Chuyên đề tiến sỹ - Những vấn đề lý luận về đổi mới đào tạo giáo viên ở trường Đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục – Đào tạo - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÍ GIÁO DỤC
----------˜˜˜---------

TRƯƠNG TẤN ĐẠT

CHUYÊN ĐỀ TIẾN SĨ

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ ĐỔI MỚI ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI
CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO

CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ : 62. 14. 01. 14

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. Đặng Thị Thanh Huyền
2. PGS.TS. Nguyễn Văn Đệ

Hà Nội - Năm 2016


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................................1
1. Những nội dung cơ bản của đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo ở Việt
Nam....................................................................................................................................2
1.1. Những quan điểm đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo.......................2
1.2. Những quan điểm về đổi mới chương trình, sách giáo khoa...................................5
1.3. Định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông...........................................6
2. Vai trò của các trường đại học đối với đào tạo nguồn nhân lực trong bối cảnh đổi mới

ĐTGV

: Đào tạo giáo viên

ĐNGV

: Đội ngũ giáo viên

GDPT

: Giáo dục phổ thông

GD&ĐT

: Giáo dục và Đào tạo

GDNN

: Giáo dục nghề nghiệp

GV

: Giáo viên

NLTH

: Năng lực thực hiện

SV


1. Những nội dung cơ bản của đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục
- đào tạo ở Việt Nam
1.1. Những quan điểm đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo
Một số nội dung cần nhấn mạnh trong quá trình triển khai thực hiện
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng (khóa XI) về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa”[Bộ GD&ĐT (2015), “Đổi mới công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên phổ thông của các cơ sở ĐTGV”]:
(1). Đổi mới toàn diện là đổi mới những vấn đề cấp thiết, từ quan điểm,
tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện
đảm bảo thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước
đến các hoạt động quản trị của cơ sở giáo dục đào tạo và việc tham gia của gia
đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học,
ngành học.
Cơ sở ĐTGV cần triển khai đổi mới toàn diện các hoạt động của đơn vị
theo tinh thần của nghị quyết: từ nhận thức, tư tưởng của từng cán bộ, giảng
viên; thống nhất quan điểm chỉ đạo trong các tổ chức, bộ phận của đơn vị; đổi
mới mục tiêu đào tạo, phương thức đào tạo; đánh giá chất lượng đào tạo; đổi
mới cơ chế quản lý và chính sách đãi ngộ phát triển đội ngũ …
(2). Đổi mới căn bản là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, đổi mới về
chất, đổi mới từ gốc rễ, đổi mới có tính chất bước ngoặt với tinh thần và thái
độ kiên quyết để tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo
dục. Nội dung cốt lõi của đổi mới căn bản (căn bản của căn bản):
2


- Đổi mới cách tiếp cận mục tiêu giáo dục: Chuyển trọng tâm quá trình
giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức, kỹ năng sang phát triển toàn diện
phẩm chất và năng lực người học. Cơ sở ĐTGV cần chuyển từ trang bị nội

cho giảng viên tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học, đẩy mạnh hoạt động
nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng trong cơ sở ĐTGV; giảng viên được
bồi dưỡng, tự bồi dưỡng tăng cường năng lực tổ chức các hoạt động đào tạo,
phương pháp kiểm tra đánh giá mới, tăng cường các hoạt động thực tiễn …
Đổi mới cơ chế quản lý theo hướng dân chủ hóa, phát huy sức mạnh tập
thể, sức mạnh từng cá nhân. Nghị quyết 29/NQ-TW nêu rõ yêu cầu “ Đổi mới
căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất;
tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi
trọng quản lý chất lượng”. Cơ sở ĐTGV được giao quyền tự chủ (Quy định tại
Điều 32 Luật giáo dục đại học, Điều 5 Quyết định 70/2014/TTg ban hành Điều
lệ trường đại học, Thông tư số 01/2015/TT-BGDĐT ban hành Điều lệ trường
cao đẳng) vì vậy cần thực hiện quyền tự chủ theo hướng đổi mới:
Xác định rõ mục tiêu, chiến lược và kế hoạch phát triển của nhà trường
phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo và đổi mới GDPT: xây dựng,
công bố chuẩn đầu ra, chương trình đào tạo, khẳng định công khai chất lượng
giáo dục, công khai chiến lược phát triển của nhà trường …;
Tổ chức các khoa, các phòng, ban trên cơ sở xác định chức năng,
nhiệm vụ phù hợp với thực hiện mục tiêu, chương trình đào tạo mới, thành lập
bộ máy tổ chức, phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý trên cơ sở chiến
lược và quy hoạch phát triển nhà trường;
Quản lý đội ngũ giảng viên trên tinh thần quản lý năng lực và hiệu quả
công việc, tránh “chủ nghĩa bình quân”; chú trọng gắn hoạt động đào tạo với
quy hoạch nguồn nhân lực giáo dục phổ thông của từng địa phương để tiến tới
khắc phục tình trạng đào tạo thừa, thiếu cục bộ.

