Thực hiện chính sách quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ diện ban thường vụ huyện ủy quản lý ở huyện quế sơn, tỉnh quảng nam hiện nay - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VĂN TRÌNH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUY HOẠCH VÀ
BỔ NHIỆM CÁN BỘ DIỆN BAN THƯỜNG VỤ
HUYỆN ỦY QUẢN LÝ Ở HUYỆN QUẾ SƠN,
TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VĂN TRÌNH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUY HOẠCH VÀ
BỔ NHIỆM CÁN BỘ DIỆN BAN THƯỜNG VỤ
HUYỆN ỦY QUẢN LÝ Ở HUYỆN QUẾ SƠN,
TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1.2. Nội dung thực hiện chính sách QH và BNCB ......................................... 16
1.3. Những kinh nghiệm trong QH, BNCB và bài học cho huyện Quế Sơn. .
28
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUY
HOẠCH VÀ BỔ NHIỆM CÁN BỘ DIỆN BAN THƯỜNG VỤ HUYỆN
ỦY QUẢN LÝ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG
NAM ............................................................................................................... 32
2.1. Khái quát về huyện Quế Sơn và cán bộ diện BTVHU quản lý ở huyện
Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam hiện nay. .............................................................. 32
2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách QH và BNCB diện BTVHU
quản





huyện

Quế

Sơn,

tỉnh

Quảng

Nam

............................................................ 40
2.3. Đánh giá chung về thực trạng thực hiện chính sách QH, BNCB thuộc


Ban thường vụ

BN

:

Bổ nhiệm

QH

:

Quy hoạch

QH, BNCB

:

Quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ

CNH, HĐH

:

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

CNXH

:

T
r
a4
0
4
8


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn quan tâm đến cán bộ và công
tác cán bộ. Cán bộ và công tác cán bộ là vấn đề quan trọng quyết định sự
thành bại của cách mạng, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc [22,
tr.269], công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém [22,
tr.240]. Cán bộ và công tác cán bộ càng có ý nghĩa quan trọng hơn khi đất
nước ta đang đẩy mạnh thực hiện đổi mới, tiến hành CNH, HĐH và hội nhập
quốc tế. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba BCH Trung ương (khóa VIII) về chiến
lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước khẳng định: "Cán bộ là
nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của
Đảng, của đất nước và của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng
Đảng [3, tr.1].
Ngày nay, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, công tác cán bộ nói
chung, QH, BNCB nói riêng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong công tác xây
dựng Đảng. Trong thực hiện các chính sách về công tác cán bộ cần phải tuân
thủ nghiêm ngặt những quan điểm cơ bản của Đảng và kiên trì thực hiện
nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán
bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các
tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị. Mọi nội
dung, phương pháp lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ phải được bảo

các chức vụ lãnh đạo, quản lý, tạo thế chủ động trong công tác cán bộ, khắc
phục tình trạng hẫng hụt giữa các thế hệ cán bộ. Thường xuyên đổi mới trong
công tác đề bạt, BNCB, ngoài việc thực hiện các quy định chung, BTV còn
tiếp thu ý kiến nhận xét của tập thể nơi cán bộ được đề bạt, BN, cân nhắc kỹ
tính nổi trội, ưu tiên cán bộ nữ, cán bộ trẻ, thực hiện dân chủ, công khai, minh

2


bạch trong lựa chọn nhân sự để đưa vào QH và BN nên tạo được động lực cho
cán bộ nỗ lực phấn đấu, vươn lên.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách QH,
BNCB tại huyện Quế Sơn vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, khuyết điểm như:
Nhận thức về QH, BNCB và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ có lúc, có
nơi chưa sâu, chưa phát huy hết trách nhiệm của các tổ chức và người đứng
đầu. Quy trình BN chưa chặt chẽ; nguồn cán bộ trong QH thiếu vững chắc, có
lúc còn hẫng hụt, chắp vá, lúng túng, bị động. Công tác đánh giá cán bộ phục
vụ cho QH, BNCB vẫn còn chung chung, chưa có tiêu chí cụ thể. Chưa ban
hành kịp thời hướng dẫn nên quá trình thực hiện còn lúng túng, nhất là ở cấp
xã-thị trấn. Công tác tự phê bình và phê bình ở một số nơi chưa tốt nên việc
QH, BNCB ở một số phòng ban thuộc huyện và xã-thị trấn chưa thật sự
chất lượng. Tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ trẻ được QH, BN vào cấp ủy, BTV và
các chức danh chủ chốt còn thấp. Việc rà soát, bổ sung QH hằng năm của một
số xã-thị trấn vẫn còn sai sót, như: thừa số lượng, không đủ tuổi, 01 chức danh
QH quá 04 người, 01 người QH quá 03 chức danh... Việc BNCB có trường
hợp thực hiện chưa đảm bảo trình độ chính trị (chưa có trình độ trung cấp
chính trị), có trường hợp chưa thực hiện chủ trương khi BN 01 người thì tập
thể lãnh đạo phải đề xuất, giới thiệu nhân sự ít nhất 02 người...
Những hạn chế trên đã làm ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện chính
sách QH, BNCB tại huyện huyện. Vì vậy, học viên chọn đề tài “Thực hiện

