1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, đái tháo đường nói riêng hay các bệnh nội tiết và rối loạn
chuyển hóa nói chung là một vấn đề y tế công cộng mang tính chất toàn cầu,
ảnh hưởng đến sức khoẻ của nhiều người, nhất là trong độ tuổi lao động trên
toàn thế giới [1]. Theo thông báo của Tổ chức Y tế thế giới, tốc độ phát triển
của bệnh đái tháo đường tăng nhanh trong những năm qua.
Theo WHO, năm 1985 có khoảng 30 triệu người mắc đái tháo đường
trên toàn cầu, năm 2004 có khoảng 98,9 triệu người mắc, tới nay khoảng 180
triệu người và con số đó có thể tăng gấp đôi lên tới 366 triệu người vào những
năm 2030 [2].Đây là một trong ba căn bệnh có tốc độ phát triển nhanh nhất và
là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước đang
pháttriển.
Năm 2003, toàn thế giới có 171,4 triệu người mắc bệnh đái tháo đường,
dự đoán sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030, mỗi ngày có khoảng 8.700 người chết
liên quan đến đái tháo đường [3]. Việt Nam không xếp vào 10 nước có tỷ lệ
mắc đái tháo đường cao nhưng lại là quốc gia có tốc độ phát triển bệnh nhanh.
Một nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương vào cuối tháng 10 - 2008
cho thấy, tỷ lệ mắc đái tháo đường ở Việt Nam tăng nhanh từ 2,7% (năm
2001) lên 5% (năm 2008), trong đó có tới 65% người bệnh không biết mình
mắc bệnh [4].
Đái tháo đường là bệnh mang tính xã hội cao ở nhiều quốc gia bởi tốc độ
phát triển nhanh chóng, mức độ nguy hại đến sức khoẻ. Đái tháo đường còn
trở thành lực cản của sự phát triển, gánh nặng cho toàn xã hội khi mà mỗi
năm thế giới phải chi số tiền khổng lồ từ 232 tỷ đến 430 tỷ USD cho việc
phòng chống và điều trị [4], [5]. Việc phát hiện sớm và quản lý bệnh đái tháo
đường trong cộng đồng là vô cùng cần thiết. Nhiều y văn đã chứng minh rằng
2
TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về bệnh ĐTĐ.
1.1.1. Định nghĩa bệnh ĐTĐ.
Theo Hội ĐTĐ Mỹ (ADA), năm 2006, định nghĩa ĐTĐ: “ĐTĐ type 2 là
bệnh chuyển hóa đặc trưng bởi tăng đường huyết do sự phối hợp giữa kháng
insulin và thiếu đáp ứng insulin”[8].
Theo Liên đoàn ĐTĐ quốc tế (IDF) năm 2010: “ĐTĐ là nhóm những rối
loạn không đồng nhất gồm tăng đường huyết và rối loạn dung nạp glucose do
thiếu insulin, do giảm tác dụng của insulin hoặc cả hai. ĐTĐ type 2 đặc trưng
bởi kháng insulin và thiếu tương đối insulin, một trong hai rối loạn này có thể
xuất hiện ở thời điểm có triệu chứng lâm sàng bệnh ĐTĐ”[9].
Hiện nay, theo Tổ chức Y tế Thế giới: “ĐTĐ là một hội chứng biểu hiện
bằng sự tăng đường máu do hậu quả của việc mất hoàn toàn insulin hoặc là do
có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết hoặc hoạt động của insulin" [4].
1.1.2. Phân loại bệnh ĐTĐ
1.1.2.1. ĐTĐ type 1.
ĐTĐ type 1 chiếm tỷ lệ khoảng 5 - 10% tổng số bệnh nhân ĐTĐ thế
giới. Nguyên nhân do tế bào bê - ta bị phá hủy, gây nên sự thiếu hụt insulin
tuyệt đối cho cơ thể (nồng độ insulin giảm thấp hoặc mất hoàn toàn) [10].
ĐTĐtype 1 phụ thuộc nhiều vào yếu tố gen và thường được phát hiện
trước 40 tuổi.Nhiều bệnh nhân, đặc biệt là trẻ em và trẻ vị thành niên biểu
hiện nhiễm toan ceton là triệu chứng đầu tiên của bệnh.Đa số các trường hợp
được chẩn đoán bệnh ĐTĐtype 1 thường là người có thể trạng gầy, tuy nhiên
người béo cũng không loại trừ.Người bệnh ĐTĐtype 1 sẽ có đời sống phụ
thuộc insulin hoàn toàn.