4


Các cơ sở ĐTGV cần phối hợp với nhau để đổi mới công tác đào tạo sư
phạm nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, tuy nhiên, phải chú

phù hợp với đối tượng và vùng miền.
1.3. Định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
1.3.1. Xây dựng chương trình theo hướng phát triển năng lực
Chương trình mới tiếp cận theo hướng hình và phát triển năng lực cho
người học; không chạy theo khối lượng tri thức mà chú ý khả năng vận dụng
tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, động cơ… vào giải quyết
các tình huống trong cuộc sống hàng ngày.
Tiếp cận theo hướng năng lực đòi hỏi học sinh làm/vận dụng được gì
hơn là học sinh biết những gì. Tránh được tình trạng biết rất nhiều nhưng
làm/vận dụng không được bao nhiêu; biết những điều rất cao siêu, nhưng
không làm được những việc rất đơn giản trong cuộc sống thường nhật…
1.3.2. Đổi mới toàn bộ các thành tố của quá trình dạy học
Do đổi mới cách tiếp cận nên hệ quả là toàn bộ các thành tố của chương
trình giáo dục thay đổi:
- Mục tiêu thay đổi;
- Nội dung, cấu trúc của chương trình tổng thể và chương trình môn
học thay đổi;
- Phương pháp dạy học thay đổi;
- Kiểm tra, đánh giá thay đổi.
1.3.3. Chương trình được xây dựng hệ thống và nhất quán
Chương trình mới được thiết kế thành một hệ thống xuyên suốt và nhất
quán từ lớn 1 đến lớp 12; sẽ tránh được những hạn chế của chương trình hiện
hành: bớt được sự trùng lặp, thấy được sự phát triển rõ từ thấp đến cao, bổ
sung được những nội dung mới do cuộc sống yêu cầu… góp phần hạn chế
quá tải.

6


1.3.4. Chương trình vừa bảo đảm nền tảng cơ bản và phân hóa sâu

thông. Pháp chế hóa các hoạt động tổ chức, chỉ đạo và giám sát quá trình đổi
mới chương trình và sách giáo khoa; chú trọng phát triển nguồn lực cho việc
xây dựng chương trình và sách giáo khoa; chú ý tới điều kiện và đối tượng
vùng/miền.
Trong định hướng xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới, hai
vấn đề được quan tâm nhiều đó là các chuyên đề học tập và hoạt động trải
nghiệm sáng tạo.
2. Vai trò của các trường đại học đối với đào tạo nguồn nhân lực
trong bối cảnh đổi mới và hội nhập
2.1. Trường đại học trong hội nhập quốc tế và xu thế toàn cầu hóa
Bước vào thế kỷ 21 cùng với quá trình gia tăng quy mô giáo dục đại
học (GDĐH) trên phạm vi toàn thế giới từ 14 triệu sinh viên (1960) lên hơn
90 triệu sinh viên, hiện nay vai trò và vị trí của hệ thống GDĐH nói chung và
các cơ sở ĐTGV nói riêng đã có những thay đổi căn bản.
Trong bối cảnh sôi động của các xu hướng phát triển của đời sống xã
hội hiện đại, GDĐH ở các nước đã và đang phải đối mặt với nhiều cơ hội và
thách thức to lớn đặc biệt là vấn đề giải quyết các mối quan hệ giữa quy mô chất lượng và hiệu quả đào tạo; giữa đào tạo và nghiên cứu, dịch vụ; giữa nhu
cầu và nguồn lực cho phát triển.v.v. Để giải quyết các yêu cầu đó GDĐH ở
các nước đã và đang thực hiện các cuộc đổi mới sâu rộng với các xu hướng
sau [Phạm Đỗ Nhật Tiến (2013), “Đổi mới đào tạo giáo viên trước yêu cầu
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam”, NXB Giáo dục Việt Nam,
tr34-39]:
(1) Xu hướng đại chúng hóa: Chuyển từ giáo dục tinh hoa (Elite) sang
giáo dục đại chúng và phổ cập (Massification & Univerzalization). Qui mô
GDĐH tăng nhanh.
(2) Xu hướng đa dạng hoá (Diversification): Phát triển nhiều loại hình
trường với cơ cấu đào tạo đa dạng về trình độ và ngành nghề theo huớng hàn
8



Một trung tâm học tập có chất lượng, hiệu quả, dựa vào đó những
người tốt nghiệp có ý chí học tập suốt đời, có ý thức trách nhiệm vận dụng
kiến thức đã học phục vụ cho sự phát triển xã hội.
Một trung tâm tham gia giải quyết một cách khoa học những vấn đề
của địa phương, khu vực và thế giới.
Một trung tâm tư vấn khoa học cho các cấp chính quyền và các cơ
quan nhằm đưa ra những quyết định đúng đắn, đáng tin cậy.
Một cộng đồng gắn bó với những nguyên tắc của tự do ĐH, tham gia
tích cực vào xây dựng văn hóa hòa bình.
Một cộng đồng trong đó sự hợp tác giữa công nghiệp, dịch vụ cho sự
phát triển kĩ thuật đất nước và khu vực được khuyến khích và bảo vệ tích cực.
Một nhà trường thích ứng với những nhịp điệu của cuộc sống hiện đại
với những nét riêng biệt của từng vùng và của từng nước.
Vai trò của nhà trường ĐH trong nền giáo dục hiện đại với những yêu
cầu đặt ra trên đây, có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ hệ thống tổ chức và qui
trình đào tạo. Nó đòi hỏi các trường ĐH phải nhanh nhạy chuyển từ đào tạo
diện hẹp sang đào tạo diện rộng để phục vụ sự phát triển KT - XH; thích nghi
và đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà
nước theo định hướng XHCN. Mặt khác, các trường ĐH cần bám sát thực
tiễn, nhu cầu xã hội và tính đặc thù của các địa phương để triển khai công tác
đào tạo, NCKH ứng dụng nhằm đáp ứng tốt nhu cầu đa dạng của các quốc gia
và vùng lãnh thổ.
Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) vào cuối năm 2006; từ việc tham gia Hiệp hội
các quốc gia Đông Nam Á và tiến tới thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN
2015. Nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế
thế giới với nhiều cơ hội và thách thức. Trên thực tế, giáo dục Việt Nam cũng
đang chuyển mình theo hướng hội nhập. Khái niệm “đổi mới” đang trở thành
10



2.2. Đào tạo nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập
quốc tế
Khi đề cập đến đào tạo nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường,
người ta thường quan tâm đến một số qui luật của kinh tế thị trường là: Qui
luật cung - cầu, qui luật cạnh tranh, qui luật giá trị.
Cung - cầu nhân lực qua đào tạo được thể hiện thông qua mối quan hệ
giữa đào tạo và sử dụng nhân lực. Nhu cầu về nhân lực là nhu cầu về số
lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề cho những loại công việc trong xã
hội, theo yêu cầu của thị trường lao động, những cơ sở sử dụng lao động và
nhu cầu của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Nhu cầu về nhân lực biến động
trong từng thời kỳ dưới tác động của sự phát triển KT-XH và sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của từng vùng, địa phương.
Cung về nhân lực là khả năng cung ứng của hệ thống đào tạo nhân lực
cho thị trường lao động và các đơn vị sử dụng lao động về số lượng, cơ cấu và
chất lượng lao động. Cung về nhân lực được quyết định bởi nhu cầu đào tạo
của cá nhân, phụ thuộc trình độ phát triển của quốc gia, ngân sách nhà nước
đối với phát triển đào tạo nhân lực trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và
mục tiêu phát triển con người, hệ thống thể chế trong đào tạo nhân lực và
trình độ phát triển của nền kinh tế.
Qui luật cung - cầu trong điều kiện kinh tế thị trường đòi hỏi phải gắn
đào tạo với nhu cầu lao động trên thị trường lao động. Để thích ứng với kinh
tế thị trường, hệ thống giáo dục nghề nghiệp phải thỏa mãn lợi ích của tất cả
các bên tham gia thị trường lao động, đồng thời phải đảm bảo tính hiệu quả và
sự bình đẳng, công bằng xã hội trong giáo dục. Mọi thông tin về sự thay đổi
của cầu lao động về số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động trên thị trường
lao động đều phải được nhận biết, phân tích, xem xét và điều chỉnh trong đào
tạo nhân lực. Đây là sự thay đổi căn bản nhất của giáo dục nghề nghiệp trong
nền kinh tế thị trường so với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung thời bao cấp.
12

13


được chi tiết theo từng loại ngành/nghề đào tạo mà năng lực đào tạo của trường
đại học có thể đáp ứng.
Tiếp theo, dựa trên yêu cầu về chất lượng hay khung năng lực đầu ra cần
có của từng loại nhân lực theo ngành/nghề cần đào tạo của thị trường lao động,
trường đại học thiết kế nội dung chương trình đào tạo theo từng ngành/nghề mà
thị trường lao động cần; và từ đó xác định được cơ cấu và khung năng lực của
từng loại giảng viên để thực hiện thành công từng loại chương trình đào tạo.
Thứ ba, số lượng tuyển sinh được xác định dựa trên số lượng của từng
loại nhân lực mà thị trường lao động cần và năng lực đào tạo của trường đại
học có thể đáp ứng.
Cuối cùng, xác định các điều kiện đảm bảo để thực hiện thành công
chương trình đào tạo, như: số lượng giảng viên căn cứ tỷ lệ giảng viên/sinh
viên; cơ cấu giảng viên dựa trên cấu trúc nội dung của chương trình đào tạo; và
cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, tài chính... dựa trên đặc trưng của chương trình
đào tạo theo ngành/nghề.
Để đáp ứng nhu cầu thị trường, đào tạo nghề phải tuân theo các quy
luật của thị trường, đó là:
- Qui luật cạnh tranh của thị trường lao động thể hiện ở việc ai có khả
năng đáp ứng các yêu cầu lao động nghề nghiệp mà người sử dụng lao động
đòi hỏi sẽ là người có nhiều cơ hội việc làm trong thị trường lao động. Các cơ
sở GDNN phải tuân theo qui luật cạnh tranh để tồn tại và phát triển, tất nhiên
sự cạnh tranh phải lành mạnh thông qua việc đào tạo có chất lượng và tạo
động lực cho sự phát triển.
- Qui luật giá trị trong thị trường lao động đòi hỏi GDNN phải lấy chất
lượng đào tạo là sự sống còn và xem đào tạo là sự gia tăng giá trị của nhân lực
để giành lợi thế trong thị trường lao động. Sư linh hoạt và thích ứng của thị
trường lao động đòi hỏi giáo dục nghề nghiệp phải thường xuyên điều chỉnh

nghiên cứu và đào tạo thế hệ các giảng viên và nhà nghiên cứu là một nhiệm
vụ khác. Hiện nay, các sơ sở đào tạo đại học buộc phải nâng cao chất lượng
15


giảng dạy cho phù hợp hơn với người học và nhu cầu của thị trường lao động,
cung cấp nghiên cứu và phát triển cho sự phát triển của doanh nghiệp và cộng
đồng, góp phần quốc tế hóa và cạnh tranh quốc tế.
Bản chất của GDĐH là kiến tạo tri thức và thực hành phổ biến tri thức.
Bất kì một hoạt động nào về giáo dục, đặc biệt là việc ĐTGV, các bước hoạch
định nguồn nhân lực, các chiến lược quản lí, xây dựng mô hình, cơ cấu ngành
đào tạo đều xem đấy là xuất phát điểm cho một hệ thống các qui trình, các lộ
trình phát triển dài hạn, trung hạn hay ngắn hạn.
Chúng ta lại đang ở thế kỉ XXI, thế kỉ của xã hội thông tin, của tri thức
hiện đại, và của nền kinh tế với những sản phẩm của nó tích hợp một hàm
lượng chất xám cao. Trong bối cảnh đó, chắc chắn phải xây dựng và phải có
nền giáo dục chất lượng, một hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại để có thể
vượt qua được các thách thức, và biến chúng thành những cơ hội nhằm góp
phần đưa xã hội nhanh chóng nhập cuộc với các nước phát triển.
Theo Nghị quyết 14/2006/NQ-CP ngày 02/11/2006 của Chính phủ, mục
tiêu đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 sẽ
hướng đến là:
- Hoàn chỉnh mạng lưới các cơ sở GDĐH trên phạm vi toàn quốc, có sự
phân tầng về chức năng, nhiệm vụ đào tạo, bảo đảm hợp lí cơ cấu trình độ, cơ
cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền, phù hợp với chủ trương xã hội hóa giáo
dục và qui hoạch tổng thể phát triển KT-XH của cả nước và của các địa
phương;
- Mở rộng qui mô đào tạo, đạt tỉ lệ 200 SV/1 vạn dân vào năm 2010 và
450 SV/1 vạn dân vào năm 2020, trong đó khoảng 70-80% tổng số SV theo
học các chương trình nghề nghiệp - ứng dụng, vào khoảng 40% tổng số SV

toàn diện nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ sức thực hiện đổi mới chương
trình giáo dục phổ thông sau năm 2015. Tập trung đầu tư xây dựng các trường

17


sư phạm và các khoa sư phạm tại các trường đại học để nâng cao chất lượng
đào tạo giáo viên.
+ Đảm bảo từng bước có đủ giáo viên thực hiện giáo dục toàn diện theo
chương trình giáo dục mầm non và phổ thông, dạy học 2 buổi/ngày, giáo viên
dạy ngoại ngữ, giáo viên tư vấn học đường và hướng nghiệp, giáo viên giáo
dục đặc biệt và giáo viên giáo dục thường xuyên.
+ Chuẩn hóa trong đào tạo, tuyển chọn, sử dụng và đánh giá nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục. Chú trọng nâng cao đạo đức nghề nghiệp, tác
phong và tư cách của đội ngũ nhà giáo để làm gương cho học sinh, sinh viên.
Tiếp tục đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo để đến năm
2020, 100% giáo viên mầm non và phổ thông đạt chuẩn trình độ đào tạo,
trong đó 60% giáo viên mầm non, 100% giáo viên tiểu học, 88% giáo viên
trung học cơ sở và 16,6% giáo viên trung học phổ thông đạt trình độ đào tạo
trên chuẩn; 38,5% giáo viên trung cấp chuyên nghiệp, 60% giảng viên cao
đẳng và 100% giảng viên đại học đạt trình độ thạc sỹ trở lên; 100% giảng
viên đại học và cao đẳng sử dụng thành thạo một ngoại ngữ.
Thực hiện đề án đào tạo giảng viên có trình độ tiến sĩ các trường đại
học, cao đẳng với phương án kết hợp đào tạo trong và ngoài nước để đến năm
2020 có 25% giảng viên đại học và 8% giảng viên cao đẳng là tiến sỹ.
+ Thực hiện các chính sách ưu đãi về vật chất và tinh thần tạo động lực
cho các nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, nhất là với giáo viên mầm non;
có chính sách đặc biệt nhằm thu hút các nhà giáo, nhà khoa học, chuyên gia
có kinh nghiệm và uy tín trong và ngoài nước tham gia phát triển giáo dục.