Kiên Giang quản lý giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Khoa học chính trị,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [9].
- Vũ Văn Chính (2009), BNCB diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Giang
quản lý giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Khoa học chính trị, Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [2].
- Mạc Xuân Tú (2013), Công tác BNCB diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ
Quảng Ninh quản lý giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị,

4


Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [34].
* Các bài đăng tạp chí khoa học:
- Đỗ Minh Cương (2009), QH cán bộ lãnh đạo quản lý, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội [1].
- Bùi Văn Tiếng (2012), "Kinh nghiệm tạo nguồn cán bộ nhìn từ thực
tiễn Đà Nẵng", Tạp chí Xây dựng Đảng [32].
- Trần Lưu Hải (2015), "Một số vấn đề về QH, luân chuyển cán bộ thành tựu, hạn chế và phương hướng, giải pháp khắc phục", Tạp chí Cộng sản
[7].
- Lê Xuân Lịch (2017), "Công tác QH cán bộ - 20 năm nhìn lại", Tạp chí
Xây dựng Đảng [20].
- Trần Minh Tuấn (2007), "Về thí điểm bổ nhiệm, đề bạt cán bộ sau khi
cán bộ trình đề án", Tạp chí Xây dựng Đảng [35].
- Hồ Đức Việt (2007), "Quán triệt sâu sắc, thực hiện đúng, thống nhất
các quy chế, quy định về công tác cán bộ", Tạp chí Xây dựng Đảng [36].
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích: Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng thực hiện chính
sách QH, BNCB diện BTVHU quản lý trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh
Quảng Nam, Luận văn đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
trên trong tương lai.

Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin. Trong quá trình triển khai, luận văn sử dụng tổng hợp các
phương pháp nghiên cứu cụ thể: tổng kết thực tiễn, phân tích và tổng hợp,
lôgíc và lịch sử, thống kê, điều tra, so sánh,...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần đánh giá đúng thực trạng, bổ sung, làm rõ cơ sở lý
luận trong việc thực hiện chính sách QH và BNCB diện BTVHU Quế Sơn,
tỉnh Quảng Nam quản lý.

6


Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong thực hiện chính sách
QH, BNCB tại địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách QH,
BNCB diện BTVHU quản lý
- Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách QH và BNCB diện
BTVHU
quản lý trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách QH và BNCB diện BTVHU quản lý ở huyện Quế Sơn.


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
QUY HOẠCH VÀ BỔ NHIỆM CÁN BỘ DIỆN BAN THƯỜNG VỤ
HUYỆN ỦY QUẢN LÝ

quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị
sự nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây
gọi là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách
nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự
nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp
công lập theo quy định của pháp luật [23, tr.1].
1.1.1.3. Viên chức
Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm,
làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng
lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp
luật.
1.1.1.4. Cán bộ diện BTVHU Quế Sơn quản lý
Trên cơ sở Quyết định số 67-QĐ/TW ngày 04-7-2007 của Bộ Chính trị
(khóa X) ban hành quy định về phân cấp quản lý cán bộ và Quyết định số
2147-QĐ/TU, ngày 14-01-2015 của BTV Tỉnh ủy Quảng Nam về phân cấp
quản lý cán bộ, BTVHU Quế Sơn đã ban hành Quyết định số 751-QĐ/HU,
ngày 10-4-2015 về phân cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo,
quản lý. Theo quyết định trên, cán bộ diện BTVHU Quế Sơn quản lý gồm:
- Các cơ quan cấp huyện: Ủy viên BCH Đảng bộ huyện (trừ các đồng


chí thuộc diện BTV Tỉnh ủy quản lý), Ủy viên UBKT (UBKT) Huyện ủy;
Phó Chủ tịch HĐND, UBND, Ủy viên Thường trực HĐND huyện; Trưởng,
phó phòng, ban và tương đương; Chủ tịch, phó chủ tịch Ủy ban MTTQ
huyện; trưởng, phó các đoàn thể chính trị-xã hội thuộc huyện; Bí thư, phó bí
thư, ủy viên BTV các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc Huyện ủy.
- Các xã-thị trấn: Bí thư, phó bí thư đảng ủy; ủy viên BTV đảng ủy; chủ
tịch, phó chủ tịch HĐND, UBND; Chủ nhiệm UBKT Đảng ủy; chủ tịch Uỷ
ban MTTQ xã-thị trấn.

mạng nào, ở bất cứ lĩnh vực, địa phương nào, cán bộ cũng đóng vai trò quyết
định. Như Bác Hồ đã dạy: "Cán bộ là cái gốc của công việc", "mọi việc thành
công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" [22, tr.269].
- Theo Lê Văn Lý thì: "QH cán bộ là việc lập dự án thiết kế xây dựng
tổng hợp đội ngũ cán bộ, dự kiến sắp xếp tổng thể đội ngũ cán bộ theo một ý
đồ nhất định với một trình tự hợp lý, trong một thời gian nhất định, làm cơ sở
cho việc lập kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ" [21, tr.61].
Từ đây có thể hiểu: QHCB là việc thực hiện những công việc, nhiệm vụ
theo những trình tự, thủ tục quy định để ban hành quyết định của cấp ủy có
thẩm quyền về danh sách cán bộ (được gọi là cán bộ QH) được sắp xếp vào
các chức danh để làm cơ sở thực hiện kế hoạch rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng
và giới thiệu ứng cử, BN chức danh đó trong tương lai khi có yêu cầu và thỏa
mãn những điều kiện cho phép.
1.1.2.2. BNCB
BNCB được hiểu là việc cấp có thẩm quyền giao cho ai đó giữ một
trọng trách, một vị trí ở từng cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị. Theo
cách hiểu này thì chưa thấy được đầy đủ nội dung sâu xa của BNCB, dễ đánh
đồng với khái niệm đề bạt, cất nhắc, bố trí cán bộ.


Theo nghĩa từng từ thì "bổ" có nghĩa là phân bổ, bổ sung, giao cho;
"nhiệm" được hiểu là nhiệm vụ, trách nhiệm, nhiệm kỳ…; ghép lại hai từ trên
có thể hiểu đó là việc phân bổ hay giao cho ai một nhiệm vụ, trách nhiệm và
trong một thời hạn cụ thể. Theo đó BNCB có nghĩa: "Cử cán bộ giữ một chức
vụ trong bộ máy nhà nước, tức là giao cho cán bộ giữ một chức vụ tương
đương hoặc cao hơn.
Luật Cán bộ, công chức năm 2008 định nghĩa: "BN là việc cán bộ, công
chức được quyết định giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc một ngạch theo
quy định của pháp luật" [23, tr.3].
Thực tế ở huyện Quế Sơn, BNCB do BTVHU và UBND huyện quyết

công
1.1.3.1. Chính sách
Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như
sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.
Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực
cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc
vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”
Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có mục
đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà
họ quan tâm.”
Từ tiếp cận trên có thể hiểu: Chính sách là những hành động của chủ thể
với các hiện tượng trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất
định. Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản
lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình.
1.1.3.2. Chính sách công
Hiện nay, có rất nhiều quan niệm về chính sách công. Ở các nước phát


triển và các tổ chức kinh tế quốc tế, thuật ngữ “Chính sách công” được sử
dụng rất phổ biến. Peter Aucoin (1971) cho rằng: chính sách công là các hoạt
động thực tế do chính phủ tiến hành. William Jenkin (1978) cho rằng: chính
sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà
chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục
tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó. Còn theo Thomas R. Dye (1984):
chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm.
Giáo trình chính sách kinh tế - xã hội “Chính sách kinh tê – xã hội là
tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử
dụng để tác động lên các các đối tượng và khách thể quản lý nhằm giải quyết
vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục
tiêu tổng thể của xã hội”.

kết quả thực tế.
1.1.4. Khái niệm thực hiện chính sách QH và BNCB diện BTVHU
quản lý
Thực hiện chính sách QH và BNCB diện BTVHU quản lý có ý nghĩa
quyết định sự phát triển của huyện. Công tác QH và BNCB có mối quan hệ
chặt chẽ, liên hoàn, đan xen nhau. Việc phát hiện, lựa chọn, QH cán bộ là
khâu then chốt có ý nghĩa quyết định, là tiền đề để BNCB. Thực hiện tốt
chính sách QH cán bộ là tạo điều kiện để BN, để kiện toàn tổ chức và đổi mới
đội ngũ cán bộ.
Từ việc phân tích tầm quan trọng cũng như mối quan hệ trong thực
hiện chính sách QH, BNCB có thể hiểu khái niệm thực hiện chính sách QH và
BNCB diện BTVHU quản lý là tổng thể các hoạt động của các chi, đảng ủy
cơ sở, của các cơ quan, đơn vị, của BTVHU và UBND huyện nhằm sớm phát


