Những nhân tố tác động đến xu hướng biến đổi của giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước - Pdf 55

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa do đảng cộng sản Việt
Nam khởi xướng và lãnh đạo vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh , xã hội công
bằng dân chủ văn minh” ; giai cấp công nhân việt Nam đang có mặt trong các
thành phần kinh tế , các ngành nghề , là lực lượng sản xuất cơ bản , nắm giữ
những cơ sở vật chất quan trọng nhất , quyết định phương hướng phát triển của
nền kinh tế quốc dân theo hướng xã hội chủ nghĩa , lực lượng nòng cốt trong
khối liên minh công – nông – tri thức , nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc .
Giai cấp công nhân có một vị trí quan trong trong sự nghiệp công nghiệp
hóa hiện đại hóa đất nước . Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam là một yêu
cầu khách quan , có ý nghĩa chiến lược , quyết định sự thành công trong công
cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa Việt Nam.
Công nghiệp hóa , hiện đại hóa đã và đang đặt ra những yêu cầu rất cao
đối với giai cấp công nhân .Vì vậy , để không ngừng củng cố , xây dựng và phát
triển đội ngũ giai cấp công nhân ở nước ta hiện nay ngày một lớn mạnh cả về số
lượng , chất lượng , thực sự xứng đáng là giai cấp tiên tiến , tiên phong , đi đầu
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ; cần phải có những
nhận thức về giai cấp công nhân , phải nắm bắt và dự báo chính xác, sát với thực
tế vì xu hướng biến đổi giai cấp công nhân Việt Nam trong sự nghiệp công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước , để phát hiện đúng những vấn đề đặt ra đối
với công nhân và áp dụng những giải pháp tạo động lực phát triển giai cấp công
nhân trong điều kiện và tình hình hiện nay.
Trong bối cảnh quốc tế và trong nước đang có những chuyển biến nhanh
chóng phức tạp ; nhất là trước yêu cầu mới rất cao của sự nghiệp công nghiệp
hóa hiện đại hóa đất nước ,dự báo đúng xu hướng biến đổi của giai cấp công
nhân có ý nghĩa sống còn trong việc đặt ra những phương hướng , mục tiêu
nhiệm vụ cụ thể đối với giai cấp công nhân .
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu :
- Mục đích : Trên cơ sở phân tích những nhân tố tác động đến xu hướng
biến động của giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa , hiện

Chương III : Một số xu hướng biến đổi cơ bản của giai cấp công nhân
Việt Nam trong tời kỳ công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước .

2


B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIAI CÂP CÔNG NHÂN
1. Hai thuộc tính cơ bản của giai cấp công nhân .
Bàn về khái niệm giai cấp công nhân , cho tới nay , tùy thuộc vào lập
trường giai cấp , thái độ chính trị , trình độ nhận thức và phương pháp tiếp cận,
vẫn còn những ý kiến khác nhau thậm chí trái ngược nhau. Các Mác và P. Ăng
gen đã sữ dũng nhiều từ đồng nghĩa để biểu đạt khái niệm giai cấp công nhân : “
Giai cấp công nhân” “ Giai cấp vô sản “ Giai cấp công nhân công xưỡng, nhà
máy “Giai cấp công nhân đại cơ khí” Và nhiều thuật ngữ khác nữa . tất cã những
thuật ngữ đồng nghĩa này chỉ là sự khác nhau về hình thức biểu đạt trong những
văn cảnh cụ thể của một khái niệm.
Giai cấp công nhân tất cả diễn đạt nêu trên về khái niệm giai cấp công
nhân của các nhà kinh điển được đặt trong hoàn cảnh lịch sử từ nữa sau thế kỷ
XIX đến đầu thế kỷ XX , trên cơ sở các Ông đã đưa vào 2 tiêu chí để phân định
giai cấp công nhân với các giai tầng của xã hội khác:
1.1

Về phương thức lao động , phương thức sản xuất :

