Áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tòa án nhân dân, từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

CAO VĂN CẦN

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH
CHÍNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

CAO VĂN CẦN

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH
CHÍNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số

: 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐỖ MINH KHÔI


2.2. Thực trạng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân
hai cấp tỉnh Quảng Nam .................................................................................. 39
2.3. Những vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn áp dụng các biện pháp xử lý
hành chính tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Nam .............................. 46
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
VIỆC XEM XÉT, ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM ...... 56
3.1. Định hướng bảo đảm áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án
nhân dân .......................................................................................................... 56


3.2. Gải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác xem xét, áp dụng các biện
pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân .................................................... 64
3.3. Các giải pháp tại tỉnh Quảng Nam ........................................................... 72
KẾT LUẬN .................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADPL

: Áp dụng pháp luật

BPXLHC

: Biện pháp xử lý hành chính

CSCNBB



; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về

Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định rõ “nhiệm vụ của cải
cách tư pháp là bảo đảm để Tòa án là trung tâm và xét xử là hoạt động trọng
tâm”[2]. Do đó, khi nói đến Tòa án, mọi người nghĩ ngay đến đây là cơ quan
nhân danh Nhà nước xét xử các loại án, cách hiểu này không sai nhưng chưa
đầy đủ về chức năng, nhiệm vụ hiện nay của Tòa án vì sau khi Luật xử lý vi
phạm hành chính được Quốc hội thông qua năm 2012, có hiệu lực từ
01/7/2013, thì bên cạnh chức năng giải quyết, xét xử các loại án, Tòa án (Tòa
án nhân dân) còn được giao thêm chức năng xem xét, áp dụng các biện pháp
xử lý hành chính như Đưa vào Trường giáo dưỡng, Đưa vào cơ sở Giáo dục
bắt buộc và Đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Theo đó kể từ ngày 01/01/2014, thì việc xem xét, áp dụng các biện
pháp xử lý hành chính như Đưa vào Trường giáo dưỡng, Đưa vào Cơ sở giáo
dục bắt buộc và Đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc do Tòa án nhân dân xem
xét, quyết định thay vì do Chủ tịch UBND hay Trưởng Công an huyện như
trước đây.
Để thi hành quy định này, ngày 20/01/2014, Ủy ban Thường vụ Quốc
hội đã ban hành Pháp lệnh số: 09/2014/UBTVQH13 quy định trình tự, thủ tục
xem xét, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Việc chuyển giao này là kết quả của quá trình cải cách tư pháp ở nước
ta vì xét về bản chất thì các biện pháp xử lý hành chính Đưa vào Trường giáo
1
2

Điều 102 Hiến pháp năm 2013
Nghị quyết số 49-NQ/TW.

1


2


chất hành chính, chế tài mà các biện pháp này tác động đến các đối tượng bị
áp dụng không quá nghiêm khắc như chế tài hình sự; mặt khác đây là lĩnh vực
mới, là nhiệm vụ, chức năng mới của Tòa án nhân dân nên trong những năm
90 của thế kỷ 20 tuy có một số công trình khoa học nghiên cứu các đề tài về
xử lý vi phạm hành chính nói chung nhưng nhìn chung là không nhiều. Riêng
vấn đế về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì có
rất ít nhà khoa học quan tâm nghiên cứu đến và phải đến khi Luật xử lý vi
phạm hành chính năm 2012 được thông qua và có hiệu lực thi hành thì lĩnh
vực này mới bắt đầu thu hút sự chú ý quan tâm của các nhà khoa học. Trong
đó có thể kể đến các đề tài như: Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Các biện pháp
xử lý hành chính khác và việc bảo đảm quyền con người” do Vụ Pháp luật
Hình sự - Hành chính, Bộ Tư pháp thực hiện năm 2008; Đề tài khoa học cấp
Bộ “Cơ chế bảo đảm thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính” do Vụ Pháp
luật Hình sự Hành chính, Bộ Tư pháp thực hiện năm 2012; “Báo cáo đánh
giá về các biện pháp xử lý hành chính khác và khuyến nghị hoàn thiện trong
Luật xử lý vi phạm hành chính” do Dự án tăng cường tiếp cận quyền và bảo
vệ công lý tại Việt Nam thực hiện năm 2010. “Báo cáo hoàn thiện các biện
pháp xử lý hành chính khác trong Luật xử lý vi phạm hành chính” do Dự án
tăng cường tiếp cận quyền và bảo vệ công lý tại Việt Nam thực hiện năm
2011; Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Các biện pháp xử lý hành chính khác và
việc bảo đảm quyền con người” của tác giả Đặng Thanh Sơn, Bộ Tư Pháp là
chủ biên năm 2009; Luận án phó tiến sĩ: “Chế tài hành chính – Lý luận và
thực tiễn”, của tác giả Vũ Thư, Viện Nhà nước và Pháp luật, năm 1996 (từ
năm 1998 đổi thành tiến sĩ); Luận văn thạc sĩ luật: “Hoàn thiện các quy định
pháp luật về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính”, của tác giả Nguyễn
Trọng Bình, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2002; Luận văn thạc sĩ luật

tại Tòa án nói riêng, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn
diện, có hệ thống về áp các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Do vậy, việc nghiên cứu một cách đầy đủ về lý
luận và thực tiễn áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân

4


trên địa bàn tỉnh Quảng Nam là rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Qua quá trình nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về áp dụng các
biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, làm rõ thực trạng áp dụng
các biện pháp này của các Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc Tòa án nhân dân
hai cấp tỉnh Quảng Nam. Từ đó chỉ rõ những tồn tại hạn chế, bất cập trong
việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam và đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy
định pháp luật về áp dụng các biện pháp xử lý tại Tòa án nhân dân nói chung,
những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp này tại các
Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Nam
nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
Để đạt mục đích đặt ra ở trên, luận văn tập trung thực hiện những
nhiệm vụ sau:
+ Tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật có liên quan cùng
một số vấn đề lý luận chung về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại
Tòa án nhân dân, trên cơ sở các thành tựu của khoa học pháp lý hiện đại.
+ Đánh giá thực tiễn áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án
nhân dân trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, làm rõ những hạn chế, bất cập và
nguyên nhân của chúng.

Về thời gian
Luận văn nghiên cứu việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại
Tòa án nhân dân từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam trong khoảng thời gian từ năm
2014 đến hết năm 2018.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu đứng trên cơ sở phương pháp luận, quan
điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đứng trên đường lối nhất quán về chính

6


sách xử lý các vi phạm hành chính của Đảng và Nhà nước ta. Từ đó, luận văn
rút ra những kết luận và kiến nhằm hoàn thiệc chế định áp dụng các biện pháp
xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một cách tổng thể các phương pháp nghiên cứu cụ
thể như: Phương pháp tổng hợp, phân tích, phương pháp thống kê, phương
pháp hệ thống lịch sử và phương pháp so sánh pháp luật.
Nghiên cứu toàn diện chính sách xử lý hành chính của Đảng và Nhà
nước ta được thể hiện qua các Nghị quyết, Chỉ thị. Nghiên cứu đầy đủ Luật
xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, áp dụng các
biện pháp xử lý vi phạm hành chính tại Tòa án nhân dân cùng các văn bản
quy phạm pháp luật khác liên quan đến áp dụng các biện pháp này của Tòa án
nhân dân tối cao và các cơ quan có liên quan. Ngoài ra luận văn tiến hành
thống kê, phân tích các số liệu (số liệu thống kê áp dụng các biện pháp xử lý
hành chính tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Nam) để làm rõ thực tiễn
áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam.
6. Ý nghĩa và những đóng góp của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận
văn gồm có ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về áp dụng biện pháp xử lý hành chính
tại Tòa án nhân dân.
Chương 2: Thực trạng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa
án nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về xem
xét, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân và nâng cao hiệu
quả áp dụng các biện pháp này từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.

8


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP HÀNH
CHÍNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1. Khái niệm, tính chất, đặc điểm áp dụng các biện pháp xử lý
hành chính tại Tòa án nhân dân
1.1.1. Khái niệm áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án
nhân dân
Trên cơ sở kế thừa các quy định của Nghị quyết số 49 năm 1961 ngày
20 tháng 6 năm 1961; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995, ngày 06
tháng 7 năm 1995 và Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội. Ngày 20 tháng 6 năm 2012 Luật xử lý vi phạm
hành chính được Quốc Hội thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2013. Đây là Luật xử lý vi pham hành chính đầu tiên của nước
ta, Điều 1 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định “Luật này quy
định về xử phạt hành chính và các biện pháp xử lý hành chính”. Như vậy,
có nghĩa là “ Xử lý vi phạm hành chính” được cấu thành bởi hai nội dung cơ
bản là biện pháp “xử phạt vi phạm hành chính” và biện pháp “xử lý hành

ban nhân dân sang cho TAND là một bước chuyển đổi về chất. Mục đích của
việc chuyển đổi này là hướng tới việc bảo đảm tính công khai, minh bạch,
bình đẳng trong quá trình xem xét, quyết định áp dụng các BPXLHC, bảo vệ
tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành
chính, tạo cho họ có nhiều cơ hội để vệ quyền lợi của mình; phù hợp với quá
trình hội nhập quốc tế, đảm bảo các quyền con người, quyền công dân.
Xét về bản chất thì các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án xem xét,
quyết định áp dụng là những biện pháp mang tính cưỡng chế nhà nước, trực
tiếp ảnh hưởng đến một số quyền cơ bản của con người. Người bị áp dụng các
biện pháp xử lý hành chính ít nhiều bị hạn chế tự do và một số quyền lợi
khác, vì vậy, việc áp dụng các biện pháp này cần phải được thực hiện theo
3

Điều 102 Hiền pháp năm 2013

10


trình tự, thủ tục chặt chẽ, dân chủ, công khai, bảo đảm khách quan, chính xác.
Đây là vấn đề hoàn toàn mới, mang tính đột phá. Việc chuyển giao
thẩm quyền từ chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) sang Tòa án nhân dân
(TAND) huyện dẫn đến sự thay đổi lớn về quy trình áp dụng, đó là xem xét,
quyết định theo thủ tục tư pháp và được tiến hành bằng phiên họp do một
Thẩm phán Tòa án nhân dân chủ trì cùng với sự tham gia của đại diện Viện
kiểm sát cùng cấp, đại diện cơ quan đề nghị, người bị đề nghị, cha mẹ hoặc
người giám hộ của người bị đề nghị ... Do đó sẽ đảm bảo được tính công khai,
minh bạch; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị...
Các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân tiến hành trong
Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, có nguồn gốc ban đầu là biện pháp
cưỡng chế hành chính đặc biệt, xuất phát từ Nghị quyết 49 năm 1961 của Ủy

pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền
con người”[5] đã được khẳng định tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02
tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị.
Như vậy, Áp dụng các biện pháp xử lý hành chính là một hình thức
thực hiện pháp luật của Tòa án nhân dân, được tiến hành trên cơ sở quy định
của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nhằm xem xét, quyết định áp dụng
biện pháp cưỡng chế hành chính bắt buộc đối với cá nhân có hành vi vi phạm
pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm.
1.1.2. Đặc điểm áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
1.1.2.1. Áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân là
quá trình cá biệt hóa các quy phạm pháp luật hành chính đối với hành vi vi
phạm hành chính.
Theo nguyên tắc của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và Pháp
lệnh số 09 năm 2014 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp
dụng các biện pháp xứ lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc xác định sự
thật khách quan của hồ sơ đề nghị xử lý vi phạm hành chính thuộc trách
nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong đó có
Tòa án nhân dân.
Xác định sự thật khách quan của hồ sơ xử lý hành chính bao gồm các
5

Nghị quyết số 49-NQ/TW.

12


việc như xác định các giai đoạn của quá trình thực hiện hành vi vi phạm hành
chính từ khi bắt đầu cho tới khi kết thúc; xác định hành vi đó là hành động
hay không hành động?, hành vi vi phạm pháp luật đó có thuộc phạm vi xử lý
của Luật hình sự hay không… Nếu không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật

lập hồ sơ đề nghị xử lý vi phạm hành chính (Công an hoặc UBND …) đã thu
thập được và kết quả thẩm tra tại phiên họp để ra quyết định áp dụng một
trong ba biện pháp xử lý hành chính tại TAND đối với người có hành vi vi
phạm hành chính được khách quan, chính xác, đúng pháp luật được thực hiện
chủ yếu tại phiên họp tại TAND nhằm xem xét, đánh giá chứng cứ thu thập
được trong quá trình lập hồ sơ đề nghị xem xét việc áp dụng các biện pháp xử
lý một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Hoạt động áp dụng các biện
pháp xử lý hành chính của TAND được tiến hành thông qua phiên họp được
tổ chức tại trụ sở của TAND nơi thụ lý hồ sơ. Điều đó thể hiện uy quyền của
Nhà nước mà cơ quan đại diện là TAND. Việc phiên họp công khai tại trụ sở
Tòa án không chỉ thể hiện sự tôn nghiêm của pháp luật mà còn đảm bảo tính
công khai, đảm bảo sự tham gia, giám sát của Nhân dân. Qua đó, các quyền tự
do, dân chủ của công dân, quyền lợi ích hợp pháp của Nhà nước được đảm
bảo; các quyền và nghĩa vụ của Nhà nước, của công dân, các tổ chức được
pháp luật bảo vệ, công bằng xã hội được thực hiện triệt để, nghiêm túc.
Phiên họp xem xét việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại
TAND được diễn ra dưới sự chủ trì của Thẩm phán. Tại đây, người bị đề nghị
áp dụng biện pháp xử lý có quyền công khai trình bày ý kiến về việc mình bị
đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là đúng hay sai và có quyền đưa
ra chứng cứ và tham gia tranh luận bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình…
Những người tham gia phiên họp còn phải chấp hành nghiêm chỉnh nội quy
phiên họp, nếu vi phạm thì tùy theo mức độ sẽ bị Thẩm phán xử lý theo quy
định của pháp luật. Thông qua phiên họp tại TAND, các cơ quan công luận đã
tham gia việc giám sát trực tiếp đối với cơ quan Tòa án trong việc áp dụng
các biện pháp xử lý hành chính tại TAND, đây cũng chính là cơ sở xem xét,
đánh giá chất lượng công tác áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại

14





nghiện bắt buộc; Việc hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định áp dụng
BPXLHC; giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian
áp dụng BPXLHC còn lại; Trình tự, thủ tục khiếu nại, kiến nghị; giải quyết
khiếu nại, kiến nghị đối với các quyết định của Tòa án, hành vi của người có
thẩm quyền của Tòa án trong việc xem xét, quyết định áp dụng BPXLHC.
Với quy định như vậy, pháp luật hiện hành đã có những tác động tích
cực trong việc bảo vệ quyền con người trong quá trình áp dụng các BPXLHC.
1.1.3. Tính chất áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân
dân
Về mặt lý luận, việc xem xét, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
là hoạt động áp dụng và thực hiện pháp luật của Tòa án nhân dân, là quá trình
hoạt động của các Thẩm phán trên cơ sở thẩm quyền được giao và quy định
của pháp luật quy định về trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động để xem
xét, áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với các cá nhân có
hành vi vi phạm. Giống các hoạt động áp dụng pháp luật khác, hoạt động xem
xét, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đòi hỏi các Thẩm phán phải tuân
thủ nguyên tắc mang tính bắt buộc đó là sự tuân thủ pháp luật, dựa trên quy
định của pháp luật hay nói cách khác các Thẩm phán chỉ được tiến hành các
họat động mà pháp luật cho phép, các hoạt động không phù hợp với quy định
của pháp luật đều không hợp pháp.
Hoạt động áp dụng và thực hiện pháp luật nói chung bao gồm tuân thủ
pháp luật, chấp hành pháp luật và áp dụng pháp luật.
Tuân thủ pháp luật là việc các chủ thể thực hiện pháp luật không thực
hiện các hành vi xử sự mà pháp luật cấm.
Thi hành pháp luật là việc các chủ thể thực hiện pháp luật chủ động
thực hiện các nghĩa vụ mà pháp luật quy định.
Sử dụng pháp luật là việc các chủ thể thực hiện pháp luật thực hiện các
quyền của mình do pháp luật quy định.

để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai
nghiện bắt buộc. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc từ 12 tháng đến 24 tháng”[8].
1.1.4.3. Biện pháp đưa vào Trường giáo dưỡng
6

https//www.tailieuontap.com
Điều 91 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.
8
Điều 91 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012
7

17


Theo quy định tại Điều 91 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012,
biện pháp Đưa vào Trường giáo dưỡng “Là biện pháp xử lý hành chính áp
dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 92 của
Luật này nhằm mục đích giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt
dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa
vào trường giáo dưỡng từ 06 tháng đến 24 tháng”[9].
1.2. Đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân
dân
1.2.1. Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào Trường giáo dưỡng
Theo quy định tại Điều 92 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì
đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng
gồm:
“1. Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu
của một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu

nhưng không có nơi cư trú ổn định;
2. Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với
các trường hợp sau đây:
a) Người không có năng lực trách nhiệm hành chính;
b) Người chưa đủ 18 tuổi;
c) Nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi;
d) Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện;
đ) Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi
được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận”[11].
1.2.3. Đối tượng áp dụng biện pháp Đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt
buộc
Theo Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì đối tượng
áp dụng biện pháp Đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc gồm:
“1. Là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng các biện
pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp
10
11

Điều 92 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012
Điều 94 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status