ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ THỊ QUỲNH
Tên chuyên đề:
“ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ
BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRANG TRẠI
ĐẶNG ĐÌNH DŨNG HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chính quy
Chuyên ngành:
Chăn nuôi Thú y
Lớp:
K46 - CNTY - N01
Khoa:
Chăn nuôi Thú y
Khóa học:
2014 - 2018
Khóa học:
2014 - 2018
Giảng viên hướng dẫn: TS. Phạm Thị Phương Lan
Thái Nguyên, năm 2018
i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tại trường, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình
của thầy cô trong trường, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y,
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Đến nay tôi đã hoàn thành chương
trình học tập và thực tập tốt nghiệp.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và lời cảm ơn sâu sắc tới Nhà
trường, các thầy cô giáo, bạn bè trong khoa Chăn nuôi Thú y. Đặc biệt, tôi xin
gửi lời cảm ơn tới TS. Phạm Thị Phương Lan, giảng viên Khoa Chăn nuôi
Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn tôi
trong thời gian thực tập để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ nhân viên trại lợn của ông Đặng Đình
Dũng - xã Tinh Nhuệ - huyện Thanh Sơn - tỉnh Phú Thọ đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi hoàn thành đề tài trong quá trình thực tập tại cơ sở.
Tôi xin cảm ơn bạn bè và người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên
tôi trong suốt thời gian học tập thực tập để hoàn thành đề tài này.
Trong quá trình thực tập, bản thân không tránh khỏi những thiếu sót.
Kính mong được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô để khóa luận của tôi
được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
: Kilôgam
KHKT
: Khoa học kỹ thuật
KST
: Ký sinh trùng
LMLM
: Lở mồm long móng
M
: Mét
Ml
: Mililit
Nxb
: Nhà xuất bản
STT
: Số thứ tự
2.2.3. Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi................................. 16
2.2.4. Hiểu biết về những bệnh thường gặp tại cơ sở .................................... 20
2.3. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước ..................................... 29
2.3.1. Các nghiên cứu trong nước ................................................................. 29
2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ....................................................... 30
Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU31
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.......................................................... 31
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................. 31
3.3. Nội dung tiến hành ................................................................................ 31
v
3.4. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi .................................................... 31
3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi ........................................................................... 31
3.4.2. Phương pháp thực hiện ....................................................................... 31
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu .................................................................. 35
Phần 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN....................................................... 36
4.1. Kết quả áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho lợn nái sinh sản
tại cơ sở ................................................................................................ 36
4.1.1. Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại qua 2 năm (2016 - 2017) .......... 36
4.1.2. Kết quả thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi tại trại ...... 37
4.1.3. Kết quả thực hiện một số biện pháp thủ thuật trên đàn lợn tại trại....... 38
4.2. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn ............................. 39
4.2.1. Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại .................... 39
4.2.2. Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn tại trại bằng thuốc và vắc xin .......... 41
4.3. Kết quả thực hiện điều trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại ........................ 43
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ........................................................... 46
5.1. Kết luận ................................................................................................. 46
5.2. Đề nghị ................................................................................................ 477
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài: "Áp dụng quy trình
chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con theo
mẹ tại trang trại Đặng Đình Dũng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ”.
2
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại Đặng Đình Dũng, huyện
Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái và lợn con
nuôi tại trại.
- Xác định tình hình mắc bệnh, áp dụng và đánh giá hiệu quả của quy
trình phòng, trị bệnh sinh sản cho đàn lợn nái, một số bệnh trên đàn lợn con
nuôi tại trại.
1.2.2. Yêu cầu
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại trang trại Đặng Đình Dũng,
huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái và lợn con
nuôi tại trại đạt hiệu quả cao.
- Xác định được tình hình mắc bệnh, áp dụng và đánh giá hiệu quả của
quy trình phòng, trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập
Mùa hè gió có hướng Đông và hướng Đông Nam với tần suất 60 - 70%.
Mùa đông gió có hướng Đông Bắc và hướng Bắc với tần suất 45 - 48%.
Với điều kiện như vậy tương đối thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển.
2.1.3. Tình hình sản xuất tại cơ sở thực tập
2.1.3.1. Cơ cấu tổ chức trại
Cơ cấu tổ chức gồm 3 nhóm:
+ Nhóm quản lý: 1 chủ trại, 1 quản lý, 1 bảo vệ
+ Nhóm kỹ thuật: 2 kỹ sư chính của công ty
+ Nhóm công nhân: 15 công nhân, 3 sinh viên thực tập thực hiện công
việc chuyên môn.