Giai cấp công nhân là những người (tập đoàn người) lao động trực tiếp
hay giám tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng
hiện đại và xã hội hóa , quốc tế cao “ các giai cấp khác điều suy tàn và tiêu
phong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp , còn giai cấp vô sản là sản
phẩn của bản thân nền đại công nghiệp” là sản phẩm của đại công nghiệp nên

chúng , dân tộc Việt Nam rơi vào cảnh nô lệ . Không chi giai cấp công nhân
nhân dân lao động mà cả dân tộc Việt Nam điều bị áp bức , bóc lột nặng nề , bị
đối xử tàn tệ lâm vào cảnh khốn khổ , bần cùng . Với tinh thần yêu nước , yêu
độc lập , tự do , dân tộc Việt Nam không hề chụi khuất phục , không ngừng đấu
tranh , phản kháng nhưng các phong trào chống thực dân pháp do tổ chức cần
vương và các đảng tư sản , tư sản lãnh đạo điều lần lượt thất bại , bị chính quyền
thực dân , phong kiến thẳng tay đàn áp và dân tộc Việt Nam đắm chìm trong
cảng nô lệ , chưa có lối ra. Trong bối cảnh đó khát vọng và yêu cầu bức xúc của
dân tộc Việt Nam là phải có chính đảng của một giai cấp tiên tiến có đủ tầm vóc
và bản lĩnh gánh lấy sứ mệnh lịch sử đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi cảnh nô lệ
, dành độc lập , tự do giai cấp tiên tiền đó chính là giai cấp công nhân Việt Nam
và đội tiên phong của nó là đảng cộng sản Việt Nam do chủ Tịch Hồ Chí Minh
sáng lập và rèn luyện .
4


Ngay tự khi ra đời , giai cấp công nhân nước ta đa anh dũng , kiên cường
đấu tranh chống kẻ thù xâm lược phong tròa đấu tranh của công nhân từng bước
trưởng thành , phát triển từ tự phát đến tự giác và không ngừng nhấn mạnh
4. Đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam .
Là sản phẩn trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân
pháp tầng lớp công nhân đầu tiên xuất hiện ngắn liền với cuộc khai thác thuộc
địa lần thứ nhất ( 1897) và thực sự trở thành giai cấp công nhân Việt Nam từ
thời kỳ khai thác thuộc địa của thực dân pháp lần thứ 2 (1924 – 1929 ) . Cùng
với quá trình phát triển của cách mạng , giai cấp công nhân Việt nam sớm trở
thành bộ phân của đội ngũ giai cấp công nhân quốc tế . Ngoài những đặc điểm
chung của giai cấp công nhân quốc tế giai cấp công nhân Việt Nam còn có
những đặc điểm riêng :
Thứ nhất : Sinh ra và lớn lên từ một nước vốn là thuộc địa nữa phong
kiến có truyền thống yêu nước ý thức tự tôn dân tộc , dù còn non trẻ , song giai

6


CHƯƠNG II: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN XU HƯỚNG
BIẾN ĐỔI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ
CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA
1. Những nhân tố khách quan tác động đến xu hướng biến đổi của
giai cấp công nhân Việt Nam.
1.1.Tác động của xu hướng toàn cầu hóa đến sự biến đổi của giai cấp
công nhân Việt Nam.
Bước vào thế kỷ 21 thì nhân loại đang tiền vào thời đại văn minh tin học ,
nền kinh tế trí thức , quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã và đang trở
thành xu thế chủ yêu trong quan hệ kinh tế , quốc tế đương đại ,toàn cầu hóa
không phải là một hiện tượng mới vi nó đã diễn ra tự lâu và phát triển cùng với
kinh tế thị trường . Ngày nay trên thế gưới không có một quốc gia nào tồn tại và
phát triển biệt lập ngài cơn lốc toàn cầu hóa .
Việt Nam từ năm 1989 đến nay cùng với chính sách đối ngoại rộng mở đa
phương hóa đa dạng hóa đã chủ động hội nhập một cách tích cực , toàn cầu hóa
là một quá trình đấu tranh giai cấp , đấu tranh dân tộc gay gắt là cuộc đấu tranh
của nhân dân lao động , các lực lượng và xã hội tiến bộ , các dân tộc ở các nước
đang phát triển chống lại sự nô dịch , bóc lột , can thiệp , áp bức , áp đặt và xâm
lược của chủ nghĩa tư bản , dế quốc , thực dân vì một toàn cầu hóa bình đẳng
giũa các quốc gia dân tộc , toàn cầu hóa xã hội chủ nghĩa , toàn cầu hóa cộng
sản chủ nghĩa . Trong điều kiện hiện nay , toàn cầu hóa về tư bản mang tính chất
tư bản chủ nghĩa , mặc dù dưới tác động của toàn cầu hóa , chủ nghĩa tư bản có
thể kéo dài thêm thời gian tồn tại của nó nhưng bản chất của chủ nghĩa tư bản
không hề thay đổi , bên cạnh những mặt tíc cực do toàn cầu hóa đem lại như:
Tạo cơ hội cho sụ phát triển kinh tế xã hội , đẩy nhanh quá trình phát triển và xã
hội hóc lực lượng sản xuất , đưa lại tăng trưởng kinh tế cao , toàn cầu hóa thục
đẩy sự phát triển chuyển giao , chuyển hóa trên quy mô ngày càng lớn . Những

