BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG
-------- o0o -------
ĐOÀN THỊ GIANG
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN
ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG
VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI NĂM 2019
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN ĐIỀU DƯỠNG
Khóa 2015– 2019
HẢI PHÒNG - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG
-------- o0o -------
ĐOÀN THỊ GIANG
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN
ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG VỀ
những người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này, đã dành nhiều tâm
huyết và thời gian quý báu của mình bồi dưỡng kiến thức cho tôi, hướng dẫn,
chỉ bảo tôi trong suốt quá nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên điều dưỡng trường đại học
Y Dược Hải Phòng đã tham gia và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu
nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới những người thân
trong gia đình, bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập và nghiên cứu.
Hải Phòng 2019
Đoàn Thị Giang
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
CSSK
Chăm sóc sức khỏe
ĐTNC
Đối tượng nghiên cứu
NCT
Người cao tuổi
q
Phương sai
2.6. Các sai số và cách khắc phục...................................................................19
2.7. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu.............................................................19
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.......................................................20
3.1.Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu...............................................20
3.2. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
.........................................................................................................................25
3.3. Thái độ của đối tượng nghiên cứuvề chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.27
3.4. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ của sinh viên điều
dưỡng về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi...................................................29
3.4.1 Liên quan giữa kiến thức và thái độ của sinh viên điều dưỡng về chăm
sóc sức khỏe người cao tuổi............................................................................29
3.4.2. Liên quan giữa kinh nghiệm chăm sóc với kiến thức và thái độ về chăm
sóc sức khỏe người cao tuổi............................................................................29
3.4.3. Liên quan giữa chương trình học điều dưỡng lão khoa với kiến thức và
thái độ về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi..................................................30
3.4.4. Mối liên quan giữa lựa chọn điều dưỡng lão khoa sau khi tốt nghiệp của
đối tượng nghiên cứu với kiến thức và thái dộ về chăm sóc sức khỏe người
cao tuổi............................................................................................................31
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN..............................................................................32
4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu..............................................32
4.2. Đặc điểm kiến thức của đối tượng nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe
người cao tuổi..................................................................................................34
4.3. Đặc điểm thái độ của đối tượng nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe người
cao tuổi............................................................................................................35
4.4. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ của sinh viên điều
dưỡng về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi...................................................37
4.4.1 Liên quan giữa kiến thức và thái độ của sinh viên điều dưỡng về chăm
sóc sức khỏe người cao tuổi............................................................................37
Bảng 3.3: Chương trình học điều dưỡng lão khoa của đối tượng nghiên cứu
.........................................................................................................................23
Bảng 3.4: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo sự lựa chọn nghề nghiệp.......23
Bảng 3.5: Kiến thức đối tượng nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe người cao
tuổi...................................................................................................................25
Bảng 3.6: Phân loại kiến thức của đối tượng nghiên cứu về chăm sóc sức
khỏe người cao tuổi.........................................................................................26
Bảng 3.7: Thái độ của đối tượng nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe người cao
tuổi...................................................................................................................27
Bảng 3.8: Phân loại thái độ của đối tượng nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe
người cao tuổi..................................................................................................28
Bảng 3.9: Liên quan giữa kiến thức và thái độ...............................................29
Bảng 3.10: Liên quan giữa kinh nghiệm với kiến thức..................................29
Bảng 3.11: Liên quan giữa kinh nghiệm với thái độ.......................................30
Bảng 3.12: Liên quan giữa chương trình học điều dưỡng lão khoa với kiến
thức..................................................................................................................30
Bảng 3.13: Liên quan giữa chương trình học điều dưỡng lão khoa với
thái độ.............................................................................................................30
Bảng 3.14: Liên quan giữa sự lựa chọn điều dưỡng lão khoa với kiến thức..31
Bảng 3.15: Liên quan giữa lựa chọn điều dưỡng lão khoa sau khi tốt nghiệp
với thái độ........................................................................................................31
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới tính..................................21
Hình 3.2: Đặc điểm nơi cư trú của đối tượng nghiên cứu...............................21
Hình 3.3: Kinh nghiệm chăm sóc người cao tuổi của đối tượng nghiên cứu. .22
Hình 3.4: Các yếu tố liên quan quá trình học điều dưỡng lão khoa của đối
tượng nghiên cứu.............................................................................................24
2
của sinh viên điều dưỡng trường Đại học Y Dược Hải Phòng về chăm sóc
sức khỏe cho người cao tuổi năm 2019” nhằm mục tiêu:
1. Mô tả kiến thức và thái độ của sinh viên điều dưỡng trường Đại học Y
Dược Hải Phòng về chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan liên đến kiến thức và thái độ của nhóm đối
tượng trên.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Đại cương
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về NCT. Trước đây người ta thường dùng
thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay khái niệm người cao
tuổi ngày càng được sử dụng nhiều hơn. Hai thuật ngữ này tuy không khác nhau
về mặt khoa học song về tâm lý, NCT là thuật ngữ mang tính tích cực và thể hiện
thái độ tôn trọng.
Theo quan điểm y học: Người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền
với việc suy giảm các chức năng của cơ thể.
Về mặt pháp luật: Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2009 quy định:
Người cao tuổi là “Tất cả các công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên” [9].
Theo Liên hợp quốc (UN) khái niệm người cao tuổi là người từ 60 tuổi trở
lên [34].
Một số nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ… lại quy định người cao tuổi là
những người từ 65 tuổi trở lên. Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự
khác nhau về lứa tuổi, có các biểu hiện về già hóa của người dân ở các nước
khác nhau. Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và
chống sự lão hóa sớm, phòng và chữa trị các bệnh tuổi già bằng các biện pháp
khác nhau nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe (thể chất và tinh thần) để giảm
thiểu các bệnh mạn tính, tàn tật và tử vong khi về già. Nhu cầu CSSK khác nhau
ở các nhóm tuổi. Đối với NCT nhu cầu CSSK bao gồm: CSSK tâm thần, tâm lý,
5
phục hồi về thị lực thính lực, dinh dưỡng đầy đủ đảm bảo, an toàn, phục hồi chức
năng, giảm thiểu các yếu tố nguy cơ. Ở nhiều nước trên thế giới, chăm sóc NCT
chủ yếu do chính bản thân NCT hoặc những người chăm sóc không chính thức
gồm người thân, bạn bè. Ngay khi có các dịch vụ chăm sóc chính thức phù hợp
thì chăm sóc không chính thức đóng vai trò chủ đạo.
1.2.2. Người cao tuổi ở Việt Nam
Già hóa dân số không chỉ diễn ở các nước phát triển mà tại các nước đang
phát triển cũng diễn ra với tốc độ nhanh chóng. Đó là một thách thức to lớn với
tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia. Việt Nam cũng
không nằm ngoài xu hướng đó. Theo số liệu của tổng cục điều tra dân số năm
2019, nước ta có trên 97 triệu số dân, đứng thứ 15 thế giới trong bảng xếp hạng
dân số các nước và vùng lãnh thổ [5]. Trong đó nhóm người cao tuổi xu hướng
ngày càng tăng. Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn "già hóa dân số" từ
năm 2011 và là một trong các quốc gia có tốc độ già hóa nhanh nhất trên thế
giới. Năm 2017, số người cao tuổi chiếm 11,9% trong tổng dân số, có nghĩa là cứ
9 người thì có 1 người từ 60 tuổi trở lên. Theo dự báo của Tổng cục thống kê,
đến năm 2038, nhóm đó dân số từ 60 tuổi trở lên khoảng hơn 21 triệu người,
chiếm 20% tổng dân số [12]. Việt Nam nằm trong top 5 quốc gia có dân số gia
tăng nhanh nhất trên thế giới. Dân số già hóa là thách thức cho nền kinh tế nước
nhà và dịch vụ, chính sách chăm sóc y tế.
Tại Việt Nam, nhu cầu CSSK của người cao tuổi là rất lớn nhưng điều kiện
tự thân của NCT còn rất hạn chế, thu nhập của NCT rất thấp, 70% NCT không
thu tăng lên so với tuổi. Đồng thời lưu lượng tim cũng giảm nhẹ, các van tĩnh
7
mạch chi dưới kém hoạt động hơn dẫn đến ứ trệ tuần hoàn chi duới gây suy giãn
tĩnh mạch. Các động mạch trở nên xơ cứng và kém đàn hồi.
Hệ hô hấp cũng không nằm ngoài quá trình lão hóa. Lồng ngực thay đổi về
hình dạng và hạn chế vận động, các tế bào biểu mô trụ của phế quản dày lên,
biểu mô tiết loạn dưỡng làm chất nhày bị cô đặc, số lượng lông mao bề mặt
đường dẫn khí giảm. Những cấu trúc dạng lông này giữ vai trò quan trọng trong
việc cảnh báo người già trước các dị vật đường thở như thức ăn. Tình trạng giảm
số lượng lông mao thường trầm trọng hơn nếu bệnh nhân có hút thuốc hoặc tiếp
xúc với khói bụi của môi trường [8]. Hơn nữa, nhiều người cao tuổi có giảm
phản xạ ho do thay đổi sinh lý hệ thần kinh. Đồng thời các trị số thông khí giảm
đáng kể dẫn đến dung tích phổi giảm [10].
Riêng với hệ tiêu hóa, người già gặp khó khăn trong nhai và nuốt thức ăn.
Các vấn đề viêm lợi, bệnh quanh răng, rụng răng và tăng cảm giác răng trở nên
rất phổ biến. Ở NCT tình trạng giảm nhu động ruột thực quản, giảm tiết dịch vị
dạ dày, trọng lượng gan, mật độ chắc và nhu mô gan giảm, túi mật và ống dẫn
mật giảm tính đàn hồi dẫn đến giảm hấp thu chất dinh dưỡng, đầy hơi chướng
bụng. Giảm nhu động ruột của đại tràng cản trở thức ăn di chuyển phần còn lại
của hệ thống tiêu hóa. Tăng thời gian lưu thông khối thức ăn trong ruột làm tăng
tái hấp thu nước nhiều hơn dẫn đến tỉ lệ táo bón tăng người cao tuổi [8].
Những thay đổi trong hệ tiết niệu gặp nhiều ở người cao tuổi. Thận, cơ quan
phụ trách nhiệm vụ cô đặc nước tiểu và loại trừ các sản phẩm chuyển hóa sẽ mất
đi một lượng lớn các đơn vị lọc (nephron) và cầu thận. Ở người cao tuổi, trương
lực và khối lượng bàng quang cũng giảm sút nghiêm trọng từ đó dẫn tới tỉ lệ cao
người già mắc chứng són tiểu, dễ bị ứ đọng nước tiểu làm tăng nguy cơ nhiễm
Những biểu hiện bên ngoài da, lông, tóc, móng cũng thay đổi. Trong suốt
quá trình lão hóa, móng tay và móng chân trở nên dày và giòn vì vậy người già
sẽ rất khó khăn trong việc tự chăm sóc móng cho mình. Da của người già thường
mỏng và dễ tổn thương. Số lượng mô dưới da giảm khiến da khô và mất khả
năng đàn hồi dẫn tới xuất hiện nhiều nếp nhăn. Sự xuất hiện các nếp nhăn liên
quan chặt chẽ với mức thời gian tiếp xúc ánh nắng trong suốt cuộc đời mỗi người
đặc biệt là trong những năm đầu của giai đoạn lão hóa. Trên thực thế, những
vùng da ít tiếp xúc với ánh nắng (da mặt trong cánh tay) có thể không có nếp
nhăn và nhìn rất trẻ trung. Bên cạnh đó, khi con người già đi các tuyến mồ hôi
cũng giảm hoạt động dẫn tới mồ hôi được tiết ra ít hơn. Lớp cơ và mỡ dưới da
bắt đầu teo nhỏ. Những thay đổi này gây ảnh hưởng tới chất lượng sống của
người già: trước tiên là khô da, một tình trạng làm người già không thoải mái và
có thể dẫn tới rách da dù lực tác động rất nhỏ và khó liền sau đó.Một thay đổi
bên ngoài thường gặp ở người già là tóc. Đây là một trong những bộ phân chịu
ảnh hưởng rõ rệt nhất của quá trình lõa hóa. Tóc người già có thể bạc màu, mượt
và mỏng nhưng mức độ thay đổi của từng người thì rất khác nhau. Một vài người
có thể rụng tóc, rụng lông không do di truyền mà do thay đổi hormon. Tóc của
phụ nữ thay đổi rõ rệt hơn còn rụng lông thì thường gặp ở cả 2 giới [8]. Những
biến đổi từ phân tử đến cơ quan và hệ cơ quan làm biến đổi và suy giảm chức
năng của các cơ quan trong cơ thể NCT. Vì vậy NCT họ thường mặc “bệnh tật
kép” với các bệnh mạn tính khác nhau: tăng huyết áp, đái tháo đường, đột quỵ,
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, loãng xương, sa sút trí tuệ, trầm cảm, mù lòa.
1.3.2. Đặc điểm tâm lý ở người cao tuổi
Cùng với quá trình lão hóa, quá trình thay đổi về sinh lý, tâm lý con người
trong giai đoạn cao tuổi cũng có rất nhiều thay đổi cùng với sự tương tác môi
10
nghi được thì thường không có thay đổi nhiều về tính cách. Trái lại, ở những
người khi về già cơ thể suy yếu, mắc nhiều bệnh tật, điều kiện kinh tế và sinh
hoạt khó khăn, mâu thuẫn gia đình, thiếu sự quan tâm chăm sóc của gia đình và
người xung quanh dễ trở nên trầm cảm, sầu muộn, lo nghĩ, cảm thấy cô quạnh,
thậm chí dễ nổi cáu. Vì vậy, CSSK NCT về mặt tinh thần là rất quan trọng, tinh
thần thoải mái lạc quan mới đẩy lui được bệnh tật [10], [15].
1.4. Thực trạng kiến thức, thái độ và các yếu tố liên quan của sinh viên điều
dưỡng trong thực hành chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.
Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ngày càng được quan tâm tại nhiều quốc
gia. Sức khỏe người cao tuổi tốt lên phần lớn nhờ sự phát triển y học và thái độ
làm việc của nhân viên y tế và sinh viên y khoa, sinh viên điều dưỡng. Đã có
nhiều nghiên cứu về thái độ, kiến thức của sinh viên y khoa về chăm sóc sức
khỏe NCT. Theo nghiên cứu của Melivin PW Chua và cộng sự năm 2008, kết
quả chỉ ra rằng sinh viên thái độ tích cực với NCT. Không có mối liên quan giữa
giới tính, tôn giáo, kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe với kiến thức và thái độ của
sinh viên y khoa về CSSK NCT [27]. Tuy nhiên một nghiên cứu khác của
Milutinović và cộng sự với sự tham gia của 130 sinh viên bao gồm: sinh viên đa
khoa, điều dưỡng và phục hồi chức năng của trường Đại học y Novi Sad bao
gồm hai nhóm sinh viên đã học về lão khoa và nhóm sinh viên chưa được đào
tạo về lão khoa. Kết quả sinh viên đã học về lão khoa có kiến thức trung bình và
cả hai nhóm có thái độ trung lập đối với NCT [17]. Trong một nghiên cứu khác,
sinh viên đúng 37% trong phiếu điều tra. Điểm số kiến thức không có sự khác
biệt đáng kể theo giới tính, dân tộc, kinh nghiệm chăm sóc người cao tuổi.
12
Nhưng có một sự khác biệt theo giới, sinh viên y khoa nữ có thái dộ tích cực hơn
sinh viên y khoa nam [14].
Đối với nghiên cứu đối tượng là nhân viên y tế bao gồm cán bộ y tế, bác sĩ
thái độ tích cực nhất hướng tới người cao tuổi. Trong đó, điều dưỡng nghỉ hưu và
điều dưỡng có trình độ học vấn thấp có thái độ tiêu cực nhất đối với NCT.
,Nghiên cứu của Mattos và cộng sự trên 132 sinh viên điều dưỡng và 129 hồ sơ
được phân tích. Kết quả của nghiên cứu cho thấy chỉ 2 sinh viên thể hiện sự quan
tâm theo đuổi điều dưỡng Lão khoa chiếm 1,6% [25]. Một vài nghiên cứu khác
điều tra tại một số quốc gia, tại Phần Lan, sinh viên điều dưỡng không lựa chọn
công việc chăm sóc người cao tuổi là một nghề đặc biệt (Hirvoren et at, 2004)
[29]. Tuy nhiên, hiện nay, những nghiên cứu về kiến thức và thái độ của sinh
viên điều dưỡng hướng để CSSK NCT tại Việt Nam còn đang hạn chế. Vì những
lý do trên nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu về: “Thực trạng và kiến thức và
thái độ của sinh viên điều dưỡng Đại học Y dược Hải Phòng về CSSK NCT”.