2.1.3.2. Cơ sở vật chất tại trại
Trang trại có tổng diện tích khoảng 9 ha, trong đó 4 ha sử dụng cho công
việc sản xuất, còn 5ha xây dựng các công trình phụ như khu công nhân, nhà
sát trùng,... và đồi núi. Trang trại nằm trên địa bàn xã Tinh Nhuệ, có địa hình
chủ yếu là đồi núi đá vôi nhưng đường giao thông đã được nâng cấp, thuận
tiện cho việc đi lại, vận chuyển.
Để đảm bảo công tác phát triển sản xuất chăn nuôi và sinh hoạt của công
nhân, trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật gồm:
Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn tập thể, các công
trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại.
Khu chăn nuôi có hàng rào bao bọc và có cổng vào riêng. Chuồng trại
được quy hoạch, bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp,
hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái và lợn đực, sàn nhựa
5
cho lợn con cùng với hệ thống nước tự động và máng ăn. Chuồng nuôi được
xây dựng đảm bảo đủ cho 1200 nái cơ bản, bao gồm:
+ 3 chuồng nái đẻ: Mỗi chuồng gồm khu A và B, mỗi khu gồm 2 dãy,
kho thuốc, 1 kho cám.
Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: tủ lạnh bảo quản vắc
xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc của trại, xe chở cám từ nhà kho
xuống các dãy chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và
ngoài chuồng nuôi.
2.1.3.3. Tình hình sản xuất tại trại
* Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến
bộ khoa học kỹ thuật. Trại mới được xây dựng và đưa vào sản xuất được hơn
một năm nên khả năng sản xuất của trại chưa được đánh giá cụ thể. Nái đều
mới bắt đầu đẻ lứa đầu tiên, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi,
chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa, sau khi cai sữa tiếp tục được chăm
sóc ở chuồng đẻ từ 5 -7 ngày, nếu lợn con khỏe mạnh ăn tốt sẽ được chuyển
xuống chuồng cai sữa nuôi đến khi đạt 10kg trở lên sẽ bắt đầu được chuyển
sang các trại lợn thịt của công ty cổ phần Mavin Austfeed. Theo đánh giá của
công ty cổ phần Mavin Austfeed thì mức độ của trại vào loại khá.
Trong trại có 21 con đực giống, trong đó 16 con đã có thể khai thác tinh,
4 con non mới nhập về và 1 con sử dụng làm đực thí tình cho nái. Các lợn đực
giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục lợn nái và khai thác
tinh để thụ tinh nhân tạo. Tinh lợn được khai thác từ 3 giống lợn là Landrace,
Yorkshire và Duroc. Lợn nái được phối lặp lại 3 lần.
Thức ăn cho lợn nái, lợn đực, và lợn con là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có
chất lượng cao, được công ty cổ phần Mavin Austfeed cung cấp cho từng đối
tượng lợn của trại.
7
* Công tác vệ sinh thú y
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại sản xuất lợn giống luôn
Được Công ty Cổ phần Chăn nuôi Mavin Austfeed cung cấp về con
giống, thức ăn và thuốc uống có chất lượng tốt.
Trại được xây dựng tại vị trí thuận lợi: Xa khu dân cư, thuận tiện đường
giao thông.
Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn
quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân.
Đội ngũ cán bộ kỹ thuận có chuyên môn vững vàng; đội ngũ công nhân
rất nhiệt tình, năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Do
đó đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại.
* Khó khăn
Đội ngũ công nhân trong trại còn thiếu về số lượng, là trại mới nên công
nhân đều là những người mới vì vậy chưa có kinh nghiệm làm việc. Do đó
ảnh hưởng đến tiến độ công việc.
Trang thiết bị, vật tư, hệ thống chăn nuôi còn thiếu, chưa đáp ứng được
nhu cầu sản xuất.
Trong những năm gần đây, thời tiết tiếp diễn phức tạp kèm theo dịch
bệnh khó kiểm soát, gây khó khăn cho chăn nuôi. Những khó khăn trên đòi
hỏi trại phải đẩy mạnh công tác phòng, chống dịch bệnh và nâng cao sức đề
kháng cho đàn lợn tại trang trại.
2.2. Cơ sở tài liệu có liên quan đến chuyên đề
2.2.1. Đặc điểm sinh lý và sinh dục của lợn nái
2.2.1.1. Sự thành thục về thể tính và thể vóc
- Sự thành thục về tính:
Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và
có khả năng sinh sản. Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã
phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục. Con
cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối.
9
10
- Sự thành thục về thể vóc:
Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [13], tuổi thành thục về thể vóc là
tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc
ổn định. Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục
về tính. Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu
tiên. Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong
giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn
mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt,
nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương
chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ. Điều này ảnh hưởng đến năng
suất sinh sản của lợn nái sau này do đó không nên cho phối giống quá sớm.
Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên
cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 110 kg mới nên cho phối.