quá trình đó. Một điều chắc chắn là dưới tác động của toàn cầu hóa, giai cấp
công nhân Việt Nam cũng biến đổi mạnh mẽ cả về số lượng , cả về chất lượng,
cả về cơ cấu cũng như phong cách, tác phong lao động của cả hai chiều hướng
tích cực và tiêu cực, song tính tích cực là chủ yếu.Giai cấp công nhân Việt Nam
8


vốn có truyền thống cách mạng, thông qua đảng tiên phong của mình đã đang
chủ động và tích cực thực hiện đường lối đối ngoại mở rộng kết hợp sức mạnh
trong nước và sức mạnh quốc tế, sức mạnh dân tộc với sức mạnh tời đại, quyết
thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.2. Tác động của khoa học công nghệ đối với sự biến đổi của giai cấp
công nhân Việt Nam .
Bước vào những thập niên của thế kỷ XX , cuộc cách mạng khoa học
công nghệ hiện đại , với sự xuất hiện , biến đổi nhanh chóng của một loạt công
nghệ mới như : Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu
mới ...đã tác động mãnh mẽ tới tất cả các nước trên thế giới với những mức độ
khác nhau với những thành quả cực kỳ to lớn, đặc biệt đối với ngành sản xuất
công nghiệp hiện đại .Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đã làm thay đổi
tận gốc, từ công cụ lao động đến đối tượng lao động, từ cách thức sản xuất đến
phương thức quản lý. Công nghệ thông tin đang là nhân tố cốt lõi trong cuộc
cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, nó phản ánh giai đoạn mới về chất
của sản xuất, trong đó hàm lượng trí tuệ chiếm tỷ phần chủ yếu của sản phẩm.
thực tế cho thấy trong thời đại khoa hoc-công nghệ phát triển như vũ bão đã
mang lại nhiều thành tựu lớn . với các phương tiện sản xuất hiện đại, con người
đã vượt qua giới hạn bắt chước thiên nhiên, khai thác thiên nhiên, tiến tới thay
thế thiên nhiên. Công nghệ hiện đại không chỉ tạo ra những sản phẩm có chất
lượng cao hơn, năng suất cao hơn mà còn tiết kiệm được nhiều nguyên vật liệu
và năng lượng. Trong thời đại khoa học - công nghệ, sự thành công của công
nghiệp hóa – hiện đại hóa không còn nhất thiết phụ thuộc và phụ thuộc vào

hỏi phải có chiến lược xây dựng và phát triển giai cấp công nhân Việt Nam trở
thành lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước.
chỉ có như vậy mới không bỏ lỡ cơ hội do cách mạng khoa học-công nghệ đem
lại và mới có thể khai thác tối đa ngững thuận lợi và đồng thời hạn chế đến mức
thấp nhất ngững khó khăn trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới theo dịnh
hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi chiến lược “đi tắt đón đầu”.

10


1.3. Tác động của tình hình chính trị thế giới đến sự biến đổi của giai
cấp công nhân Việt Nam.
Trong thế kỷ XX , nhân loại đã từng chứng khiến biết bao những biến đổi
không ngừng , khoa hoc - công nghệ tiến nhanh chưa từng thấy, kinh tế phát
triển mạnh mẽ xen lấn những cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản thế giới và
sự phân hóa giàu nghèo diễn ra một cách gay gắt giữa các nước, các khu vực.
Trong thế kỷ XX cũng diễn ra hai cuộc chiến tranh thế giới đẫm máu cùng hàng
trăm cuộc xung đột vũ trang, làm hàng trăm triệu người chết và biết bao hậu quả
nặng nề khác do chiến tranh để lại. Thế kỷ này cũng chứng kiến một phong trào
cách mạng sâu rộng trên phạm vi toàn thế giới, với thắng lợi của cuộc cách
mạng tháng mười nga - cuộc cách mạng vĩ đại. Một thời đại mới, thời đại quá độ
từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới vào những
thập niên cuối của thế kỉ XX, nhân loại cũng chứng kiến một thực tế . Chủ nghĩa
xã hội hiện thực lâm vào thoái trào, chế độ xã hội chủ nghĩa ở liên xô và đông âu
sụp đổ, một tổn thất to lớn không gì so sánh được đối với phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế, đối với nhân loại tiến bộ. những sự kiện chính trị vào
những năm 90 của thế kỷ XX khiến phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
phải gánh chịu những hậu quả nặng nề. Cũng trong tình hình đó chủ nghĩa đế
quốc ra sức tấn công nhằm tiêu diệt các đảng cộng sản và chế độ chủ nghĩa xã
hội. Những quan điểm chính trị phản động thâm nhập vào nước ta với nhiều con

hiện đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh của đời sống xã hội nhất là về mặt kinh tế.
Trên 15 năm qua, đảng và nhà nước ta đã tiến hành đồng bộ một loạt chính sách
cải cách kinh tế : Phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa - hiện đại hóa, thực hiện nhất quán lâu dài chính sách phát triển
khinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động thực hiện chiến lược
kinh tế mở tăng cường hợp tác đầu tư với nước ngoài, tiếp tục đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế Đảng và nhà nước thực hiện chủ trương công nghiệp hóa – hiện
đại hóa đất nước theo cơ chế thị trường và mở rộng hơp tác liên doanh với bên
ngoài. Do đó , đòi hỏi phải áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công
nghệ để nâng cao khả năng cạnh tranh hàng hóa trên thị trường trong nước và
quốc tế. Sự hội nhập vào nền kinh tế cũng đang đòi hỏi phải phát triển các ngành
12


công nghệ cao. Đó là những công nghệ dựa vào những thành tựu mới nhất của
khoa học hiện đại như : công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và vật liệu
mới ... Tất cả những điều trên chỉ ra rằng sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại
hóa đất nước, sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới, sự hình thành các khu công
nghiệp, các khu chế xuất đã và đang đặt ra những đòi hỏi mới về số lượng và
chất lượng công nhân. Để đáp ứng yêu cầu của công trình khoa học-kĩ thuật và
công nghệ hiệ đại.thứ nhất, cần phải có một đội ngũ cán bộ quản lý vững vàng,
có trình độ chuyên môn cao. Thứ hai, cần có một đội ngũ kỹ sư giỏi. thứ ba, cần
có một đội ngũ tri thức và có một đội ngũ công nhân, kỹ thuật lành nghề, có tác
phong công nghiệp, có tính kỉ luật cao, có khả năng làm việc.Bên cạnh việc,
công nghiệp hóa- hiện đại hóa làm cho giai cấp công nhân biến đổi về số lượng,
về chất lượng nó còn làm biến đổi về cơ cấu xã hội của giai cấp công nhân.
Cùng với chủ trương chính sách phát triển kinh tế của Đảng và nhà
nước là những chủ trương, chính sách xã hội cũng đã thúc đẩy sự biến đổi của
giai cấp công nhân Việt Nam như chính sách tuyển dụng và cho thôi việc, chính
sách tiền lương, tiền công, chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng lao động kĩ

