GIÁO ÁN NGỮ VĂN LỚP 10
CHÍ KHÍ ANH HÙNG
( Trích “ Truyện Kiều” – Nguyễn Du)
A. Mục tiêu cần đạt:
Giúp HS:
- Hiểu được lí tưởng anh hùng của Nguyễn Du qua nhân vật Từ Hải.
-
Thấy được nghệ thuật tả người anh hùng trong đoạn trích.
B.
Phương pháp:
-
Đọc hiểu tích cực
-
Phát vấn
-
Đàm thoại gợi mở
C. Phương tiện:
SGK, SGV, giáo án
D. Trọng tâm bài học:
-
HĐ1: GV hướng dẫn HS tìm
Yêu cầu cần đạt
I.
Tìm hiểu chung
1.
Tóm tắt cuộc gặp gỡ giữa Từ Hải và Thúy Kiều
2.
Vị trí đoạn trích
hiểu chung về đoạn trích.
- GV hỏi: Em hãy tóm tắt
những nội dung chính của
phần Tiểu dẫn?
- HS suy nghĩ, trả lời
- GV nhận xét, chốt
Câu 2213 – 2230
HĐ2: Hướng dẫn đọc hiểu
khái quát
II. Đọc hiểu khái quát
1.Đọc, chú giải từ khó
- GV gọi 1 HS đọc diễn cảm
-
GV hỏi: Theo em nên chia
đoạn trích này thành mấy
phần? Nêu nội dung chính của
từng phần?
-
HS trả lời
-
GV gọi HS bổ sung
-
GV chốt
-
P1: 4 câu thơ đầu→ Cuộc chia tay giữa Từ Hải và
Thúy Kiều sau nửa năm chung sống
-
P2: 12 câu thơ tiếp→ Cuộc đối thoại giữa Thúy Kiều
và Từ Hải – tính cách anh hùng của Từ
-
-
GV bình:
4 câu đầu:
Thời điểm Từ Hải ra đi lập
nên sự nghiệp lớn cũng chính
là lúc cuộc sống lứa đôi với
Thúy Kiều mới đang bắt đầu
-
Thúy Kiều và Từ Hải đang có cuộc sống vô cùng
hạnh phúc “hương lửa đương nồng”
3
và vô cùng mặn nồng hạnh
phúc. Đó là cuộc sống của
“Trai anh hùng, gái thuyền
quyên
Phỉ nguyền sánh phượng đẹp
duyên cưỡi rồng”. Thúy Kiều
là tri kỉ của anh hùng, Từ Hải
là tri kỉ của giai nhân, họ đã
nhận ra nhau ngay từ buổi đầu
gặp gỡ “ Cười rằng “ Tri kỉ
trước sau mấy người”. Thế
là thiên hạ thế giới. Theo Kinh
lễ, xưa sinh con trai, người ta
làm cái cung bằng cây dâu,
-
Thoắt: dứt khoát, mau lẹ,nhanh chóng.
-
Động lòng bốn phương: trong lòng náo nức chí tung
hoành ở bốn phương
tên bằng cỏ bồng gọi tắt là
tang bồng, bắn ra bốn
-
Lên đường thẳng rong: đi liền một mạch
phương, tượng trưng cho
mong muốn sau này người con
trai làm nên sự nghiệp lớn.
Nên khi nói đến lòng bốn
phương là nói đến chí tang
bồng, chí làm trai của nam tử
thời xưa.Ngày xưa chí làm trai
là phải “xuống Đông, Đông
tĩnh, lên Đoài, Đoài yên”.
Chính Nguyễn Công Trứ cũng
không gian mênh mang cao
rộng của trời đất: “Trông vời
trời bể mênh mang”Câu thơ
miêu tả hành động nhìn ra xa,
đồng thời khắc hoạ dáng vẻ
phóng khoáng của Từ Hải.
Nguyễn Du đã xây dựng hình
ảnh Từ Hải song song, sánh
ngang với hình ảnh trời đất.
Nhắc đến Từ Hải là thấy hình
ảnh cao rộng của trời đất, vũ
trụ. Những từ láy, từ biểu cảm
chỉ độ rộng, độ cao càng khắc
hoạ rõ hơn tư thế của Từ Hải.
Cái nhìn của chàng không
phải là trông hay nhìn bình
thường mà là “trông vời” cái nhìn ẩn chứa sự sáng suốt
và suy nghĩ phi thường.
6
Từ Hải một mình ra đi thực
hiện ý nguyện của mình. Việc
xây dựng Từ Hải độc lập một
mình không làm chân dung
chàng đơn độc mà càng cho
thấy sự dũng mãnh của chàng.
Hành động được miêu tả đầy
sự dứt khoát, nhanh nhẹn. Đã
nghĩ là làm, Từ Hải không bao
HS trả lời
GV nhận xét, chốt ý
=> Từ Hải không phải là con người của những đam mê
thông thường mà là con người của khát vọng công
danh.
2. 12 câu tiếp:
(GV có bình thêm về chữ
“tòng” trong quan niệm của
Nho giáo)
a. Lời Thúy Kiều:
- Xưng hô: Chàng – thiếp: tình cảm vợ chồng mặn
GV bình: Trước khi gặp Từ
nồng, tha thiết.
Hải Kiều đã trải qua một cuộc
- Phận gái chữ tòng: bổn phận của người vợ phải theo
sống vô cùng đau khổ trong
chồng.
cảnh “ Thanh y hai lượt,
- Một lòng xin đi: quyết tâm theo Từ Hải
GV yêu cầu HS đọc toàn bộ
những câu lời của TH
GV: Trước thái độ của TK như
vậy, TH đã trả lời ra sao?
HS phát hiện, trả lời.
GV nhận xét, chốt
GV giải thích cụm “ tâm phúc
tương tri”: hai người đã hiểu
biết lòng dạ nhau, tức là đã
=> Thúy Kiều không chỉ ý thức được bổn phận của
người vợ, thể hiện tình yêu với chồng mà còn hiểu,
khâm phục và kính trọng Từ Hải. Nàng xứng đáng là tri
kỉ của bậc anh hùng.
b. Lời Từ Hải
hiểu nhau sâu sắc.
* Lời đáp:
9
“Từ rằng: “Tâm phúc tương tri
GV bình: Trong lời đáp của
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình”
mình Từ Hải đã từ chối mong
muốn của Kiều và khẳng định
nàng ( một kĩ nữ lầu xanh” lên
ngang tầm với mình ( một vị
anh hùng). Đằng sau lời trách
ấy là ý chí dứt khoát, kiên
quyết,ko bị níu kéo bởi thê nhi
của TH.
GV: Sau khi từ chối TK, Từ
Hải muốn nói gì với nàng qua
bốn câu thơ tiếp theo?
HS trả lời
GV nhận xét, chốt
10
* Lời hứa:
“Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường.
GV bình: Nguyễn Du đã sử
Làm cho rỡ mặt phi thường,
dụng một loạt các từ ngữ, hình
ảnh thuộc phạm trù không
gian như “ mười vạn tinh
binh” với bóng cờ, tiếng
chiêng gợi nên khát vọng lớn
lao, tầm vóc vũ trụ của người
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.”
GV : Ngoài lời hứa trở về đón
TK, TH còn nói những gì với
TK qua 4 câu thơ tiếp.
→ Người anh hùng có chí khí, sự thống nhất giữa khát
HS trả lời
vọng phi thường và tình cảm sâu nặng với người tri kỉ.
(GV bình qua về lời khẳng
* 4 câu thơ tiếp:
định của TH)
GV nhận xét, chốt
“Bằng nay bốn bể không nhà,
Theo càng thêm bận biết là đi đâu?
12
Đành lòng chờ đó ít lâu
Chầy chăng là một năm sau vội gì!”
GV bình: Người ta học nghề
mất vài ba năm, phải mất
-
thấy hành động gì của TH?
=> Từ Hải không chỉ là người anh hùng có khát vọng,
chí khí lớn mà còn rất tự tin vào tài năng của mình.
13
HS trả lời
3. Hai câu cuối
GV nhận xét, chốt ý
“Quyết lời dứt áo ra đi,
Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi”
-
Hành động :
+ quyết lời
+ dứt áo ra đi
→thái độ, cử chỉ, hành động dứt khoát, không hề do dự,
không để tình cảm bịn rịn làm lung lạc và cản bước ý
chí người anh hùng
GV bình: Theo sách xưa kể
rằng chim bằng là một giống
-
bản lĩnh phi thường, thực hiện giấc mơ công lí).
sánh ngang đất trời, vũ trụ.
IV. Tổng kết
14
GV: Theo em Nguyễn Du đã
1.Nghệ thuật
gửi gắm điều gì qua nhân vật
* Bút pháp lí tưởng hóa :
TH?
HS trả lời
GV chốt
- Từ ngữ : trượng phu, thoắt...
- Hình ảnh kì vĩ, ước lệ: lòng bốn phương, trời bể...
2.Nội dung
Qua hình tượng nhân vật Từ Hải, Nguyễn Du thể hiện
quan niệm về người anh hùng lí tưởng và gửi gắm ước
GV bình: Trong KVK truyện,
mơ công lý.
TH chỉ đơn thuần là một tên
-
Soạn tiết 87: Đọc thêm “ Thề nguyền”
16