Phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn đường lối cách mạng của đảng cộng sản việt nam theo định hướng phát triển năng lực cho sinh viên các trường đại học - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

MAI THU TRANG

PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY
HỌC MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG
ĐẠI HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Giáo dục chính trị
Mã số

: 9.14.01.11

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:
1: PGS.TS. Võ Văn Thắng
2: TS. Nguyễn Văn Long
.


HÀ NỘI – Năm 2019


ii

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết

iv

DANH MỤC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
Quy định viết tắt

Những từ viết tắt

CNTT
CNTT&TT

Công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin và truyền thông

DH

Dạy học

ĐC

Đối chứng

ĐG
ĐH

Đánh giá
Đại học

ĐHPTNL

Định hướng phát triển năng lực


Phương pháp dạy học tích cực

PPTLN

Phương pháp thảo luận nhóm

PTNL

Phát triển năng lực

SV

Sinh viên

TLN

Thảo luận nhóm

TLTK

Tài liệu tham khảo

TN
TP.HCM

Thực nghiệm
Thành phố Hồ Chí Minh



2.1.1. Những vấn đề chung về PPTLN trong dạy học theo ĐHPTNL.....................29
2.1.2. PPTLN trong dạy học môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL.......................41
2.2. Cơ sở thực tiễn sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo
ĐHPTNL cho SV các trường ĐH ở TPHCM hiện nay....................................... 53


vi

2.2.1. Đặc điểm của sinh viên trên địa bàn TP Hồ Chí Minh..................................53
2.2.2. Khảo sát thực trạng việc sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo

ĐHPTNL cho SV các trường ĐH ở TPHCM hiện nay............................................. 57
2.2.3. Đánh giá thực trạng việc sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN
theo ĐHPTNL......................................................................................................... 69
Kết luận chương 2................................................................................................. 76
CHƯƠNG 3: NGUYÊN TẮC VÀ QUY TRÌNH SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP
THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC........................................................................................................... 77
3.1. Các nguyên tắc sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL .. 77

3.1.1. Đảm bảo mục tiêu của môn học.................................................................... 77
3.1.2. Đảm bảo tính Đảng và tính khoa học............................................................ 78
3.1.3. Đảm bảo tính thực tiễn.................................................................................. 80
3.1.4. Đảm bảo tính tích cực hoạt động của người học........................................... 84
3.2. Quy trình sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL .. 85

3.2.1. Chuẩn bị hoạt động TLN theo ĐHPTNL....................................................... 87
3.2.2. Tổ chức hoạt động TLN theo ĐHPTNL......................................................... 97
3.2.3. Kiểm tra, đánh giá hoạt động TLN theo ĐHPTNL......................................102


viii

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1.Số lượng và phân bố các trường đại học trên toàn quốc.......................54
Biểu đồ 2.3. Mức độ sử dụng PPTLN trong dạy học môn ĐLCMCĐCSVN theo
ĐHPTNL (GV)

59

Biểu đồ 2.4. Mức độ cần thiết sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN
theo ĐHPTNL (SV) 60
Biểu đồ 2.5. Mức độ sử dụng PPTLN theo ĐHPTNL của GV trong dạy học môn
ĐLCMCĐCSVN trên lớp (SV)

61

Biểu đồ 2.6. Các bước thực hiện TLN theo ĐHPTNL trên lớp của GV..................62
Biểu đồ 2.7. Tỷ lệ sử dụng PPTLN theo ĐHPTNL so với các PPDH khác.............63
Biểu đồ 2.8. Khó khăn khi sử dụng PPTLN............................................................ 64
Biểu đồ 2.9. Những NL được hình thành khi sử dụng PPTLN theo ĐHPTNL........66
Biểu đồ 2.10. Lựa chọn PPDH trên lớp của SV...................................................... 67
Biểu đồ 2.11. Hạn chế khi tham gia TLN theo ĐHPTNL của SV...........................68
Biểu đồ 2.12. Kiểm tra, đánh giá TLN theo ĐHPTNL............................................ 70
Sơ đồ 3.1. Quy trình TLN trong dạy học môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL....86
Biểu đồ 4.1. Biểu đồ tần suất (%) biểu diễn phân loại kết quả bài kiểm tra đầu vào
trước thực nghiệm.............................................................................. 129
Biểu đồ 4.3. Biểu đồ tần suất phân phối điểm kiểm tra sau thực nghiệm tác động 135


tư duy sáng tạo, rèn luyện kĩ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm,
ứng dụng”.
Khoa học ngày càng phát triển, con người không chỉ phát hiện ra những cái đã
có trong tự nhiên, xã hội mà bằng trí tưởng tượng, sáng tạo của mình, con người đã
thiết kế xây dựng những mô hình mới chưa có trong thực tiễn. Các phương pháp
suy diễn, mô hình hóa,… dần dần đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa
học và trở thành phương pháp đặc trưng cho khoa học hiện đại. Trong bối cảnh đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo (GDĐT) dựa trên triết lý phát triển năng lực
(PTNL) của người học rất cần phải có những nghiên cứu xác lập mô hình đổi mới
phương pháp dạy học (PPDH) theo ĐHPTNL để định hướng cho toàn bộ quá trình
đổi mới. Đây là việc làm phù hợp với xu hướng của thời đại và có ý nghĩa về mặt
phương pháp luận. Trên thực tiễn về mặt tổng thể đã có nghiên cứu của các nhà
khoa học về mô hình PPDH theo định hướng PTNL. Tuy nhiên, để để áp dụng mô
hình này vào thực tiễn, cần có những nghiên cứu cụ thể hơn về các mô hình tổ chức
dạy học (DH) ĐHPTNL tiên tiến của thế giới vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam,
trong đó có mô hình tổ chức thảo luận nhóm (TLN).
TLN với tư cách là một hình thức tổ chức DH đặc trưng ở ĐH có nhiều ưu thế
trong việc hình thành và PTNL cho người học. Thông qua những chuỗi hoạt động
tìm tòi, nghiên cứu và tranh luận được tổ chức có chủ định trong các buổi TLN trên
lớp, SV sẽ có nhiều cơ hội để lĩnh hội tốt các tri thức, nắm bắt được con đường đi
đến tri thức, đồng thời rèn luyện kĩ năng, tư duy cũng như thái độ,


2

phong cách làm việc khoa học một cách tích cực và hiệu quả. Điều này có nghĩa
phương pháp thảo luận nhóm (PPTLN) là một công cụ thực sự hữu hiệu để PTNL
hành động cho sinh viên (SV). Tuy nhiên, trên thực tiễn PPTLN vẫn chưa có một vị
trí xứng đáng và chưa trở thành một hình thức tổ chức DH độc lập trong cơ cấu các
hình thức tổ chức DH và đào tạo bậc ĐH ở Việt Nam hiện nay.

cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam theo định hướng phát triển năng lực cho
sinh viên các trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận án của
mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài, đề xuất quy trình sư phạm sử dụng
hiệu quả PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL, góp phần nâng
cao năng lực của SV và chất lượng DH môn học này ở các trường ĐH tại TP.HCM
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về PPTLN trong dạy học môn
ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL.
- Khảo sát thực trạng tiến hành PPTLN trong dạy học môn ĐLCMCĐCSVN
theo ĐHPTNL, chỉ rõ hạn chế và những nguyên nhân của hạn chế đó.
- Đề xuất các nguyên tắc, quy trình chủ yếu nhằm sử dụng hiệu quả PPTLN
trong dạy học môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm (TNSP) nhằm kiểm chứng hiệu quả và tính
khả thi của quy trình đề xuất trong luận án.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL ở trường đại học.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Những nguyên tắc, quy trình sử dụng PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN
theo ĐHPTNL cho SV các trường ĐH ở thành phố Hồ Chí Minh.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Luận án nghiên cứu PPTLN, các nguyên tắc, quy trình sử dụng
PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL ở các trường ĐH.
- Khảo sát thực tiễn: Tổ chức TNSP tại 5 trường (Đại học Sư phạm thành phố
Hồ Chí Minh, Đại học Bách Khoa – Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Đại
học Kiến trúc, Đại học Công nghiệp, Đại học Hoa Sen).
- Thời gian: Tiến hành khảo sát điều tra và TNSP trong năm học 2016-2017.


của GV để hỗ trợ cho PP điều tra và PP thực nghiệm sư phạm.
- PP thực nghiệm: TNSP để phân tích, đánh giá, so sánh nhóm thực nghiệm
(TN) và nhóm đối chứng (ĐC) thông qua tác động của TN và chứng minh giả thuyết
khoa học của đề tài.


5
6.2.3. Các phương pháp hỗ trợ
PP chuyên gia: Tham khảo ý kiến của một số nhà khoa học trong xây dựng đề
cương, lựa chọn PP nghiên cứu và cách thức tổ chức PPTLN trong DH môn
ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL.
PP thống kê toán học: PP này được sử dụng để xử lý các tài liệu, số liệu nghiên
cứu nhằm rút ra những nhận xét, kết luận có giá trị khách quan. Đồng thời xử lý các
số liệu thu được từ điều tra thực trạng và thực nghiệm bằng toán thống kê và phần
mềm SPSS nhằm rút ra những kết luận cần thiết.
7. Những luận điểm cần bảo vệ
- TLN là PPDH có vai trò quan trọng đối với việc hình thành những NL chung
như: NL hợp tác, NL giải quyết vấn đề, NL tự học, NL sáng tạo cũng như những NL
đặc thù như: NL tư duy phản biện, NL thực tiễn, NL sử dụng CNTT&TT trong
DH môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL.
- Để vận dụng có hiệu quả PPTLN trong DH môn ĐLCMCĐCSVN theo
ĐHPTNL cần phải thực hiện đồng bộ các nguyên tắc đã đề xuất trong luận án.
- Cần chú trọng thực hiện quy trình sư phạm đã đề xuất trong luận án nhằm nâng cao
hiệu quả DH môn ĐLCMCĐCSVN bằng PPTLN theo ĐHPTNL ở nước ta hiện nay.

8. Đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, hệ thống hóa và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về PPTLN trong
DH môn ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL ở các trường ĐH
Thứ hai, đánh giá được thực trạng sử dụng PPTLN trong DH môn
ĐLCMCĐCSVN theo ĐHPTNL ở các trường ĐH hiện nay.

chung đó là chân lí khách quan thu được trong các cuộc đàm thoại mà ai cũng phải
thừa nhận. Vì thế ý kiến chủ quan của mỗi người không phải là tiêu chuẩn của chân
lí, mỗi người không thể tự do và tùy ý trong việc lựa chọn các ý kiến trái ngược về
sự vật mà phải dựa vào nền tảng chung khách quan đó, để phát hiện ra “chân lí”
phải thông qua các cuộc tọa đàm, tranh luận, luận chiến. PP này gồm bốn giai đoạn:
“mỉa mai”, “đỡ đẻ”, “quy nạp”, “xác định”[77]. Biện chứng pháp Xôcrat đòi hỏi con
người muốn hành động đúng trước hết phải nhận thức đúng, muốn nhận thức đúng
phải biết nội hàm khái niệm và muốn định nghĩa khái niệm đúng thì không còn cách
nào khác ngoài việc tranh luận. Ở đây, vai trò của tranh luận trong tìm tòi và khám
phá tri thức được ông đánh giá rất cao.
Với cuốn sách nổi tiếng có tên là “Luận về thuật hùng biện” nghiên cứu nhiều
vấn đề về giáo dục và có nhiều tư tưởng tiến bộ, lịch sử giáo dục La Mã Cổ đại đã
ghi nhận cống hiến của nhà giáo dục Marco Fabio Quintilian (42-118). Ông cho
rằng: “DH không phải là sự cưỡng ép mà phải làm thế nào để họ vui vẻ học tập.
Giảng dạy cần phải thay đổi hình thức và đưa ra nhiều ví dụ. Người học sẽ có rất lợi
nếu biết nói những điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu” [51, tr.15]. Cách tiếp
cận của Marco Fabio Quintilian có rất nhiều điểm tương đồng với mục tiêu mà
PPTLN hướng tới cũng như ý nghĩa của nó trong hoạt động học tập.
Với suy nghĩ điều gì cũng đáng học đặc biệt là học từ bạn bè, từ những người
xung quanh, nhà triết học lớn của phương Đông - Khổng Tử (551-479 TCN) đã


8

khẳng định: “Trong ba người đi tất có một người là thầy ta” [51, tr.22]. Nhận định
đó cho thấy ông đã đề cao sự tương tác giữa người học với người học, người dạy
với người học, đồng thời khẳng định việc chủ động tìm hiểu tri thức tất yếu sẽ dẫn
đến sự trao đổi, tranh luận, hợp tác giữa người học với nhau.
Như vậy, để phát triển tư duy của người học, người dạy phải dựa vào đối
tượng học tập và sử dụng nhiều PP để kích thích. Để người học dễ dàng tiếp nhận tri

khơi dậy tinh thần trách nhiệm và ý thức cá nhân trong lương tâm mỗi con người
đối với cộng đồng, loại bỏ những hành động do động cơ ích kỷ đối với nhóm khác”
[91, tr.25]. Tuy nhiên, theo ông một loại ích kỉ đặc biệt (ích kỉ cộng đồng) sẽ xuất
hiện nếu sử dụng không tốt hình thức DH này. Thói ích kỉ của học sinh sẽ được tạo
nên nếu ganh đua với động cơ không tốt.
Nước Anh là một trong các quốc gia có nền giáo dục rất phát triển thời cận đại.
Số HS trên lớp rất đông, việc áp dụng PPTLN làm đau đầu các nhà giáo dục trong
nước. Sáng kiến tiến hành hình thức dạy kèm cặp đã được hai nhà giáo dục người
Anh là Ben và Lancanxto đặt ra. Những HS lớn tuổi có kinh nghiệm được dạy trước
và họ sẽ thay mặt GV kèm cặp cho nhiều HS khác cùng lớp. Tuy phần nào khắc
phục được tình trạng lớp đông và có nhiều trình độ khác nhau bằng cách cho các em
học theo nhóm nhưng hình thức học theo "hệ thống kèm cặp" vẫn chưa thực sự có
hiệu quả.
Ý tưởng học tập theo nhóm được nhanh chóng đưa từ Anh sang Mỹ và đã
nhận được sự hưởng ứng, phát triển rộng rãi bởi những nhà giáo dục tiên phong như
John Dewey, Roger Parker, Morton Deutch... Họ đề cao vai trò của nhà giáo trong
việc giáo dục HS một cách dân chủ và khía cạnh xã hội của việc học tập. John
Dewey cho rằng: “Muốn học cách cùng chung sống trong xã hội thì người học phải
được trải nghiệm trong cuộc sống hợp tác ngay từ trong nhà trường. Cuộc sống
trong lớp học là quá trình dân chủ hoá trong một thế giới vi mô và học tập phải có
sự hợp tác giữa các thành viên trong lớp học”[99, tr.17].
Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây cũng đã có nhiều công trình nghiên
cứu về DH bằng PPTLN. Trong cuốn “Những thủ thuật trong dạy học” của tác giả
Wilbert J. McKeachie có nhắc đến quan điểm của nhà giáo dục Nadezhda. K.
Krupskaya (1869 – 1939) về nhiệm vụ cơ bản của người GV: “giúp cho HS tự tổ
chức, thân tình gợi ý cho chúng cách tốt nhất để thực hiện nhiệm vụ cho trước, chỉ
ra cách nêu lên những câu hỏi thích hợp và làm thế nào để trả lời các câu hỏi đó.
Bản thân trẻ cần TL tập thể với các bạn trong nhóm học tập, đưa ra các quyết định



nhóm nhỏ, mọi người trong nhóm vừa là người dạy, vừa là người học. Những HS
trong vai trò người dạy sẽ đặt câu hỏi, nêu vấn đề học tập và kết luận những nội
dung học tập trong nhóm mình. Các thành viên khác của nhóm tham gia TL, nêu ra


11

các câu hỏi, trả lời, bình luận. Vai trò của các thành viên được thay đổi luân phiên”
[98, tr.124]. Việc hợp tác, theo Slavin, nhằm tạo lập và cải thiện những mối quan hệ
xã hội giữa các thành viên. Như vậy, các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ vai trò của DH
theo nhóm là tạo lập và cải thiện những mối quan hệ xã hội giữa các thành viên.
Với công trình nghiên cứu: Nền giáo dục cho thế kỷ XXI, những triển vọng của châu
Á – Thái Bình Dương, tác giả RaJa Roy Singh đã căn cứ vào thực tiễn của cuộc sống để
xác định rõ mục tiêu của giáo dục là tạo nên những con người sáng tạo, có kỹ năng hợp tác
và chung sống đối với người khác. Một trong những biện pháp để thực hiện được mục tiêu
đó là thường xuyên cho SV tiếp xúc với nhau, học từ bạn bè, từ cộng đồng, từ lao động và
đặc biệt là tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội. “Không kém phần quan trọng là hệ
thống con người cùng nhau tập hợp qua những sở thích chung – hệ thống những người bạn,
những đồng nghiệp, những người có tri thức, nhóm học. Học nhóm sẽ là một trong những
hệ thống hỗ trợ quan trọng của các cơ cấu giáo dục đang xuất hiện” [101, tr.118]. Thực
hiện được điều này sẽ đáp ứng được xu thế toàn cầu hóa mà ở đó sự phụ thuộc của con
người với nhau ngày càng trở nên sâu sắc.

John C. Maxwell (Đại học Indiana Wesleyan – Mỹ) là một trong 25 tác giả và
nghệ sĩ nổi tiếng nhất trên website sách trực tuyến Amazon.com. Ông viết nhiều
cuốn sách nổi tiếng. Một trong những cuốn sách nổi tiếng của ông là “17 nguyên
tắc vàng trong làm việc nhóm” (The 17 Indisputable Laws of Teamwork). Trong đó
chỉ ra rằng, nếu biết cách áp dụng các nguyên tắc này thì chắc chắn khả năng làm
việc nhóm của HS sẽ tăng. Giá trị thực tiễn của cuốn sách đã được khẳng định qua
sự đón nhận tích cực của độc giả. Bởi vì, trong công việc và thực tiễn cuộc sống

Như vậy, từ các nghiên cứu ở những khu vực khác nhau trên thế giới cho thấy
về tên gọi có đôi chút khác nhau nhưng nội hàm của DH theo nhóm đều lấy quan hệ
hợp tác nhóm giữa người học với nhau làm trung tâm để phát triển các mối quan hệ
hợp tác giữa con người với con người; vừa là điều kiện, vừa là mục tiêu, vừa là môi
trường để DH có hiệu quả.
1.1.1.2. Các nghiên cứu trong nước
Ở nước ta, hình thức học tập theo nhóm đã có từ rất lâu với tinh thần "Học
thầy không tày học bạn" có nghĩa là trong việc học cần phải học tập nhiều hơn từ
bạn bè chứ không chỉ từ phía người thầy. Bản chất của DH tích cực là bằng những
cách thức, hoạt động, việc làm cụ thể để trong quá trình DH thu hút được sự chú ý
của người học, khơi dậy ở họ niềm say mê học hỏi, tìm tòi và phát huy khả năng
sáng tạo, giúp họ thoát khỏi trạng thái căng thẳng, thái độ thờ ơ, thiếu nghiêm túc
trong học tập.