vô sản công nghiệp”. Lênin cũng khẳng định vai trò của công đoàn đối với việc
xây dựng giai cấp công nhân : “Giai cấp vô sản ở bất cứ nước nào trên thế giới
cũng phát triển và chỉ có thể phát triển bằng con đường công đoàn, bằng sự tác
động qua lại giữa công đoàn và đảng của giai cấp công nhân” .còn Hồ Chí Minh
khẳng định : “tổ chức công hội trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho
tình cảm, hai là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang các sinh hoạt của
công nhân cho khá hơn, bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là để
giáp cho quốc dân, giúp cho thế giới” , “công hội là cơ quan của nhân để chống
lại tư bản và chủ nghĩa đế quốc”.
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa công đoàn là thành viên của hệ thống
chính trị, là cơ quan đại diện cho quyền lợi của giai cấp công nhân và thông qua
đó công nhân thực hiệnquyền làm chủ của mình và quan hệ bình đẳng với các
thành tố khác, đặc biệt là đối với đảng và nhà nước .
Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã họi chủ nghĩa, mở cửa,
hội nhập tồn tại nhiều hình thức sản xuất kinh doanh của nhiều thành phần kinh
14


tế nên vai trò của hoạt động cộng đồng công đoàn ngày càng mở rộng, đặc biệt
trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thậm chí còn chưa có tổ chức Đảng.
với hoạt động của mình công đoàn đã giúp công nhân tham gia tích cực vào
công tác xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất, kinh doanh. Công đoàn tổ chức
cac phong trào thi đua yêu nước lôi cuốn công nhân tham gia trong việc hoàn
thành nhiệm vụ chính trị của dơn vị để từ đó nâng cao giác ngộ chính trị cho giai
cấp công nhân. Trước yêu cầu của thời kì phát triển mới của đất nước, thời kì
đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước diễn ra trong cơ chế thị
trường mở của tổ chức, hoạt động của công đoàn đã tác động trực tiếp tới sự
nghiệp xây dựng và phát triển giai cấp công nhân ngày càng lớn mạnh cả về số
lượng lẫn chất lượng.

các ngành công nghiệp mới ra đời, tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ giai cấp
công nhân nước ta do cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch mạnh mẽ nên lượng
công nhân phân bố không đều trong các lĩnh vực kinh tế quốc dân.
Lượng công nhân chủ yếu tập trung trong sản xuất công nghiệp (chiếm
57%) thương nghiệp dich vụ (20%) và xây dựng , giao thông vận tải (17%),
riêng lĩnh vực nông nghiệp thu hút lượng công nhân thấp nhất chỉ 6%. Các
16


ngành kinh tế thu hút lớn nhất hiện nay là xây dựng(608.000 người), thương
nghiệp (387.000 người), và da giầy (330.413 người). theo dự đoán đến cuối
năm 2010, tỉ lệ lao động nông nghiệp nước ta giảm xuống còn khoảng 50% so
với trước, tức là khoảng 28,4 triệu người. tỷ lệ lao động công nghiệp và dịch vụ
tăng lên khoảng 23-24 % tức là khoảng 13,6 triệu người .
Trong quá trình đổi mới , nước ta tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại
hóa không giống như quá trình công nghiệp hóa ở các nước tư bản chủ nghĩa.
Công nghiệp hóa – hiện đại hóa của chúng ta diễn ra trong cơ chế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế tư nhân được khuyến khích kinh tế phát
triển dưới sự quản lý của nhà nước. kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo và
cùng với kinh tế tập thể là nền tảng của kinh tế quốc dân. Bởi vậy, một khi công
nghiệp hóa – hiện đại hóa được đẩy mạnh thì cơ cấu xã hội _ giai cấp cũng có sự
biến đổi thích ứng, cụ thể là đội ngũ công nhân và lao động Việt Nam đã tăng
nhanh và có sự chuyển dịch giữa các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế.
Tính đến cuối năm 2005 , tổng số công nhân lao động trực tiếp làm việc trong
các doanh nghiệp và các cơ cấu kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế nước ta là
11,3 triệu người chiếm 13,5 % dân số và 26.4 % lực lượng lao động xã hội . Lực
lượng này bao gồm 1.84 triệu công nhân doanh nghiệp nhà nước ; 2.95 triệu
công nhân doanh nghiệp ngoài nhà nước ; 1.21 triệu công nhân doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài ; 5.29 triệu công nhân trong các cơ sở kinh tế cá thể . Số
lượng công nhân làm việc trong các doanh nghiệp hiện nay tăng 2.14 lần so với

Đơn vị triệu người
Tiêu chí
Dân số cả nước

2002
78.686

2003
79.72

2004
80.900

2005
83.110

39.507

7
40.53

41.586

42.709

2.806

4.658

7

Tổng số lao động trong

1995
71.996
33.030

18


!

!

U

A

4'

}F}vu

}F•vS

}Fu•c

SF}s{

SFcSS

aFcsS

%

A

&

c}}•

2. Trình độ học vấn chuyên môn đang được nâng cao lên , gắn với trẻ
hóa đội ngũ công nhân .
;
.

"&

V

:

&

4'

Fd

6'

5 j IIY *

)> "! "7
5' A

Q

]*

= *

1 "! "C
*

2

3

?

5 # .

8 "&

3

t


5

.

N

;

E

:
) /F

.

=

Svw•

Svu{ j "

4'

B

)

7



5

' @ $

1' @ )

#

3

)

t +? !

E

M

3

3
!

5 !> # ! t

1

2
'

cũng có nghĩa là giai cấp công nhân nước ta thực sự là lực lượng sản xuất chủ
yếu của xã hội . Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đát nước không chỉ
kéo theo sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế đổi mới kỷ thuật công nghệ trong sản
xuất mà còn đòi hỏi chất lượng lao động ngày càng tăng.Khi kinh tế tri thức ở
Việt Nam được định hình và khẳng định thì chắc chắn tầng lớp tri thức sẻ đóng
vai trò quan trọng trong việc quản lý điều hành các quá trình công nghệ của nền
sản xuất hiện đại . đội ngũ công nhân khi đó sẻ được bổ sung thêm vào thành
phần của mình bộ phận “ công nhân tri thức” họ vẫn là lực lượng sản xuất chủ
yếu , hiện thực hóa những tư tưởng , những phát minh khoa học thành vật phẩm
công nghiệp thông minh hữu ích phục vụ và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
đời sống con người và đương nhiên giai cấp công nhân vẫn sẻ là lực lượng chủ
21


yếu biến những quan điểm , tư tưởng . Đường lối chính sách kinh tế của đoảng
và nhà nước thành hiện thực sinh động trên đất nước ta .
4. Xu hướng công nhân luân chuyển nghề nhiều lần và một bộ phận
công nhân phải sớm ra khỏi dây chuyền sản xuất sẻ diễn ra thường xuyên .
Đây là xu hướng mới phát triển trong nền kinh tế tị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa ở nước ta . Từ khi nước ta thực hiện luật lao động và luật doanh
nghiệp hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể và người công nhân vào
thế phù thuộc nhiều hơn vào người sử dụng lao động . cơ chế thị trường luôn
diễn ra sự thay đổi cơ cấu sản xuất , cơ cấu sản phẩm và thay đổi công nghệ để
dành lại thế cạnh tranh . đặc biệt ở nước ta phổ biến là doanh nghiệp vừa và nhỏ
nên rất năng động và sáng tạo trong việc ứng dụng những thành tựu khoa học
công nghiệ và qua đó nó cũng năng động hơn trong việc chuyển đổi ngành nghề
và quy trình công nghệ sản xuất , kinh doanh theo định hướng đáp ứng những
đòi hỏi thiết thực của thị trường khi doanh nghiệp thay đổi nhiệm vụ sản
xuất,kinh doanh, thay đổi ngành nghề và để khỏi bị thât nghiệp người công nhân
buộc phải học tập để nâng cao trình độ ,học vấn, chuyên môn tay nghề để có thể

hướng gia tăng.Điều đáng chú ý là hiện nay có sự chênh lệch giữa các công
nhân.Theo bộ lao đông thương binh và xã hội,lương bình quân hiện nay của lao
động Việt Nam trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 74,024
USD/tháng