4
Có thể có các dưới nhóm:
- ĐTĐ qua trung gian miễn dịch.
- Thuốc hoặc hóa chất.
- Các thể ít gặp qua trung gian miễn dịch.
1.1.3. Chẩn đoán bệnh ĐTĐ.
Quyết định 3319/QĐ-BYT ngày 19 tháng 10 năm 2017 về việc ban hành
tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường typ 2”
của Bộ Y tế đã nêu rõ: Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường (theo Hiệp Hội
Đái tháo đường Mỹ - ADA) dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau đây[14]:
a) Glucose huyết tương lúc đói (fasting plasma glucose: FPG) ≥ 126
mg/dL (hay 7 mmol/L). Bệnh nhân phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có
thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói
qua đêm từ 8 -14 giờ), hoặc:
b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp
glucose đường uống 75g (oral glucose tolerance test: OGTT) ≥ 200 mg/dL
(hay 11,1 mmol/L).
Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo
hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: Bệnh nhân nhịn đói từ nửa đêm trước
khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương với 75g glucose,
hòa tan trong 250-300 ml nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó
bệnh nhân ăn khẩu phần có khoảng 150-200 gam carbohydrat mỗi ngày.
c) HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol). Xét nghiệm này phải được thực hiện ở
phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế.
d) Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc
mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L).
Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm
tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm
chẩn đoán a, b, d ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán.
Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày.
6
7
Tăng huyết áp thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ, tỷ lệ mắc bệnh chung của
tăng huyết áp ở bệnh nhân ĐTĐ gấp đôi so với người bình thường. Trong
ĐTĐtype 2, 50% ĐTĐ mới được chẩnđoán có tăng huyết áp [15][16].
Ngoàira,tỷlệbiếnchứngmạchnãoởbệnhnhânĐTĐgấp1,5-2 lần, viêm động
mạch chi dưới gấp 5 - 10 lần so với người bìnhthường.
Biến chứng thận.
Biến chứng thận do đái tháo đường là một trong những biến chứng
thường gặp, khởi phát bằng protein niệu, là nguyên nhân thường gặp nhất gây
suy thận giai đoạn cuối. Với người đái tháo đường typ 1, mười năm sau khi
biểu hiện bệnh thận rõ ràng, 50% tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối và sau
20 năm sẽ có khoảng 75% số bệnh nhân trên cần chạy thận lọc máu chu kỳ.
Bệnh lý mắt ở bệnh nhân ĐTĐ.
Đục thuỷ tinh thể là tổn thương thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường,
có vẻ tương quan với thời gian mắc bệnh và mức độ tăng đường huyết kéo
dài.Bệnh lý võng mạc đái tháo đường là nguyên nhân hàng đầu của mù ở
người 20 - 60 tuổi. Sau 20 năm mắc bệnh, hầu hết bệnh nhân ĐTĐvà khoảng
60% bệnh nhân ĐTĐtyp 2 có bệnh lý võng mạc do đái tháo đường.
Bệnh lý thần kinh do ĐTĐ.
Bệnh thần kinh do ĐTĐ gặp khá phổ biến, ướctính khoảng30% bệnh
nhân ĐTĐ có biểu hiện biến chứng này. Ngườibệnh ĐTĐtype 2 thường có
biểu hiện thần kinh ngay tại thời điểm chẩn đoán.
Bệnh thần kinh do ĐTĐ thường được phân chia thành các hội chứng lớn
sau: Viêm đa dây thần kinh, bệnh đơn dây thần kinh, bệnh thần kinh thực vật,
bệnh thần kinh vận động gốcchi.
Một số biến chứng khác.
trong khi đó ở nhóm người không mắc ĐTĐ tỷ lệ gia đình có người mắc ĐTĐ
chỉ từ 16% - 23,3% [21].
- Di truyền: ĐTĐ type 2 xảy ra trên anh em sinh đôi đồng hợp tử nhiều
hơn anh em sinh đôi dị hợp tử, điều này chứng tỏ yếu tố di truyền có vai trò quan
trọng trong việc quyết định tính nhạy cảm đối với bệnh ĐTĐ type 2 [11].