Mục tiêu ĐTGV phải xuất phát từ đổi mới cách tiếp cận và thực hiện
mục tiêu giáo dục nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng theo hướng là phát
triển phẩm chất và năng lực người học, trên tinh thần đổi mới giáo dục toàn
diện là phát triển hài hòa đức, trí, thể, mỹ nhằm phát triển tốt nhất tiềm năng
riêng của từng học sinh.

19


Mục tiêu của đào tạo giáo viên là hình thành và phát triển phẩm chất,
năng lực của sinh viên, đáp ứng yêu cầu chuẩn nghề nghiệp giáo viên; có khả
năng phát triển và thích ứng với các điều kiện dạy học khác nhau.
Chuẩn đầu ra được xác định rõ ràng và cụ thể hóa trong chương trình
đào tạo bao gồm: Kiến thức, thái độ và kỹ năng cơ bản; kiến thức, thái độ và
kỹ năng nghề nghiệp mà người tốt nghiệp cần đạt để hình thành một cách bền
vững những phẩm chất và năng lực đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân lực của xã
hội cũng như khả năng học lên cao, học suốt đời, phát triển nghề nghiệp,
chuyển đổi nghề và phát triển nhân cách cho người tốt nghiệp.
Xây dựng chuẩn đầu ra của các cơ sở đào tạo giáo viên thấp nhất cũng
phải đạt mức tối thiểu của chuẩn nghề nghiệp giáo viên. Theo đó, những
phẩm chất và năng lực cơ bản của sinh viên sư phạm cần đạt được sau khi tốt
nghiệp (theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên hiện hành và dự thảo chỉnh sửa bổ
sung) gồm:
- Phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống: Yêu nghề, gắn bó với nghề dạy
học, có ý thức tổ chức kỉ luật và tinh thần trách nhiệm; có kĩ năng làm việc
nhóm, hợp tác, cộng tác với đồng nghiệp để cùng thực hiện mục tiêu và
chương trình giáo dục.
- Năng lực phát triển chương trình giáo dục nhà trường, phát triển
chương trình môn học, phát triển các chủ đề dạy học trải nghiệm sáng tạo,
phát triển chương trình dạy học ở cấp độ bài học theo hướng mở rộng kiến

thu thập và xử lí thông tin thường xuyên về nhu cầu và đặc điểm của học sinh,
sử dụng các thông tin thu được vào dạy học, giáo dục; có phương pháp thu
thập và xử lí thông tin về điều kiện giáo dục trong nhà trường và tình hình
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương, sử dụng các thông tin thu
được vào dạy học, giáo dục.
- Năng lực phát triển nghề nghiệp: Năng lực tự đánh giá, tự học và tự
rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ nhằm
không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học và giáo dục; năng lực
21


phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn hoạt động nghề
nghiệp nhằm đáp ứng những yêu cầu mới trong giáo dục.
3.2. Đổi mới nội dung đào tạo sư phạm theo tiếp cận đổi mới nội dung
giáo dục phổ thông
a) Nội dung giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo hướng tinh
giản, hiện đại, thiết thực với cuộc sống, phù hợp với lứa tuổi, trình độ học
sinh. Nội dung giáo dục phổ thông gồm các môn học/lĩnh vực giáo dục, trong
đó mỗi lĩnh vực giáo dục liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với một nhóm môn
học, hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo. Các môn học/lĩnh vực giáo dục,
chuyên đề học tập và hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo được cấu trúc
thành một hệ thống chỉnh thể, thống nhất từ cấp tiểu học đến cấp trung học
phổ thông và được chia thành 2 loại: bắt buộc và tự chọn.
b) Chương trình giáo dục phổ thông thiết kế nội dung dạy học phù hợp
với từng lĩnh vực giáo dục nhằm rèn luyện học sinh năng lực tự học, tìm tòi
kiến thức, cách thức vận dụng tổng hợp các kiến thức đã học được; hướng tới
hình thành và phát triển các phẩm chất của học sinh, gồm: yêu gia đình, quê
hương, đất nước; nhân ái, khoan dung; trung thực, tự trọng, chí công vô tư; tự
lập, tự tin, tự chủ, có tinh thần vượt khó; có trách nhiệm với bản thân, cộng
đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên; tôn trọng, chấp hành kỉ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status