hiện, lựa chọn, đưa vào dự nguồn cũng như quyết định bố trí các chức danh
diện BTVHU quản lý. Chủ thể thực hiện chính sách QH, BNCB là BTVHU
và UBND huyện.
1.2. Nội dung thực hiện chính sách QH và BNCB
1.2.1. Những yêu cầu, tiêu chuẩn, thực hiện chính sách
- Phải có sự gắn kết giữa QH cán bộ và BNCB
QH cán bộ là tạo nguồn để chủ động chuẩn bị cán bộ cho việc BN, bố
trí nhân sự. Bố trí nhân sự là lựa chọn cán bộ trong QH để BN, giới thiệu ứng
cử đảm đương ngay vị trí lãnh đạo, quản lý khi có nhu cầu hoặc khi đến kỳ
đại hội, bầu cử.
- Đảm bảo số lượng
Đối với QH BCH, BTV cấp ủy các cấp, cần bảo đảm nguồn QH có số
lượng 1 - 1,5 lần so với số lượng cấp ủy, BTV cấp ủy đương nhiệm.
Đối với chức danh lãnh đạo, quản lý, tối thiểu phải QH 2-3 người vào
01 chức danh; không QH 01 người cho 01 chức danh; không QH 01 người

quy định tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba BCH Trung ương (khóa VIII) và
tiêu chuẩn cụ thể của từng chức danh cán bộ. Nghị quyết đã xác định ba nhóm
tiêu chuẩn chung của đội ngũ cán bộ và tiêu chuẩn đặc thù của bốn nhóm cán
bộ chủ yếu là cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân; cán bộ
khoa học, chuyên gia; cán bộ lực lượng vũ trang; cán bộ quản lý doanh
nghiệp trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH gồm cả đức và tài, trong đó đức là
gốc. Trên cơ sở các quy định của Trung ương, các cấp, các ngành theo phân
cấp quản lý cán bộ có thể cụ thể hóa tiêu chuẩn cho từng chức danh thuộc
thẩm quyền quản lý làm cơ sở cho việc BNCB.
Cán bộ được QH, BN phải có đầy đủ hồ sơ cá nhân, lý lịch được cơ
quan chức năng có thẩm quyền xác minh rõ ràng.


Hồ sơ cán bộ phải bảo đảm đầy đủ các loại giấy tờ: bản sao giấy khai
sinh (nếu có); sơ yếu lý lịch tự khai, được cơ quan chức năng xác minh; bản
sao các văn bằng, chứng chỉ đã qua đào tạo, bồi dưỡng; bản tự nhận xét, đánh
giá của bản thân cán bộ; bản nhận xét, đánh giá của cấp ủy cơ quan, đơn vị
nơi cán bộ đang công tác; bản nhận xét của đại diện cấp ủy hoặc chính quyền
cơ sở nơi cán bộ cư trú thường xuyên về tư cách công dân của cán bộ và gia
đình cán bộ …
Phải có đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Người được
giao chức vụ phải có giấy chứng nhận bảo đảm về mặt sức khỏe do cơ quan y
tế có thẩm quyền cấp để thực hiện nhiệm vụ.
1.2.2. Quy trình thực hiện chính sách QH và BNCB
- Quy trình, thủ tục QH cán bộ.
Trên cơ sở nhận xét, đánh giá cán bộ, chi ủy chi bộ cùng với tập thể
lãnh đạo cơ quan, đơn vị xây dựng kế hoạch, tổng hợp các thông tin cơ bản về
cán bộ gồm: họ tên, năm sinh, tháng năm vào đảng; trình độ học vấn, chuyên
môn, chính trị; chức vụ, đơn vị công tác; kết quả nhận xét, đánh giá phân loại
cán bộ và đảng viên, kỷ luật (nếu có) trong 2 năm gần nhất; và đề xuất danh

Bước 4: Phê duyệt QH
- Quy trình, thủ tục BNCB.
Khi có nhu cầu BNCB lãnh đạo quản lý còn thiếu so với quy định thì
các cơ quan có trách nhiệm phải xin chủ trương của BTVHU. Sau khi có văn
bản đồng ý về chủ trương thì mới tiến hành thực hiện quy trình.
Cụ thể như sau:
+ Đối với bổ sung Ủy viên BCH, Ủy viên BTV, Bí thư, Phó Bí thư,
Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch
UBND huyện: Các chức danh này thực hiện theo quy định của BTV Tỉnh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status