- Tuổi: tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ type 2 tăng dần theo tuổi. Ở nhóm dân có tỷ
lệ mới mắc cao thì tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ type 2 cao nhất ở nhóm người trẻ (2035 tuổi); trong khi ở các nhóm người khác tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ hiện mắc cao
nhất ở lứa tuổi lớn hơn (55-74 tuổi). Nhìn chung tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ type 2
giảm ở những người trên 75 tuổi do tỷ lệ tử vong cao ở nhóm người này. Ở
các nước đang phát triển, do tình trạng dân số trẻ hóa nên có nhiều trường hợp
ĐTĐ type 2 xảy ra ở lứa tuổi trẻ và trung niên[22].
- Sự phát triển của thai nhi: có mối liên quan giữa trọng lượng lúc sinh
và chuyển hóa glucose-insulin bất thường về sau. Những trẻ do mẹ mắc bệnh
ĐTĐ sinh ra thì có nguy cơ mắc ĐTĐ về sau gấp 3 lần những trẻ được sinh
trước khi mẹ mắc ĐTĐ. ĐTĐ xảy ra sớm ở những người có mẹ mắc ĐTĐ và
làm gia tăng hơn nữa nguy cơ mắc ĐTĐ cho những thế hệ tiếp theo[23].
10
1.1.8.2. Các yếu tố liên quan có thể thay đổi được.
- Béo phì:Là một đặc điểm thường đi kèm trong ĐTĐ type 2 và là một
yếu tố nguy cơ của tiền ĐTĐ type 2. Béo phì đã tăng nhanh ở nhiều nhóm dân
cư trong vài năm gần đây do hậu quả của sự tác động qua lại giữa yếu tố di
truyền và môi trường bao gồm: Rối loạn chuyển hóa, ít hoạt động thể lực, ăn
quá nhiều so với nhu cầu... Nhiều nghiên cứu cho thấy nguy cơ mắc ĐTĐtype
2 thấp nhất ở những người có BMI < 21 [24],[25]. Hơn nữa, béo phì là yếu tố
thuận lợi góp phần làm THA, tăng cholesterol máu, hạ thấp nồng độ HDL.C
và làm tăng glucose máu [26].
- Ít hoạt động thể lực: Nhiều nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của
việc không hoạt động thể lực trong việc hình thành tiền ĐTĐ type 2, lối sống
đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển ĐTĐ type 2 thông qua cơ chế gây
kháng insulin. ĐTĐ type 2 phát triển bởi vì tế bào tụy không tiết đủ insulin để
bù cho tình trạng kháng insulin càng ngày càng tiến triển. [34]. Tuy nhiên, gia
tăng nồng độ axít béo tự do góp phần gây rối loạn tiết insulin chỉ trên đối
tượng có nguy cơ cao[35].
- Tăng huyết áp: tăng huyết áp (THA) là một trong những yếu tố nguy
cơ gây bệnh ĐTĐ type 2. Khoảng 2/3 người bệnh ĐTĐ có THA. Cả hai bệnh
ĐTĐ và THA đều làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim. Hội ĐTĐ và Viện Y tế
Quốc gia Mỹ đề nghị người mắc ĐTĐ nên giữ huyết áp dưới 130/80 mmHg
và nên kiểm tra huyết áp ít nhất2 đến 4 lần trong một năm [36].
- Thay đổi lối sống:thay đổi thói quen ăn uống, tập thể dục thể thao,
quản lýcân nặng, ngừng hút thuốc lá, không uống nhiều bia rượu.
- Thuốc lá:hút thuốc lá có liên hệ đến sự đề kháng insulin, là yếu tố
nguy cơ của ĐTĐ type 2 ở cả nam lẫn nữ. Nghiên cứu cho rằng thuốc lá tăng
70% nguy cơ của ĐTĐ type 2 và ích lợi của việc ngừng hút thuốc lá đối với
ĐTĐ type 2 chỉ có thể thấy sau 5 năm còn để đạt được giống như người không
hút thuốc bao giờ thì thời gian ngừng hút phải trên 20 năm [28].
12
- Stress: stress cấp rõ ràng là có liên quan đến đề kháng insulin, tuy
nhiên sự đề kháng trong trường hợp này có khả năng hồi phục. Các nhà
nghiên cứu cho rằng glucocorticoid gia tăng lúc bị stress có thể đóng góp vào
sự đề kháng insulin. Stress tác động đến sự đề kháng insulin trực tiếp hay gián
tiếp thông qua tương tác với leptin dẫn đến tăng nồng độ leptin máu và ức chế
hoạt động của leptin, thúc đẩy tình trạng đề kháng leptin, góp phần vào sự đề
kháng insulin [30].
1.1.9. Dự phòng bệnh đái tháo đường.
1.1.9.1. Các biện pháp phòng, chống ĐTĐ trên thế giới.
Cách ngăn chặn phát triển thành bệnh ĐTĐ type 2, ở người lớn được
Theo IDF, một thiết kế chương trình phòng chống ĐTĐ quốc gia phải bao gồm
những mục tiêu là nâng cao nhận thức cộng đồng xúc tiến quốc gia, truyền thông
và giáo dục; phòng ngừa cấp 1 nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ; thay đổi hành vi
và điều trị nhằm phát hiện sớm bệnh làm giảm biến chứng, tử vong.
Mặc dù thay đổi lối sống có hiệu quả cao để phòng ngừa TĐTĐ - ĐTĐ
type 2, trong thời gian qua đã có một số khuyến cáo can thiệp bằng thuốc để
phòng ngừa TĐTĐ - ĐTĐ type 2. Vào thập niên 80, thuốc được sử dụng
Sulphonylurea, Tolbutamide cho những người có rối loạn dung nạp glucose.
Những năm gần đây Metformin, thuốc ức chế glucosidase là Acarbose, chất
ức chế lipase dạ dày ruột là Orlistat và Thiazolidinediones (TZDs) được
nghiên cứu điều trị TĐTĐ type2.
Căn cứ trên những nghiên cứu lâm sàng và những ý tưởng như sự dung
nạp và chi phí, Metformin được khuyến cáo là một lựa chọn điều trị nếu có
chỉ định điều trị TĐTĐ type 2 bằng thuốc. Đặc biệt, Metformin được chấp
nhận trên bệnh nhân dưới 60 tuổi với BMI từ 30 kg/m 2 trở lên căn cứ trên
những dữ liệu trong nghiên cứu của Chương trình Phòng ngừa ĐTĐ Mỹ.
14
Heikes K.E. (2008) đề nghị một công cụ sàng lọc không can thiệp TĐTĐ và
ĐTĐ chưa được chẩn đoán trong dân số Mỹ có 8 biến số bao gồm tuổi, vòng
bụng, yếu tố di truyền, chiều cao, dân tộc, tăng huyết áp, tiền sử gia đình và
tập thể dục[39].
Tóm lại, Liên đoàn ĐTĐ Quốc tế và các Hội ĐTĐ của nhiều nước trên
thế giới đang quan tâm đặc biệt đến bệnh tiền ĐTĐ, ĐTĐ type 2 và nỗ lực
can thiệp nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh nâng cao sức khỏe cộng đồng.
1.1.9.2. Các biện pháp phòng, chống ĐTĐ ở Việt Nam.
Hiện, cả nước có trên 2 triệu người mắc ĐTĐ type 2, 3% dân số. Còn theo
kết quả một cuộc điều tra sơ bộ mới đây tại Hà Nội, Thái Nguyên, Thái Bình,
Nghệ An, có tới 16,3% số người từ 25 tuổi trở lên mắc bệnh tăng huyết áp. Vì
tỉnh Hậu Giang thì có kết quả tương đối khả quan. Sau can thiệp, hiểu biết
yếu tố nguy cơ về bệnh ĐTĐ tăng lên với hiệu quả can thiệp (HQCT) là
43,8%; hiểu biết về khám phát hiện bệnh - HQCT 11,9%; biết cách phòng
chống bệnh - HQCT 5,5%; hạn chế ăn ngọt - HQCT 35,3%; hạn chế ăn mỡ HQCT 43,2%; hạn chế ăn chất béo - HQCT 0,2%; tăng cường ăn rau, trái cây
- HQCT 63,4%, hạn chế ăn sau 20 giờ - HQCT 27,7%. Kết quả cũng cho
thấy: Giảm tỷ lệ hiện mắc ĐTĐ của nhóm can thiệp (12,3% giảm xuống
9,9%) với HQCT là 13,1%. Giảm tỷ lệ hiện mắc tiền ĐTĐ của nhóm can
thiệp (22,3% giảm xuống 12,5%), HQCT là 38,4%. Trạm y tế xã có khả năng
thực hiện có kết quả phòng, chống ĐTĐ cho người dân tộc Khmer với nguồn
lực huy động tại cộng đồng [42].
Một nghiên cứu khác được thực hiện năm 2014, tác giả Bùi Công Đức
và các cộng sự đã so sánh kiến thức, thái độ, thực hành của người dân phường
Phú Diễn – Hà Nội trước và sau can thiệp bằng hoạt động truyền thông. Kết
quả cho thấy sự thay đổi đáng kể về kiến thức của người dân về bệnh ĐTĐ,
100% bệnh nhân sau tuyên truyền biết được ít nhất một yếu tố nguy cơ hoặc
16
một biện pháp dự phòng bệnh. Hầu hết thái độ của người dân cho rằng ĐTĐ
là bệnh nguy hiểm và cần có biện pháp ăn uống và hoạt động thể lực hợp lý
để phòng bệnh. Ý thức của người dân ăn các loại thực phẩm có lợi cho sức
khỏe (dầu thực vật, thịt gia cầm bỏ da, cá, rau) và tăng cường hoạt động thể
lực được nâng lên sau 06 tháng tuyên truyền [43].
Chương trình phòng chống một số bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2002
- 2010, có đề cập đến mục tiêu giảm tỷ lệ mắc, biến chứng và tử vong của
bệnh ĐTĐ. Để chống bệnh ĐTĐ có hiệu quả, không thể chỉ trông chờ vào cơ
quan y tế, vào kỹ thuật tiên tiến, mà toàn xã hội phải tự thấy có trách nhiệm,
từ việc tuyên truyền giáo dục, đến việc cải tiến công nghệ thực phẩm, thay đổi
lối sống, thực hiện chế độ ăn uống hợp lý kết hợp với gia tăng vận động. Điều
này không chỉ để phòng bệnh ĐTĐ mà còn góp phần vào việc phòng ngừa các
và ước tính năm 2003 [48]
Năm 2000
Số người mắc
STT
Quốc gia
bệnh ĐTĐ
(Triệu người)
1
Ấn Độ
31,7
2
Trung Quốc
20,8
3
Mỹ
17,7
4
Indonesia
8,4
5
Nhật Bản
6,8
6
Pakistan
5,2
7
Nga
4,6
8
Brazil
Ai Cập
6,7
Tỷ lệ mắc tiền ĐTĐ - ĐTĐ thay đổi nhiều theo từng nghiên cứu, một
phần do tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ thay đổi từ mức 140 mg/dl (7,8 mmol/l)
18
xuống mức 126 mg/dl (7,0 mmol/l) và tiêu chuẩn chẩn đoán TĐTĐ từ 110
mg/dl (6,1 mmol/l) xuống 100 mg/dl (5,6 mmol/l) nhưng cũng do tỷ lệ TĐTĐ
– ĐTĐ gia tăng trong cộng đồng.
Tình hình ĐTĐ trên thế giới gia tăng rất nhanh theo Liên đoàn ĐTĐ
Quốc tế, bệnh ĐTĐ hiện nay trên thế giới khoảng 285 triệu người và ước tính
sẽ tăng nhanh trong những năm tới, dự đoán đến năm 2030 có khoảng 438
triệu người mắc bệnh ĐTĐ. Điều đáng quan tâm là tỷ lệ mắc bệnh gặp nhiều
ở các nước có thu nhập từ thấp đến trung bình với 2/3 trường hợp ĐTĐ xảy ra
ở những nước có thu nhập từ thấp đến trung bình. Năm 2010, số người giảm
dung nạp glucose khoảng 344 triệu người, dự đoán con số này tăng lên
khoảng 472 triệu người vào năm 2030 [46]. Đối với bệnh ĐTĐ ngày nay khi
phát hiện thì bệnh nhân đã có rất nhiều biến chứng, thực tế cho thấy khi phát
hiện bệnh ĐTĐ trên 50% bệnh nhân này đã có biến chứng tim mạch. Điều đó
chứng tỏ biến chứng trên bệnh nhân ĐTĐ đã xảy ra khi bệnh nhân ở giai đoạn
tiền ĐTĐ, chưa có triệu chứng lâm sàng [49].
Tại Mỹ, năm 2010, khoảng 1,9 triệu người Mỹ được lần đầu tiên chẩn
đoán ĐTĐ. Năm 2011, số người mắc bệnh ĐTĐ rất cao khoảng 26 triệu người
tương đương 8,3% trong tổng số người Mỹ mắc ĐTĐ và khoảng 79 triệu
người trưởng thành mắc TĐTĐ tương đương 11,3% tuổi từ 20 trở lên.
Khoảng 27% người bệnh ĐTĐ tương đương 7 triệu người Mỹ không biết là
họ bị bệnh [50].Nghiên cứu của Chương trình Phòng ngừa ĐTĐ Mỹ cho thấy
rằng một chế độ ăn kỹ lưỡng và can thiệp tập luyện làm giảm xảy ra ĐTĐ
so với 0,3 mmol/l), và chỉ số HbA1c (-0,1% so với 0,1%)[55].
Nhìn chung, thay đổi lối sống là bảo đảm và rất hiệu quả để phòng ngừa
ĐTĐ type 2 và làm giảm nguy cơ tim mạch ở những người bị TĐTĐ type 2
[56]. Những nghiên cứu trên chứng minh rằng TĐTĐ – ĐTĐ type 2 có thể
phòng ngừa được bằng thay đổi lối sống hoặc bằng thuốc.
Theo một nghiên cứu tại Campuchia (2005) ở lứa tuổi từ 25 tuổi trở lên
mắc ĐTĐ tại Siemreap là 5% và ở Kampomg Cham là 11% [57].
20
1.1.10.2. Tình hình nghiên cứu ĐTĐ ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, sau nhiều năm đổi mới, kinh tế tăng trưởng nhanh đã phần
nào cải thiện cuộc sống và sức khoẻ cộng đồng.Song chúng ta nhận thấy rằng
sự biến đổi sâu sắc trong lối sống, đặc biệt của cư dân các đô thị như Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh. Xe máy, ô tô gần như đã thay thế xe đạp, các công
việc cần đến sức cơ bắp đã có đội ngũ người giúp việc làm thay. Mất cân bằng
trong việc nhận năng lượng và tiêu thụ năng lượng là yếu tố nguy cơ cho các
bệnh béo phì, tăng huyết áp, tăng mỡ máu vàbệnh ĐTĐ phát triển.
Theo Nguyễn Huy Cường, năm 1999 – 2001, đã tiến hành điều tra 3.555
người từ 15 tuổi trở lên với xét nghiệm glucose mao mạch lúc 17 giờ có trị số
trên 105 mg/dl rồi tiếp tục làm nghiệm pháp dung nạp glucose ghi nhận tỷ lệ
mắc bệnh ĐTĐ chung ở nội và ngoại thành Hà Nội là 2,42%. Trong đó 64%
mới phát hiện, tỷ lệ nội thành là 4,31% và ngoại thành là 0,61% và GDNG ở
nội thành là 3,27% và ngoại thành là 1,56% [58]. Nguyễn Hứa Quang,
Nguyễn Hải Thủy (2004 – 2005) nghiên cứu trên 101 đối tượng từ 40 tuổi trở
lên là con của bệnh nhân ĐTĐ type 2. Các đối tượng được tiến hành làm
nghiệm pháp dung nạp glucose ghi nhận tỷ lệ tăng glucose máu là 36,63%,
trong đó ĐTĐ là 18,81% và GDNG là 17,82%. Tỷ lệ này cao hơn trong các
nghiên cứu trong cộng đồng cùng độ tuổi[59].
Từ năm 2003 đến năm 2009 có nhiều công trình điều tra dịch tễ học
ĐTĐ không giống nhau do đối tượng nghiên cứu khác nhau, thời điểm khác
nhau và tiêu chuẩn chẩn đoán thayđổi.
Một nghiên cứu được thực hiện trên 2402 người dân từ 30-69 tuổi sống
tại Hà Nội năm 2014 của Hoàng Đức Hạnh đã cho kết quả tỷ lệ hiện mắc
bệnh ĐTĐ là 7,9% (nội thành: 9,2%; ngoại thành: 7,3%). Tỷ lệ mắc bệnh
ĐTĐ tăng dần theo tuổi, cao nhất ở nhóm tuổi 60-69 (12,4%); tỷ lệ mắc bệnh
ĐTĐ ở nam cao hơn nữ (8,6% và 7,5%). Tỷ lệ hiện mắc tiền ĐTĐ là 27,4%;
22
(nội thành: 27,7%; ngoại thành: 27,0%; nữ 30,3%; nam 24,3%). Tỷ lệ người
bệnh mắc bệnh ĐTĐ trong cộng đồng không được phát hiện lên tới 61,8%
(nội thành 50,0%; ngoại thành 74,5%). Tỷ lệ hiện mắc bệnh ĐTĐ tuýp 2 và
tiền ĐTĐ của người dân Hà Nội từ 30 – 69 tuổi, năm 2014 cao hơn so với tỷ
lệ chung trên toàn quốc [70].
1.1.10.3. Các nghiên cứu kiến thức của người dân về bệnh ĐTĐ.
Nghiên cứu của Nguyễn Trung Kiên, Lưu Thị Hồng Vân trên 130 bệnh
nhân của Bệnh viện Đa khoa huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu cho thấy tỷ lệ
người bệnh có kiến thức tốt về các yếu tố nguy cơ, triệu chứng, chế độ dinh
dưỡng, chế độ luyện tập, dùng thuốc và các biến chứng của bệnh lần lượt là
30,0%; 68,46%; 16,15%; 88,46%; 95,38% và 23,08% [71].
Một nghiên cứu khác tại Hậu Giang năm 2011 của Trần Văn Hải trên
2400 đối tượng là người dân có độ tuổi từ 30 – 64 tuổi cho kế quả là: tỷ lệ
bệnh ĐTĐ là 10,3%. Có 25,9% đối tượng có kiến thức và thực hành đúng,
người có kiến thức đúng thì thực hành tốt hơn so với người không có kiến
thức đúng (54,8% so với 15,8%) [72].
Tại Thái Bình, tác giả Lã Ngọc Quang và Nguyễn Quốc Việt đã thực
hiện nghiên cứu trên 582 người dân trong độ tuổi 30-64 tuổi ở 22 xã vào
tháng 3 năm 2011 cho thấy kết quả có 6,7% hiện mắc ĐTĐ; có 50% đối tượng
không có kiến thức về nguy cơ của bệnh; 60% đối tượng được hỏi cho rằng
nghệ cao Hòa Lạc, khu đô thị sinh thái Xanh Villas… Với địa thế thuận lợi về
giao thông như có quốc lộ 21, một phần quốc lộ 32 và đại lộ Thăng Long đi
qua, huyện Thạch Thất đang phát triển hơn từng ngày.
Đi đôi với sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa thì kéo theo nhiều vấn đề
về sức khỏe, trong đó là các bệnh không truyền nhiễm nói chung và bệnh
ĐTĐ nói riêng. Trên địa bàn huyện có Bệnh viện đa khoa Thạch Thất chịu
trách nhiệm chăm sóc sức khỏe chính cho 189.527 người dân trên diện tích
đất là 184,6 km2. Hiện tại, Bệnh viện Đa khoa Thạch Thất có 230 giường với
công suất sử dụng đạt 121,5%, số giường thực kê là 374 giường với công suất
là 74,7%. Tổng số lượt bệnh nhân khám ngoại trú tính đến cuối năm 2016 là
59.754 lượt và 7.184 lượt điều trị nội trú. Riêng về bệnh nhân ĐTĐ thì bệnh
viện đang quản lý và điều trị hàng tháng cho hơn 1000 bệnh nhân. Tuy nhiên
về số lượng cán bộ chuyên trách của bệnh viện thì chỉ có 6 bác sỹ ( trong đó
có 2 bác sỹ y học cổ truyền, 2 bác sỹ chuyên khoa Nội, 2 người còn lại đang
đi học), 14 điều dưỡng viên[7]. Với lực lượng nhân viên mỏng cũng như số
lượng khám chữa bệnh cũng như quản lý bệnh nhân ĐTĐ đông sẽ gặp không
ít khó khăn trong hiệu quả điều trị bệnh. Bên cạnh đó, theo xu thế và nhịp độ
phát triển của xã hội thì ngày càng gia tăng bệnh ĐTĐ trong cộng đồng dân
cư. Bên cạnh đó, về phía bệnh viện chưa có nghiên cứu nào về thực trạng
bệnh ĐTĐ cũng như kiến thức của người dân về căn bệnh này. Do đó, chúng
tôi nghiên cứu đề tài này để hiểu rõ hơn thực trạng bệnh lý ĐTĐ hiện nay của
bệnh viện, cùng với đó là đánh giá hiệu quả của việc truyền thông giáo dục
sức khỏe trong điều trị bệnh, từ đó rút ra những giải pháp và những phương
án điều trị tốt nhất cho bệnh nhân.
25
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU