Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội - Pdf 54

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng cùng với quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, công tác quản
lý Nhà nước đòi hỏi cũng phải có sự thay đổi, cải cách nhằm thích nghi cũng
như phát triển kịp với xu hướng phát triển chung. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng
nói:“Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm
việc gì cũng khó”. Chính vì vậy, để công tác quản lý Nhà nước từ Trung ương
đến địa phương hoạt động một cách có hiệu quả, đòi hỏi đội ngũ cán bộ công
chức phải tài đức vẹn toàn. Trên thực tế, đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta đã
ngày càng được nâng cao về chất lượng thông qua các hoạt động nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp, lý luận chính trị, sức khỏe,… Tuy nhiên, bên cạnh đó
chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức vẫn còn tồn tại không ít những hạn
chế, yếu kém, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác quản lý Nhà
nước.
Đây chính là lý do, em xin lựa chọn đề tài: “Thực trạng chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội” nhằm làm
rõ thực tế những mặt đạt được và cho thấy những hạn chế, yếu kém để có các
giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng đối với đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã tại huyện Phúc Thọ nói riêng và đối với đội ngũ cán bộ, công chức
trong cả nước nói chung.

1


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Cán bộ công chức
Các nước khác nhau thì khái niệm về cán bộ công chức cũng khác nhau, đa
số các nước đều giới hạn cán bộ, công chức trong phạm vi bộ máy hành chính
nhà nước. Ở nước ta, phù hợp với thể chế chính trị và tổ chức bộ máy nhà nước,

2


- Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
- Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh;
- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ;
- Chủ tịch Hội Nông dân (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động
nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);
- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh.
Công chức cấp xã (do cấp huyện quản lý)có các chức danh:
- Trưởng Công an;
- Chỉ huy trưởng Quân sự;
- Văn phòng - thống kê;
- Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn)
hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã);
- Tài chính - kế toán;
- Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội.
1.1.3 Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
Theo tiêu chuẩn đo lường chất lượng Việt Nam (TCVN-ISO 8402) định
nghĩa: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho
thực thể (đối tượng) có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu
cầu tiềm ẩn”.
Chất lượng của đội ngũ công chức bao gồm:
- Chất lượng của từng công chức: Cụ thể là phẩm chất chính trị, đạo đức;
trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Chất lượng của từng công
chức là yếu tố cơ bản để tạo nên chất lượng của cả đội ngũ.
- Chất lượng của cả đội ngũ với tính chất là một chỉnh thể, thể hiện ở cơcấu

luật của Nhà nước, không dao động trước những khó khăn, thử thách.Nghiêm
chỉnh chấp hành đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà
nước, kiên quyết chống lại mọi lệch lạc, biểu hiện sai trái trong đời sống xã hội
đi ngược với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà
nước.
- Phẩm chất đạo đức
Bản chất Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân,
do đó, người cán bộ, công chức với tư cách là công bộc của dân, không được
4


phép độc đoán, chuyên quyền ở bất cứ cương vị chức trách nào trong bộ máy
nhà nước. Việc đề cao đạo đức của cán bộ, công chức cấp xã được xác định là
tiêu chí hàng đầu để đánh giá chất lượng của đội ngũ cán bộ,công chức cấp xã.
Đạo đức của người cán bộ, công chức gồm 2 mặt cơ bản: Đạo đức cá nhân và
đạo đức công vụ.
1.2.3 Trí lực
- Tiêu chí về trình độ văn hóa: Trình độ văn hoá của là trạng thái hiểu biết
cao hay thấp của người lao động đối với những kiến thức phổ thông. Trình độ
văn hóa là mức độ học vấn, giáo dục mà một người đạt được.
- Tiêu chí về trình độ chuyên môn: Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, kiến
thức và kỹ năng thực hành về một nghề nghiệp nhất định. Tuy nhiên khi xem xét
về trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức cấp xã cần lưu ý sự phù hợp giữa
chuyên môn đào tạo với yêu cầu thực hiện công việc.
-Trình độ lý luận chính trị: Lý luận chính trị là cơ sở xác định quan điểm, lập
trường giai cấp công nhân của cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công
chức chính quyền cấp xã nói riêng.
-Trình độ quản lý nhà nước: quản lý nhà nước là hệ thống tri thức khoa học
về quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước. Quản lý vừa là hoạt động khoa
học, vừa là hoạt động nghệ thuật, cho nên yêu cầu các cán bộ, công chức phải