2.2.1.2. Chu kỳ động dục
Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [35]: Lợn nái sau khi thành thục về
tính thì bắt đầu biểu hiện động dục, lần thứ nhất biểu hiện không rõ ràng, cách
sau đó 15 - 16 ngày động dục trở lại, lần này biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó
đi vào quy luật mang tính chu kỳ.
Chu kỳ động dục lợn nái trung bình là 21 ngày (18 - 24 ngày). Một chu
kỳ tính của lợn nái thường chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn trước động dục: Thường kéo dài 1 - 2 ngày và được tính từ khi
thể vàng của động dục trước khi tiêu biến đến lần động dục tiếp theo. Đây là
giai đoạn chuẩn bị cho đường sinh dục cái tiếp nhận tinh trùng, đón nhận trứng
rụng và thụ tinh.
Giai đoạn động dục: Kéo dài từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 3, gồm có 3
thời kỳ nhỏ là hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực.
12
- Quy trình chăm sóc:
Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ. Tẩy rửa
vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn
con và lợn mẹ. Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh
sáng. Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn
nái vào đẻ. Chuồng đẻ cần phải trải đệm lót, có che chắn và thiết bị sưởi ấm
trong những ngày mùa đông giá rét. Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh lợn nái
sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên người, dùng
khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ. Làm như vậy tránh được
nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi
khuẩn gây bệnh. Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chúng ta chuyển nhẹ
nhàng từ chuồng bầu sang chuồng đẻ để lợn quen dần với chuồng mới.
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan
trọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con. Ô úm tạo điều kiện để khống
chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng
mùa đông. Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn
con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không bị lợn
mẹ húc đẩy vào ăn thức ăn của lợn con. Vào ngày dự kiến đẻ phải chuẩn bị
xong ô úm cho lợn con. Kích thước ô úm: 1,2 m x 1,5 m. Ô úm được cọ rửa
sạch, phun sát trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh.
Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân nhiệt
lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện sát nhau, sốt sữa
hoặc nhiễm trùng... để có biện pháp xử lý kịp thời.
2.2.2.2. Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con
- Quy trình nuôi dưỡng:
Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có tác động tốt đến
sản lượng và chất lượng sữa. Đó là các loại thức ăn xanh non như rau xanh,
ngày, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc
đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên. Trong chăn nuôi công
14
nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận
động, vì vậy cần phải chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt
các chất khoáng và vitamin.
Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo,
sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt, hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại,
máng ăn, máng uống sạch sẽ. Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 20 0C,
độ ẩm 70 - 75%.
2.2.2.3. Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ
- Đặc điểm về sinh trưởng, phát dục:
Theo Trần Văn Phùng và cs 2004 [25], so với khối lượng sơ sinh thì
khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp
4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần,
lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần.
Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều
qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần. Có sự giảm này
là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và
hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm. Thời gian bị giảm
sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của
lợn con. Chúng ta hạn chế sự khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm. Do lợn
con sinh trưởng nhanh nên quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh.
Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14 gam
protein/1 kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được
0,3 - 0,4 gam protein/1 kg khối lượng cơ thể.
- Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa
thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do
sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị.
- Đặc điểm về cơ năng điều tiết của lợn con:
Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não
của lợn con chưa phát triển hoàn thiện. Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng
lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm).
16
Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh
nên thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa đạt
cân bằng. Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ
glycogen dự trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa,
mặt khác diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương
đối cao nên lợn con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con
chống rét còn thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi.
- Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con
Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể. Lượng kháng
thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ. Cho nên khả
năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng
kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ.
Theo Trần Văn Phùng và cs 2004 [25], trong sữa đầu của lợn mẹ hàm
lượng protein rất cao. Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa
chiếm 18 - 19%, trong đó lượng γ - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 35%). Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọng
đối với khả năng miễn dịch của lợn con, do đó lợn con cần được bú sữa đầu
càng sớm càng tốt. Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày
tuổi mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được bú
sữa đầu thì sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao.
2.2.3. Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [15], vắc xin là một
chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một
bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố
hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô
độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học
phân tử (vắc-xin thế hệ mới, vắc-xin công nghệ gen). Lúc đó chúng không
18
còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể
động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch
chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng.
Khi đưa vắc-xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay
mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc-xin) mới có miễn dịch.
2.2.3.2. Điều trị bệnh
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [15]
- Nguyên tắc để điều trị bệnh là:
+ Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc.
+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán chính xác bệnh để sớm lành bệnh và
hạn chế lây lan.
+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng.
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ
thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị
tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền.
+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể
chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm. Nếu chữa kéo dài, tốn kém
vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa.
+ Những bệnh nguy hiểm cho người không có thuốc chữa thì không nên chữa.
- Các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là: