi phải đảm bảo thống nhất đối với từng khoản chi, với từng
đối tượng thụ hưởng ngân sách cùng loại.
Thứ tư: Định mức chi phải đảm bảo tính pháp lý cao.
Định mức chi thường xuyên của NSNN thường bao gồm hai loại.
- Định mức chi tiết: Là loại định mức xác định dựa trên cơ cấu chi của ngân
sách Nhà nước cho mỗi đơn vị được hình thành từ các mục chi nào, người ta tiến
hành xây dựng định mức chi cho từng mục đó ví dụ như: Chi công tác phí, hội nghị,chi
lương, học bổng...
- Định mức chi tổng hợp: Là loại định mức dùng để xác định nhu cầu chi từ
ngân sách Nhà nước cho mỗi loại hình đơn vị thụ hưởng. Do vậy, với mỗi loại hình
đơn vị khác nhau sẽ có đối tượng để tính định mức chi tổng hợp khác nhau.
Mỗi loại định mức chi đều có những ưu nhược điểm riêng của nó. Tuỳ theo mục
đích quản lý mà có sự lựa chọn hoặc vận dụng kết hợp các loại định mức chi cho hợp
lý.
1.2.4.2. Lập dự toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước
"Quản lý theo dự toán” là một nguyên tắc quan trọng trong quản lý chi thường
xuyên ngân sách Nhà nước. Khi lập dự toán chi thường xuyên ngân sách Nhà nước
phải dựa trên những căn cứ sau:
- Các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng... đặc biệt là các
chỉ tiêu liên quan trực tiếp đến việc cấp phát kinh phí chi thường xuyên.
- Các chủ trương, chính sách của Nhà nước về hoạt động của bộ máy quản lý
nhà nước, các hoạt động sự nghiệp, hoạt động an ninh - quốc phòng và các hoạt động
khác trong từng giai đoạn nhất định.
- Các chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan có thẩm quyền quy định; định
mức phân bổ dự toán ngân sách do Thủ tướng chính phủ, HĐND cấp Tỉnh ban hành
theo phân cấp.
- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã