Nghiên cứu đặc điểm hình thái và đánh giá kết quả phẫu thuật chỉnh hình dị dạng vành tai bẩm sinh độ i - Pdf 55

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Dị dạng vành tai bẩm sinh là những khiếm khuyết bẩm sinh của vành tai,
được chia làm nhiều mức độ khác nhau. Theo Weerda dị dạng vành tai bẩm
sinh được chia làm 3 độ, trong đó độ I là nhẹ nhất, bao gồm các dị dạng mà
hầu hết các cấu trúc của vành tai còn nhận thấy được. Với dị dạng độ I có thể
điều trị bằng nắn chỉnh vành tai hoặc phẫu thuât chỉnh hình nhưng ít khi phải
lấy thêm da, sụn hoặc cấy ghép sụn [1], [2].
Dị dạng vành tai bẩm sinh chiếm tỷ lệ 1/6000 trẻ sơ sinh với các mức độ
khác nhau, đa số các trường hợp là một bên (70 – 90%) [1]. Dị dạng vành tai
thường gặp ở người Châu Á. Nguyên nhân của các dị dạng này còn chưa
được hiểu rõ nhưng nhiều nghiên cứu cho thấy các dị dạng vành tai có mối
liên quan mật thiết với yếu tố di truyền, đột biến gen cũng như các tác động
của yếu tố môi trường trong thời kỳ bào thai [3], [4].
Dị dạng vành tai gây ra ảnh hưởng lớn đến vấn đề thẩm mỹ và tâm lý
của người bệnh. Các dị tật này làm người bệnh mặc cảm, thiếu tự tin khi giao
tiếp đặc biệt ở trẻ nhỏ làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển và hòa nhập xã
hội [2], [5]. Vì vậy các dị dạng vành tai bẩm sinh này cần được phát hiện và
điều trị sớm để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Nếu như với
các dị dạng vành tai mức độ nặng hay dị tật thiểu sản vành tai cần chỉnh hình
bằng nhiều kỹ thuật phức tạp như cấy ghép sụn qua nhiều thì phẫu thuật khác
nhau thì các dị dạng mức độ nhẹ (độ I) có thể phẫu thuật chỉnh hình bằng các
phương pháp can thiệp tối thiểu không cần phải cấy ghép sụn.
Trên thế giới từ thế kỷ XIX đến nay đã có một số công trình nghiên cứu
về đặc điểm hình thái, chức năng cũng như các phương pháp chỉnh hình dị
dạng vành tai bẩm sinh và thu được kết quả tốt.


2


1.1.1. Trên thế giới
- Các dị dạng vành tai bẩm sinh đã được biết đến từ rất lâu nhưng phải
đến tận thế kỷ XIX những báo cáo đầu tiên về kỹ thuật chỉnh hình vành tai
mới được công bố [6].
- Năm 1845, Dieffenbach lần đầu tiên mô tả kỹ thuật chỉnh hình vành tai
vểnh ở những bệnh nhân sau chấn thương, ông sử dụng đường rạch sau tai
khâu đính sụn loa tai vào xương chũm để cố định lại vành tai [7].
- Năm 1881, Ely mô tả kỹ thuật chỉnh hình vành tai vểnh bằng việc cắt
bỏ một miếng sụn hình lưỡi liềm và khâu cố định loa tai xương chũm [7].
- Tiếp sau đó các kỹ thuật cắt bỏ da sau tai được thực hiện bởi Hauck
(1884) và Joseph (1896) [7].
- Rất nhiều kỹ thuật kéo vạt da chỉnh hình vành tai được mô tả bởi
Stetter (1884) và Payr (1906). Năm 1903, Gersuny nhận thấy vì sụn vành tai
có lực đàn hồi cũng như sự đàn hồi tự nhiên của da nên việc cắt bỏ da đơn độc
không mang lại hiệu quả lâu dài để chỉnh hình vành tai [7].
- Năm 1910, Luckett kết hợp kỹ thuật cắt sụn dọc theo gờ đối luân với
các mũi khâu ngang để tạo được hình dáng của hố thuyền [7].
- Năm 1952, Becker thực hiện đường rạch dọc theo rìa của gờ đối luân và
kết hợp với mũi khâu sau tai để đạt được hình dáng gờ đối luân mong muốn [7].
- Gibson and Davis cuối cùng cũng chỉ ra rằng việc rạch sụn ở 1 phía có
thể làm cong sụn ở phía đối diện. Điều này đã dẫn đường cho việc sáng tạo ra
rất nhiều kiểu kỹ thuật cắt sụn cải biên khác nhau để tạo hình ở gờ đối luân
được mô tả bởi Converse (1955), Wood-Smith (1963) và Stenstrom (1963).


4

- Khác hẳn với kỹ thuật rạch sụn, Mustardé mô tả kỹ thuật mới vào năm
1963 và 1967 tạo hình gờ đối luân bằng việc khâu sụn với chỉ không tiêu.
Ông sử dụng đường tiếp cận từ phía sau vành tai, khâu một vài mũi khâu đính

1.2. Đặc điểm giải phẫu vành tai
1.2.1. Phôi thai học
- Tai ngoài bao gồm có vành tai và ống tai ngoài, phát triển từ khe mang
thứ nhất và những phần nằm kề khe này của cung hàm dưới và cung xương
móng. Vành tai bắt đầu phát triển muộn hơn các thành phần khác của tai.
Vành tai được hình thành từ 6 gờ lồi (còn gọi là gờ His) tụ tập ở khe mang thứ
nhất. Vào tuần lễ thứ 5 của thời kỳ bào thai, 3 gờ lồi phát sinh từ cung hàm
dưới (gờ lồi 1, 2, 3) và 3 gờ lồi còn lại từ cung xương móng (gờ lồi 4, 5, 6) ở
phần đối diện của khe mang thứ nhất [3].
- Những gờ lồi này có mối liên quan đặc hiệu với những cấu trúc đặc biệt
của vành tai. Khoảng tuần lễ thứ 8 thì vành tai có cấu trúc xác định.
Ba gờ lồi thuộc cung hàm dưới góp phần tạo thành bình tai, rễ luân nhĩ
và loa tai. Những gờ lồi thuộc cung xương móng thì góp phần hình thành hầu
hết các phần của vành tai người lớn, tức là những bộ phận còn lại không xuất
phát từ cung hàm dưới. Gờ lồi thứ nhất và thứ sáu thì giữ nguyên vị trí hằng
định, đánh dấu vị trí hình thành lần lượt của bình tai và gờ đối bình. Gờ lồi
thứ 4 và thứ 5 thì phát triển lan rộng và xoay ngang qua đầu sau của khe mang
thứ 1, từ đó phát sinh ra phần trước và trên của đối luân nhĩ và phần kế cận
của thân vành tai. Mặc dù được phần lớn các tác giả công nhận nhưng vẫn
chưa có những bằng chứng xác định về nguồn gốc của các trụ luân nhĩ và
phần trên luân nhĩ. Vành tai và ống tai ngoài ban đầu nằm ở phía trước (phía
bụng) của đầu, về sau mới di chuyển về phía sau (phía lưng) và phía trên. Di
chuyển xa hơn nữa thì ống tai ngoài và hòm nhĩ nguyên thủy sẽ tới gần mức
mà vành tai đã di chuyển đến, và các phần của tai ngoài, tai giữa và tai trong
sẽ gắn liền với nhau. Vì những gờ lồi thuộc cung mang thứ 2 góp phần nhiều
hơn vào quá trình hình thành vành tai, nên những dị dạng của gờ đối luân,
xoăn nhĩ, gờ đối bình và dái tai là những dị dạng hay phải đề cập đến và cũng


6

thai.



Do sự chết bất thường của các tế bào của khe mang thứ nhất hay những phần
nằm kề khe này của cung hàm dưới và cung xương móng.



Do di cư bất thường của các tế bào mào thần kinh, hay do các gờ lồi hình
thành nên vành tai không phát triển…
Tuy nhiên, tất cả những giả thiết này vẫn còn chưa được khẳng định
rõ ràng.


7

1.2.2. Vị trí, các góc và kích thước của vành tai
* Vị trí của vành tai

Hình 1.2. Vị trí, hướng và kích thước của vành tai [6]
- Vành tai nằm ngay sau khớp thái dương hàm và vùng tuyến mang tai,
phía trước xương chũm, phía dưới vùng thái dương.
- Vành tai được giới hạn bởi:
+ Phía trên: nằm trên đường thẳng kẻ ngang qua lông mày.
+ Phía dưới: nằm trên đường thẳng kẻ ngang qua chân mũi.
+ Trục dọc của vành tai là đường thẳng qua đỉnh cao nhất của vành tai và
điểm thấp nhất của dái tai và song song với trục của sống mũi.
+ Trục phía trước của vành tai trùng với bờ sau của ngành lên xương hàm dưới.
+ Phần giữa vành tai kẻ ngang phải trùng với đường kẻ ngang của giữa


1.2.3. Giải phẫu vành tai
1.Luân nhĩ; 2.Gờ đối luân; 3.Rễ trên của gờ
đối luân; 4.Rễ dưới của gờ đối luân; 5.Hố
thuyền; 6.Hố tam giác; 7.Bình tai;8.Gờ đối
bình; 9.Khuyết gian bình; 10.Rễ luân nhĩ;
11.Lòng thuyền vành tai; 12.Loa tai; 13.Rễ
dưới gờ luân; 14. Dái tai

Hình 1.4. Mặt trước của tai ngoài bên trái [6]
Vành tai có 2 mặt: mặt trước và mặt sau (hoặc mặt ngoài và mặt trong)
* Mặt trước vành tai có những chỗ lồi và chỗ lõm mà cách gọi tên có khác
nhau chút ít tùy theo tác giả. Để thống nhất cách gọi chúng tôi dựa vào cách gọi
trong sách Atlas giải phẫu người của Nguyễn Quang Quyền (2000) [15].
Những chỗ lồi, tính từ chu vi về trung tâm là: gờ luân nhĩ, gờ đối luân
nhĩ, đối bình tai và bình tai.
- Gờ luân nhĩ: chiếm 2/3 trên bờ tự do của vành tai và xuất phát từ phía
trước và phía dưới, tiếp theo rễ của nó, rễ này từ ống tai ngoài kéo dài ra theo
hướng nằm ngang (phía ngoài và phía sau). Từ chỗ xuất phát gờ luân nhĩ tiếp
tục đi lên phía trên rồi lại cong xuống phía dưới để tận cùng tiếp nối với dái tai.
- Gờ đối luân nằm phía trong, đồng tâm với gờ luân, xuất phát từ phía
trên bởi 2 rễ: rễ dưới (trước) và rễ trên (sau), hai rễ này hợp nhất thành một
tạo nên gờ đối luân. Gờ này nằm ngăn cách giữa gờ luân nhĩ ở phía sau và bờ
của loa tai ở phía trước.
- Đối bình tai là một gờ nhỏ ở phía trước dưới của gờ đối luân, đối diện
với bình tai.


10



Sụn vành tai là sụn chun, sụn vành tai rất mỏng và khá đồng đều về độ
dày mỏng, dày từ 0,5 - 1 mm, bọc bởi màng sụn. Sụn của vành tai có tính chất
rất đặc biệt, nó không giống với sụn ở bất cứ nơi nào khác trong cơ thể. Nó
không có mạch máu và chỉ gồm duy nhất một mảnh nguyên vẹn. Sụn của
xương sườn VII phần nào giống với sụn vành tai nhưng dày hơn, rắn hơn và
cũng dễ gẫy hơn. Hình dáng của vành tai lệ thuộc vào cốt sụn của vành tai.
Những đặc tính riêng biệt của sụn vành tai cộng với những gờ nổi, nếp gấp
tạo cho vành tai có hình dáng phức tạp [11].
Khung của vành tai gồm có ba tầng sụn, hình thành nên bốn mặt phẳng,
xoắn vặn một cách tinh tế, đó là các tầng sau: phức hợp loa tai, phức hợp gờ
đối luân- gờ bình tai và phức hợp gờ luân nhĩ. Tất cả những mặt phẳng này
nối tiếp với nhau lần lượt theo những góc vuông và hình thành một mặt trước
(phía lõm) với những thành phần lồi lõm phức tạp và một mặt sau (phía lồi)
bằng phẳng hơn. Vì vậy, bất kỳ tổn thương nào của vành tai khi phục hồi cần
tuân theo đặc điểm cấu trúc này.
1. Sàn vành tai
2. Thành vành tai
3. Phức hợp hố thuyền – gờ đối luân
4. Gờ luân nhĩ
Hình 1.5. Quan niệm bốn mặt phẳng, ba tầng thiết kế vành tai [16]
1.2.5. Mạch máu và thần kinh vành tai
- Động mạch: Vành tai được cung cấp máu bởi hai nguồn: động mạch
thái dương nông hay động mạch tai trước và động mạch tai sau. Đó là những
nhánh bên của động mạch cảnh ngoài [17].
Các động mạch tai trước: thường có 3 nhánh.
+ Nhánh dưới: phân chia cấp máu cho nửa trước của bình tai và dái tai.


12


13

Vành tai với vị trí và cấu trúc đặc biệt có tác dụng thu, hứng lấy các sóng
âm trong không khí vào ống tai ngoài. Ngoài ra, vành tai còn giúp chúng ta
định hướng âm, phân biệt được tiếng động ở bên phải hoặc bên trái, ở phía
trước hoặc phía sau.
Ngày nay, người ta đã biết nghe rõ bằng hai tai có ưu thế hơn nghe bằng
một tai vì: nghe rõ hơn, khu trú được nguồn âm tốt hơn, phân biệt được lời
nói trong môi trường ồn ào.
Vành tai còn có chức năng thẩm mỹ tạo sự cân đối cho khuôn mặt.
Dị tật vành tai gây ảnh hưởng nhiều đến tâm lý của bệnh nhân, nhất là
trẻ em ở giai đoạn phát triển về ý thức, bắt đầu nhận thức về mình so với mọi
người xung quanh. Với những trẻ bị tật ở mắt như cận thị, viễn thị, nếu có
vành tai vùi sẽ không thể đeo được kính cũng như đeo khẩu trang mỗi lần ra
ngoài môi trường bụi, gió rét…
Dái tai có một nguồn cung cấp máu lớn và có thể giúp làm ấm đôi tai và
duy trì sự cân bằng, dái tai có chứa rất nhiều đầu dây thần kinh và đối với
một số người, dái tai được cho là một vùng nhạy cảm trong cơ thể.
Các chức năng này đều quan trọng nên khi chỉnh hình cần đảm bảo cả về
giải phẫu, chức năng và thẩm mỹ.
1.3. Đặc điểm dị dạng vành tai bẩm sinh
1.3.1. Phân loại dị dạng vành tai bẩm sinh
Có rất nhiều loại dị dạng vành tai bẩm sinh khác nhau do sự phát triển
bất thường của một hoặc nhiều gờ lồi trong quá trình phát triển bào thai. Theo
phân loại của Weerda, dị dạng vành tai bẩm sinh được phân thành các độ tăng
dần cùng với mức độ nghiêm trọng của dị tật[1].
- Độ I (dị dạng nhẹ): hầu hết các cấu trúc của vành tai còn nhận thấy
được. Sự chỉnh hình vành tai ít khi đòi hỏi phải lấy thêm da hoặc sụn.






Các dưới nhóm
Vành tai vểnh (Prominent ear)
Vành tai lớn (Macrotia)
Vành tai vùi (Cryptotia – pocket ear)
Vành tai cụp type I, IIa, IIb (Constricted ear)
Dị dạng dái tai (cố định, không có, dái tai nhỏ, dái
tai lớn, dái tai xẻ thùy)
Vành tai dơi (Stahl ear)
Vành tai phẳng (Scaphoid ear)
Vành tai nhọn (Satyr ear)
Dị dạng khác: thiếu rễ của sụn luân nhĩ, dị dạng
bình tai, đối bình tai
Vành tai cụp type III (Cup ear type III)
Vành tai nhỏ (Mini ear) thiểu sản phần trên, phần
giữa, phần dưới vành tai; thường kết hợp với chít
hẹp ống tai ngoài và bất thường màng nhĩ
Thiểu sản vành tai 1 bên hoặc 2 bên (microtia)
Không có tai (anotia)


15

Vành tai vểnh

Vành tai cụp


c. Type IIb dị dạng mức độ vừa đến nặng ảnh hưởng đến gờ luân và hố
thuyền, chỉnh hình cần phải thêm da ở rìa của vành tai
d. Type III dị dạng mức độ nặng ảnh hưởng đến gờ luân, hố thuyền, gờ đối
luân và loa tai

Không có vành tai (Anotia)
Thiểu sản vành tai (Microtia)
Hình 1.9. Dị dạng vành tai bẩm sinh độ III [1]
1.3.2. Đặc điểm hình thái học dị dạng vành tai bẩm sinh độ I


17

Trong dị dạng vành tai bẩm sinh độ I có nhiều dưới nhóm khác nhau.
Sau đây là một số kiểu dị dạng vành tai bẩm sinh độ I hay gặp trên lâm sàng
và đặc điểm hình thái của các kiểu dị dạng này:
* Vành tai vểnh:
- Vành tai vểnh là dị dạng khá phổ biến trong số các dị dạng vành tai
bẩm sinh nói chung với tỷ lệ khoảng 5% [3].
- Dị dạng vành tai vểnh bao gồm nhiều dị tật kết hợp [22]
+ Khoảng cách từ vành tai đến đầu lớn hơn 2cm
+ Không có hoặc không rõ gờ đối luân
+ Quá phát sụn loa tai, loa tai sâu hơn bình thường
* Vành tai vùi:
Vành tai vùi là dị dạng vành tai bẩm sinh khi mà cực trên của vành tai bị
chôn vùi dưới lớp da của xương chũm và có thể kéo ra được nhưng khi ngừng
kéo vành tai lại trở về vị trí ban đầu. Đây là dị dạng vành tai thường gặp ở
người châu Á [23].
Sự chôn vùi của phần trên vành tai không những gây mất thẩm mỹ mà
còn làm người bệnh rất khó đeo kính hoặc đeo khẩu trang [23].

Trong các nghiên cứu dân số, nhiều yếu tố nguy cơ của dị dạng vành tai
đã được đề xuất. Cả hai yếu tố môi trường và di truyền có thể ảnh hưởng đến
sự xuất hiện của dị dạng vành tai [27], [28].
- Thuốc: các thuốc như retinoids, thalidomide và mycophenolate
motefil (một loại thuốc ức chế miễn dịch) được biết đến là yếu tố nguy cơ
của dị dạng vành tai.
- Độ cao: độ cao có thể là một yếu tố nguy cơ. Ví dụ tại các thành phố có
độ cao như Quito (độ cao 2.800 m), La Paz (3250 - 4100 m) và Bogota
(2600m) tỷ lệ dị dạng vành tai là cao hơn đáng kể so với các địa điểm khác.
- Di truyền: ước tính yếu tố gia đình trong các ca dị dạng vành tai chiếm
từ 3-34%. Dị dạng vành tai được cho là liên quan đến cả gen trội và gen lặn.
- Dân tộc: dị dạng vành tai hay gặp ở người châu Á.


19

- Yếu tố nguy cơ khác: sinh con nhẹ cân (
học để tránh cho trẻ những ảnh hưởng về tâm sinh lý khi bị bạn bè trêu trọc.
- Trẻ đủ lớn để hợp tác: không kéo băng tai sau phẫu thuật tránh làm
hỏng vết khâu chỉnh hình.
1.4.2.2. Các kỹ thuật phẫu thuật chỉnh hình


21

Mỗi một kiểu dị dạng vành tai khác nhau có kỹ thuật phẫu thuật chỉnh
hình khác nhau, sau đây là một số kỹ thuật thường được áp dụng với các dị
dạng vành tai bẩm sinh độ I thường gặp:
* Phẫu thuật chỉnh hình vành tai vểnh (prominent ear)
- Kỹ thuật Furnas: đây là một kỹ thuật đơn giản. Sụn loa tai sẽ được khâu
cố định với màng xương chũm và cân cơ thái dương bằng 3 đến 4 mũi chỉ 4.0.
- Kỹ thuật Mustardé: kỹ thuật này chỉ chỉnh sửa được vành tai vểnh ở 1/3
trên nên không áp dụng được cho tất cả các trường hợp. Đánh dấu gờ đối luân
bằng xanh methylene sau đó khâu gấp sụn bằng 3 – 4 mũi chỉ nylon 4.0 để tạo
hình gờ đối luân.

Hình 1.11. Kỹ thuật Furnas [33]

Hình 1.12. Kỹ thuật Mustardé [33]

- Kỹ thuật cắt sụn: Kỹ thuật này thường được thực hiện bởi phẫu thuật
viên có tay nghề vì đây là kỹ thuật phức tạp. Trong kỹ thuật này có cắt 1 phần
sụn loa tai. Hai kỹ thuật thường được nhắc tới trong y văn được mô tả bởi
Converse và Farrior. Với kỹ thuật Converse 1 mảnh sụn được cắt bỏ ở phía
trước của loa tai, mảnh sụn này được cuộn lại và tạo hình gờ đối luân, được
áp dụng trong những trường hợp dị dạng vành tai vểnh mức độ nặng, ở người
lớn, sụn cứng chắc, giúp duy trì vị trí vành tai vĩnh viễn và chỉnh sửa được gờ

+ Tạo một vạt sụn hình chữ T hoặc hình chữ nhật từ loa tai.
+ Bẻ cong vạt sụn lên trên và khâu đính vào phần gờ luân hoặc hố
thuyền bị cụp, lực kéo của vạt sụn về phía loa tai sẽ giữ cho phần vành tai cụp
được giữ thẳng về vị trí bình thường.

Hình 1.16. Kỹ thuật chuyển vị trí của vạt sụn
- Type II: chỉnh sửa phần trước gờ luân nhĩ, chỉnh sửa gờ luân và hố
thuyền, chỉnh hình phần trên của vành tai bằng vạt sụn hoặc vạt da. Cần kết
hợp nhiều kỹ thuật khác nhau như:
+ Kỹ thuật Z hoặc V – Y để chỉnh sửa phần rễ gờ luân.


24

+ Tạo hình gờ đối luân và kéo vành tai ra sau theo kỹ thuật của Mustarde
hoặc dùng vạt sụn tạo hình gờ đối luân.
+ Kỹ thuật Mastoid hitch, khâu đính phần trên của gờ luân vào cân cơ
thái dương để nâng phần vành tai bị cụp và tránh tái phát.
* Phẫu thuật chỉnh hình vành tai dơi (Stahl’s ear)
Có rất nhiều kỹ thuật chỉnh hình vành tai dơi khác nhau nhưng kỹ thuật
khâu và gấp sụn có thể đem lại hiệu quả cao về thẩm mỹ
- Đánh dấu vị trí của rễ trên gờ đối luân mong muốn tạo được ở mặt sau
của vành tai. Rạch da theo đường đánh dấu. Bóc tách sụn vành tai khỏi lớp
da phía sau.
- Rạch da mặt trước vành tai theo rễ thứ 3 của gờ đối luân (phần gờ sụn
bất thường), bóc tách sụn vành tai khỏi lớp da phía trước.
- Gấp sụn kiểu nan quạt tạo hình dáng của gờ đối luân và rễ trên gờ đối
luân như mong muốn, đánh dấu bằng kim hoặc chỉ.
- Khâu đính sụn ở mặt sau để tái tạo lại rễ trên của gờ đối luân.
- Chèn gelfoam hoặc gạc tẩm vazeline vào các khe rãnh của vành tai vừa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status