(tương

đương1.029.000đ/tháng)

mức

lương

cao

nhất

la

37USD/tháng(450.000/tháng).Theo báo “người lao động” số ra ngày 11/09/1999
qua hai tháng thực hiện chuyển sang trả lương bằng tiền đồng Việt Nam ở các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Thành Phố Hồ Chí Minh, sự chênh
lệch tiền lương giữa người quản lý và người lao động là quá lớn.Tính đên tháng
9/1999 đã có 175 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với 4915 lao động
Việt Nam đang làm việc báo cáo về mức lương chuyển đổi sang tiền đồng Việt
Nam.Theo báo cáo này thì mức lương của người lao động Việt Nam đạt trên 1.7
triệu đồng/tháng và bình quân thấp nhất là 765.000đ/tháng.Lương bình quân cao
nhất là ở các ngành tư vấn thiết kế xây dựng 3,5 triệu đồng/tháng;điện tử- tin
học 2-4 triệu đồng/tháng... cá biệt có một số doanh nghiệp sử dụng 34 lao động
mức lương bình quân 1 triệu đông/người/tháng,song có người lĩnh lương cao

một số công nhân có thu nhập cao, vẫn có một số đông công nhân có thu nhập
thấp đời sống gặp nhiều khó khăn.Trong bối cảnh như vậy cũng nảy sinh nhiều
vấn đề và diễn biến phức tạp.Đa phần công nhân phát huy được bản chất cách
mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng trước sự phát triển phức tạp của thời cuộc,
giai câp công nhân nước ta vẫn tin tưởng, nhất trí với đường lối đổi mới của
24


Đảng, luôn luôn nêu cao tinh thần vượt mọi khó khăn, ra sức thực hiện đường
lối đổi mới,đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước.Bên cạnh đó cũng
có một bộ phận công nhân đi học tập ở nước ngoài về làm việc.Trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với mức lương hơn hăn công nhân làm việc
trong các khu vực quốc doanh sinh ra tư tưởng “sùng ngoại”, đây là vấn đề tư
tưởng rất đáng lưu ý bởi vì hiện nay cuộc đấu tranh giữa hai ý thức hệ: xã hội
chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa diễn ra phức tạp. Chiến lược “diễn biến hòa bình”
của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với chủ nghĩa xã hội ngày
càng thâm độc, xảo quyệt, nguy hiểm hơn.cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, đấu
tranh chính trị giữa hai con đường trở nên phức tạp hơn,đòi hỏi bản lĩnh và sự
giác ngộ lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp của giai cấp công nhân phải được giữ
vững và tăng cường.Trong khi đó một bộ phận cán bộ đảng viên và công nhân
có biểu hiện phai nhạt lý tưởng, có lối sống đạo đức xa lạ với bản chất giai cấp
công nhân.Những diễn biến về tư tưởng trong công nhân vẫn còn phức tạp, đòi
hỏi đảng, nhà nước và các tổ chức công đoàn phải có nhận thức đúng và có giải
pháp khắc phục, đồng thời cũng đòi hỏi bản thân công nhân phải phát huy hơn
nữa bản lĩnh chính trị, ý thức dân tộc, tinh thần làm chủ,ra sức học tập nâng cao
nâng lực và trình độ, nắm băt trình độ khoa học kỹ thuât công nghệ hiện đại,
tham gia cải tiến quản lý sản xuất nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuấtkinh doanh để xứng đáng với sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình.
7. Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng mang tính quốc tế và tính
hiện đại.
Ở Việt Nam, xuất thân từ một nước nông nghiệp, là sản phẩm của chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status