Bảng 1: Số liệu về khám sức khỏe định kỳ cho đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã tại huyện Phúc Thọ giai đoạn 2014 - 2016
Đơn vị tính: Người
Năm 2014

Năm 2015

Năm 2016

Số
lượng

Tỷ lệ
(%)

1. Thực hiện khám
SKĐK
Số người được khám

402

100

421

100

459

100

219
421
400
8

52
100
95
2

129
459
450
9

28
100
98
2

Nội dung

Loại V

4

Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ
lượng (%) lượng (%)

1

chức cấp xã. Đặc biệt chú trọng giám sát nội dung về đạo đức công vụ, văn hóa
công sở, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
2.2.2.2 Thực hiện công tác đánh giá và phân loại cán bộ, công chức cấp xã
Việc đánh giá cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Phúc Thọ được thực hiện
như sau:
Về tiêu chí đánh giá: Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008,
tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức cấp xã tương tự như tiêu chí đánh giá cán
bộ, công chức và được phân loại như sau:
Thứ nhất, đối với tất cả công chức trong bộ máy hành chính nhà nước,bao
gồm:
(1) Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước;
(2) Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc;
(3) Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;
(4) Tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ;
7


(5) Tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ;
(6) Thái độ phục vụ nhân dân
Thứ hai, đối với cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý ngoài các tiêu chí đánh
giá như trên còn được đánh giá bổ sung các tiêu chí sau:
(1) Kết quả hoạt động của đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý;
(2) Năng lực lãnh đạo, quản lý;
(3) Năng lực tập hợp, đoàn kết công chức.
Như vậy có thể thấy, việc áp dụng những tiêu chí đánh giá riêng đối với các
cán bộ, công chức giữ chức danh quản lý là phù hợp đề cao được tính trách
nhiệm của người đứng đầu các đơn vị hành chính nhà nước. Tuy nhiên có thể
thấy rằng, nội dung đánh giá đưa ra còn chung chung, rất khó lượng hết được kết
quả, hiệu suất công tác của cán bộ, công chức nói chung và của cán bộ, công

vụ
nhiệm vụ
Số
Năm Tổng số lượng

Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ Số Tỷ lệ
(%) lượng (%) lượng (%) lượng (%)

2014

402

64

16

245

61

60

15

33

8

2015


28

6

18

4

(Nguồn: Phòng nội vụ huyện Phúc Thọ)
Số liệu ở bảng 2 cho thấy, số lượng cán bộ, công chức cấp xã hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao luôn chiếm tỷ lệ cao nhất (năm 2014 có 245 người chiếm
61%; năm 2015 có 274 người chiếm 65% và năm 2016 có 275 người chiếm
60%); số cán bộ, công chức cấp xã không hoàn thành nhiệm vụ chiếm tỷ lệ rất
nhỏ và đồng thời có chiều hướng giảm dần qua các năm (năm 2014 có 33 người
không hoàn thành nhiệm vụchiếm 8%,năm 2015 có 20 người chiếm 5% và đến
năm 2016 có 18 người chiếm 4% ,giảm 15 người so với năm 2014); số cán bộ,
công chức cấp xã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ có tỷ lệ không cao và có sự thay
đổi theo chiều hướng rất tích cực qua các năm (năm 2014 có 64 người chiếm
16% , năm 2015 có 72 người chiếm 17% và đến năm 2016 có 138 người chiếm
30% ,tăng so với năm 2014 là 74 người).
Qua các số liệu phân tích trên có thể thấy rằng, tâm lực của đội ngũ cán bộ
công chức cấp xã tại huyện Phúc Thọ đã có những thay đổi vượt bậc theo hướng
tích cực. Để đạt được điều này, không chỉ có vai trò của các cấp quản lý mà còn
có sự phối hợp hoạt động cũng như ý thức ngày càng được nâng cao của đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã.
2.2.3 Trí lực
2.2.3.1 Trình độ văn hóa
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng cũng như việc đẩy mạnh sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng và Nhà nước như hiện nay, mặt bằng
9

96
4

459
0

100
0

7
402

1.74
100

0
421

0
100

0
459

0
100

(Nguồn: Phòng nội vụ huyện Phúc Thọ)
Theo số liệu ở bảng 3, số lượng cán bộ, công chức cấp xã có trình độ văn hóa
bậc trung học phổ thông chiếm tỷ lệ cao và có xu hướng tăng lên qua các


Tỷ lệ Số Tỷ lệ
(%) lượng (%)

Năm 2016
Số
lượng

Tỷ lệ
(%)

Trên đại học

0

0

0

0

0

0

Đại học

99

24.6


48.0

145

31.6

Sơ cấp

76

19.0

88

21.0

114

24.8

Chưa qua đào tạo

10

2.4

4

1

Bảng 5: Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
tại huyện Phúc Thọ giai đoạn 2014 - 2016
Đơn vị tính: người
Năm 2014
Trình độLLCT
Cử nhân

Năm 2015

Năm 2016

Số
Số
Số
Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ (%)
Tỷ lệ (%)
lượng
lượng
lượng
0

0

0

0

1


69.06

Sơ cấp

140

34.83

124

29.45

98

21.35

Chưa qua ĐT

62

15.42

76

18.05

41

8.93


Phúc Thọ giai đoạn 2014 - 2016
Đơn vị tính: Người
Dưới 30
Cơ cấu tuổi

Từ 30 đến 50

Số Tỷ lệ Số
lượng (%) lượng

Từ 50 đến 60

Tỷ lệ
(%)

Số
lượng

Tổng

Tỷ lệ Số Tỷ lệ
(%) lượng (%)

2014

35

8.7

261


53

11.5

275

59.9

131

28.6

459

100

(Nguồn: Phòng nội vụ huyện Phúc Thọ)
12


Theo số liệu ở bảng 6,giai đoạn 2014-2016, tỷ lệ cán bộ, công chức cấp xã
nằm trong nhóm độ tuổi từ 30 đến 50 và nhóm tuổi trên 50 chiếm tỷ lệ cao và có
xu hướng giảm nhẹ qua các năm. Cụ thể, nhóm tuổi 30 đến 50, năm 2014 có 261
người chiếm 65%, năm 2015 và năm 2016 chiếm tỷ lệ lần lượt là 62% và
59.9%; nhóm tuổi trên 50, năm 2014 có 146 người chiếm 36.3%, năm 2015 và
năm 2016 chiếm tỷ lệ lần người là 28.5 % và 28.6%.
Qua phân tích có thể thấy rằng, cơ cấu cán bộ, công chức cấp xã tại huyện
Phúc Thọ đang dần được trẻ hóa. Đội ngũ cán bộ, công chức trẻ đa phần đều có
có trình văn hóa và trình độ chuyên môn kỹ thuật tốt do được đào tạo một cách

342

Tỷ lệ (%)
74.5

Nữ

65

16.2

80

19

117

22.5

Tổng

402

100

421

100

459

cạnh đó, tỷ lệ cán bộ, công chức cấp xã có trình độ sơ cấp lý luận chính trị và
chưa qua đào tạo lý luận chính trị có xu hướng giảm dần.
Thứ tư, về mức độ hoàn thành công việc và sử dụng các kỹ năng nghề nghiệp
Phần lớn cán bộ, công chức cấp xã đã hoàn thành nhiệm vụ được giao đúng
tiến độ, đáp ứng được yêu cầu của công việc. Theo kết quả đánh giá cán bộ,
công chức cấp xã tại huyện Phúc Thọ về mức độ hoàn thành công việc, năm
2014 có 60% của cán bộ, công chức cấp xã hoàn thành tốt nhiệm vụ; 30% cán
bộ, công chức cấp xã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Thứ năm, về cơ cấu của cán bộ, công chức cấp xã
Về cơ cấu theo độ tuổi, đã có sự trẻ hóa trong đội ngũ cán bộ, công chức.
Về cơ cấu theo giới tính, đội ngũ cán bộ, công chức là nữ giới có số lượng
ngày càng tăng lên. Đây là bước ngoặc lớn trong công tác bình đẳng giới; đánh
dấu sự cải cách và phát triển không ngừng của chính quyền địa phương theo
đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước cũng như theo xu thế phát triển
chung của thế giới.
2.3.2 Những hạn chế
14


Thứ nhất, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Phúc Thọ có độ tuổi
dưới 30 tuy đã có xu hướng tăng lên nhưng vẫn chiếm tỷ lệ rất thấp (năm 2016,
số cán bộ, công chức cấp xã có độ tuổi dưới 30 chỉ chiếm 11.5%);
Thứ hai, Cơ cấu giới tính còn có sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ nam và nữ, chủ
yếu là nam giới chiếm tỷ lệ lớn (năm 2016 tỷ lệ cán bộ, công chức là nam giới
chiếm 74.5 %);
Thứ ba, mặc dù trong những năm gần đây trình độ chuyên môn của đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã có sự thay đổi theo hướng tích cực. Tuy nhiên, trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Phúc
Thọ vẫn còn thấp
Thứ tư, trình độ lý luận chính trị của cán bộ, công chức cấp xã tuy có được

hoạt động văn hóa, thể thao, rèn luyện sức khỏe về cả mặt thể chất lẫn tinh thần
một cách thường xuyên cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã;
Thứ tư, đổi mới và nâng cao chất lượng đánh giá, phân loại cán bộ, công
chức; nâng cao vai trò, trách nhiệm trong việc hướng dẫn, chỉ đạo, theo dõi,
đánh giá đội ngũ cán bộ, công chức; xây dựng kế hoạch, quy hoạch, làm tốt
công tác quy hoạch cán bộ, công chức; kiên quyết xử lý đối với cán bộ, công
chức trì trệ, không hoàn thành nhiệm vụ, kịp thời thay thế, luân chuyển và mạnh
dạn đề bạt công chức trẻ có năng lực, đủ sức đảm đương nhiệm vụ theo yêu cầu
mới;
Thứ năm, phối hợp thực hiện tốt việc giao ban định kỳ (theo tháng hoặc quý)
để nhận xét, đánh giá, hướng dẫn kịp thời công tác chuyên môn; xây dựng quy
chế và tăng cường công tác điều động, luân chuyển cán bộ, công chức cấp xã;
từng bước khắc phục tình trạng khép kín, cục bộ địa phương; tạo động lực cho
cán bộ, công chức tích cực làm việc, nỗ lực học tập, rèn luyện, phấn đấu vươn
lên, vừa củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cấp
xã vừa tạo sự liên thông trong đội ngũ cán bộ, công chức ở các cấp;
Thứ sáu, xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ, công chức cấp xã, đảm bảo công tác đào tạo, bồi dưỡng phải xuất phát từ
quy hoạch, gắn với sử dụng, đúng với ngạch và chức danh cán bộ, chú trọng bồi
dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ và kinh nghiệm giải quyết những tình
huống theo từng chức danh cán bộ, công chức cụ thể. Cử cán bộ, công chức
tham gia đào tạo;

KẾT LUẬN

16


Qua các phân tích trên, có thể thấy được rằng, thực trạng chất lượng của đội
ngũ cán bộ, công chức cấp xã tại huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status