13

Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: phải
tuyệt đối tránh “nhồi sọ”; không nên DH thuộc lòng từng câu từng chữ; tuyệt đối
không nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều; phải đào sâu suy nghĩ; phải
nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ chín chắn kỹ càng, mạnh dạn đề xuất vấn đề và
TL cho thông suốt, phải lấy tự học làm cốt.
Ngay khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, cách học theo nhóm với
phương châm mọi người cùng giúp nhau biết chữ được thực hiện sâu rộng qua phong
trào “Bình dân học vụ” để diệt giặc dốt, góp phần đưa đất nước thoát khỏi tình thế ngàn
cân treo sợi tóc. Trong điều kiện đất nước còn khó khăn, để thực hiện thắng lợi mục
tiêu diệt giặc dốt, Đảng và Nhà nước ta đã sử dụng mềm dẻo các biện pháp trong đó
chú ý đến hình thức học lẫn nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Những người
chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi. Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa
biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, người ăn người làm không biết thì chủ

của người học, cùng với trào lưu hội nhập quốc tế, các nhà giáo dục, nhà khoa học
đã nghiên cứu và nhận thấy cần phải tổ chức cho người học học tập theo nhóm.
Nhiều công trình nghiên cứu của họ đã tập trung bàn về tầm quan trọng và sự cần
thiết của làm việc theo nhóm.
Nội dung cuốn: “Dạy học hiện đại - lý luận, biện pháp, kỹ thuật” của tác giả
Đặng Thành Hưng viết năm 2002 đã khái quát các công trình nghiên cứu của Slavin
R.; Davison N.; Johnson D. W.; Johnson R. T, trong đó nhấn mạnh: “quan hệ là một
thành tố chủ yếu nhất của quá trình học tập và các quan hệ của DH hiện đại sẽ tiếp
tục phát triển theo xu hướng tăng cường sự tương tác, hợp tác, cạnh tranh và chia
sẻ” [36, tr.44]. Nhằm chỉ ra tầm quan trọng của học tập theo nhóm cùng với các
nguyên tắc đảm bảo cho DH theo nhóm thành công, tác giả đã nhận định: “quan hệ
giữa người học với nhau trong DH hiện đại mang tính hợp tác và cạnh tranh tương
đối” [36, tr 46]. Không dừng lại ở đó, ông còn chỉ ra hệ thống các kỹ năng học tập
trong môi trường hiện đại. Thông qua hệ thống kỹ năng học tập, ông đã cho thấy
học tập chính là thiết lập các mối quan hệ tích cực, cùng nhau chia sẻ và giải quyết
các vấn đề... Đây chính là những kỹ năng học tập theo nhóm được tác giả nhận diện
trong môi trường học tập hiện đại trong một số bài báo như: “Hệ thống kĩ năng học
tập hiện đại” [37, tr.25-27], “Nhận diện và đánh giá kĩ năng” [38, tr 64.]...
Khi bàn đến DH hợp tác với tư cách là một quan điểm DH trong đó PPTLN là
một trong số các PPDH có sứ mệnh quan trọng phát huy tính tích cực của người
học, công trình nghiên cứu: “Sách trợ giúp giảng viên cao đẳng sư phạm”, của tập


15

thể tác giả Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Văn Cường, Trần Bá Hoành, Nguyễn Bá
Kim, Lâm Quang Thiệp đã nhấn mạnh vấn đề DH hợp tác nhóm là một trong các
PPDH hiện đại [12]. Tác giả Nguyễn Hữu Châu cho rằng cần sử dụng các nhóm nhỏ
để làm việc cùng nhau nhằm tối đa hóa kết quả học tập của HS, bởi lẽ DH hợp tác
“không chỉ đơn thuần là một cách thức giảng dạy mà còn là sự thay đổi về cấu trúc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status