1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư dạ dày (UTDD) là một trong những ung thư phổ biến trên thế
giới. Theo ghi nhận của tổ chức y tế thế giới, ung thư dạ dày đứng thứ 5 về tỷ
lệ mắc với 952.000 ca mắc mới trong năm 2012, chiếm 6.8% trong tổng số
các trường hợp mới mắc ung thư. Trong đó tỷ lệ tử vong do ung thư dạ dày
đứng thứ 4 với 723.000 trường hợp tử vong, chiếm 8.8% các trường hợp tử
vong do ung thư . Khu vực Đông Á, trong đó có Việt Nam, chiếm tới gần
50% số ca mắc của toàn thế giới. Cũng theo ghi nhận của tổ chức y tế thế,
năm 2012 tại Việt Nam có hơn 14000 trường hợp ung thư dạ dày trong tổng
số 125036 bệnh nhân ung thư mới mắc [1]. Thời gian gần đây, mặc dù có
những tiến bộ về chẩn đoán sớm và điều trị, nhưng ung thư dạ dày vẫn là
bệnh có tiên lượng rất xấu, tiếp tục đặt ra thách thức lớn đòi hỏi cải thiện,
nâng cao hiệu quả điều trị ung thư dạ dày. Tỷ lệ sống thêm 5 năm cho các giai
đoạn ước tính khoảng 52%, như vậy có nghĩa là khoảng 48% số bệnh nhân
ung thư dạ dày chưa kiểm soát được [2]. Các yếu tố tiên lượng bệnh đã được
nhiều nghiên cứu đề cập gồm tuổi, giai đoạn bệnh, loại mô bệnh học [3]. Kết
quả điều trị của ung thư dạ dày phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó thể giải phẫu
bệnh của bệnh là yếu tố tiên lượng quan trọng [4].
Trong 50 năm qua, mặc dù số ca mắc mới và tử vong của ung thư dạ dày
đã giảm ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng tỷ lệ mắc ung thư dạ dày tế bào
nhẫn ngày càng gia tăng [5],[6]. Ung thư dạ dày thể tế bào nhẫn chiếm
khoảng 13,9% ung thư dạ dày nói chung [2]. Trong nhiều tài liệu, nhiều tác
giả trên thế giới ghi nhận ung thư dạ dày tế bào nhẫn ở giai đoạn sớm tiên
lượng như ung thư dạ dày không tế bào nhẫn. Tuy nhiên, ở giai đoạn muộn,
thể tế bào nhẫn tiên lượng xấu hơn so với các thể ung thư dạ dày khác [7],[8],
[9],[10],[11],[12]. Ung thư dạ dày tế bào nhẫn rất ít nhạy cảm với hóa chất
[13]. Thể tế bào nhẫn thường gặp ở người trẻ tuổi, giới tính nữ, người suy
3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU
1.1.1. Hình thể ngoài và trong của dạ dày
1.1.1.1. Hình thể ngoài
Dạ dày là đoạn phình lớn nhất của ống tiêu hóa, có hình giống như chữ J,
đi từ thực quản đến tá tràng. Dung tích hạ dày ở người trưởng thành khoảng
1500ml, thay đổi tùy theo lượng thức ăn ăn nhiều ăn ít. Kích thước khi căng
vừa dài 25cm, rộng 12 cm. Dạ dày nằm sát dưới cơ hoành và liên quan với
thành bụng trước ở vùng thượng vị, vùng rốn và vùng hạ sườn trái. Dạ dày có
hai thành: thành trước và thành sau; 2 bờ: bờ cong lớn và bờ cong nhỏ; và 2
lỗ: lỗ tâm vị thông với thực quản, và lỗ môn vị thông với tá tràng. Dạ dày
được chia thành 4 phần: phần tâm vị, đáy vị, thân vị và phần môn vị.
Tâm vị thông với thực quản qua lỗ tâm vị. Lỗ tâm vị nằm ở bên trái
đường giữa, cách đầu sụn sườn 7 về phía sau, bên trái khoảng 2,5 cm ngang
mức đốt sống 11, cách cung răng trên khoảng 40cm. Lỗ tâm vị không có van,
nhưng do các nếp niêm mạc đội lên có tác dụng như một van không cho thức
ăn trào ngược lên thực quản.
Đáy vị là phần phình to của dạ dày nằm bên trái và trên lỗ tâm vị và có
hình chỏm cầu. Ở tư thế đứng, đáy vị thường chứa khoảng 50ml và nằm ngay
sát dưới vòm hoành trái.
Thâm vị là phần có hình ống nằm dưới tâm vị và đáy vị, giới hạn dưới
của tâm vị là mặt phẳng đi từ khuyết góc bờ cong nhỏ đến phình của bờ cong
lớn, đối diện với khuyết góc.
Phần môn vị là phần đi từ khuyết góc của bờ cong nhỏ đến môn vị. Phần
môn vị được chia làm hai bởi rãnh nhẹ: hang môn vị là đoạn phình to liên tiếp
với thân vị, và ống môn vị là đoạn thu hẹp dài khoảng 2 - 3 cm tận hết bởi chỗ
Vùng thân vị: có tuyến đáy là ống tuyến thẳng chia nhánh, có 4 loại tế
bào là tế bào nhày cổ tuyến tiết chất nhày, tế bào viền tiết acid, tế bào chính
tiết pepsinogen và tế bào ưa bạc tiết serotonin.
Vùng môn vị: có tuyến ống môn vị cong queo chia nhánh, tế bào hợp
thành tuyến hình khối vuông tiết chất nhày và dạng nhày, có tế bào ưa bạc tiết
gastrin.
1.1.1.3. Liên quan với các tạng xung quanh
Phía trên liên quan với cơ hoành và thùy trái gan.
Phía trước liên quan với cơ thành bụng. Dạ dày nằm sát dưới thành bụng
5
trước trong một tam giác giới hạn bởi bờ dưới gan, cung xương sườn trái và
mặt trên đại tràng ngang.
Phía dưới liên quan với đại tràng ngang, mạc treo đại tràng và mạc nối lớn.
Phía sau và hai bên liên quan với lách, tụy, tuyến thượng thận trái, thận
trái, đại tràng góc lách.
Chính vì có sự liên quan này mà UTDD ở bờ cong lớn có thể xâm lấn
vào lách, đuôi tụy, xa hơn nữa là u xâm lấn vào đại tràng ngang.
1.1.2. Mạch máu của dạ dày
Các động mạch nuôi dạ dày là các nhánh của thân động mạch chủ bụng.
Dạ dày được nuôi dưỡng bởi hai vòng mạch chính dọc theo hai bờ cong của
dạ dày: Vòng mạch bờ cong vị bé và vòng mạch bờ cong vị lớn.
Vòng mạch bờ cong vị bé: Do động mạch vị mạc nối phải (từ động mạch
gan chung) nối với động mạch vị mạc nối trái (từ động mạch lách) dọc bờ
cong lớn và phân nhánh vào dạ dày. Tĩnh mạch vị mạc nối phải đổ vào tĩnh
mạch mạc treo tràng trên, tĩnh mạch vị mạc nối trái đổ vào tĩnh mạch lách.
Bên cạnh đó, dạ dày còn được cấp máu bởi các động mạch phụ khác:
Các động mạch vị ngắn tách ra từ động mạch lách, động mạch vị sau.
Mỹ và châu Phi là 2 khu vực có tỷ lệ mắc UTDD ghi nhận được thấp nhất.
Tại khu vực Đông Nam Á, Việt Nam có tỷ lệ mắc mới UTDD chuẩn theo
tuổi năm 2012 cao nhất, với tỷ lệ 24/100.000 dân với nam và 10/100.000
đối với nữ trong vòng 1 năm. Các thống kê UTDD ở miền Bắc và miền
Nam cũng cho thấy sự chênh lệch, tỷ lệ mắc UTDD ở Hà Nội gấp 2 lần so
với ở thành phố Hồ Chí Minh.
Sự khác biệt có ý nghĩa tỷ lệ mắc UTDD còn quan sát được giữa những
chủng tộc người khác nhau sống trong cũng khu vực địa lý. Tuy nhiên, cũng
có sự khác biệt giữa tỷ lệ mắc bệnh của cùng một chủng tộc người khi sinh
sống ở các khu vực địa lý khác nhau [24],[25],[26].
1.3. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ
7
1.3.1. Yếu tố môi trường và chế độ ăn uống [27],[28].
Đây là yếu tố đóng vai trò rất quan trọng. Một nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ
mắc UTDD của người Nhật di cư sang Mỹ thấp hơn so với người bản địa,
điều đó chứng minh vai trò của môi trường sống và chế độ ăn uống liên quan
tới UTDD Nhiều nghiên cứu đã chứng minh vai trò của chế độ ăn có liên
quan đến sự xuất hiện UTDD, họ kết luận rằng ăn các thức ăn tươi, hoa quả
tươi như cam, chanh, tăng chất xơ, thức ăn giàu vitamin A,C, các yếu tố vi
lượng như kẽm, đồng, sắt, magiê làm giảm nguy cơ mắc UTDD. Các yếu tố
có thể làm tăng nguy cơ mắc UTDD gồm:
- Sử dụng hàm lượng muối cao trong thức ăn.
- Thức ăn có chứa hàm lượng nitrat cao.
- Chế độ ăn ít vitamin A, C.
- Những thức ăn khô, thức ăn hun khói.
- Thiếu phương tiện bảo quản lạnh thức ăn.
- Rượu, thuốc lá.
gồm Thụy Điển, Đan Mạch và Phần Lan cho thầy có tăng nguy cơ mắc ung
thư dạ dày ở những người có anh chị em song sinh mắc bệnh. Những thành
viên gia đình thường cùng trải qua một môi trường sống, có điều kiện kinh tế
xã hội giống nhau.
1.4. ĐẶC ĐIỂM BỆNH HỌC
1.4.1. Vị trí ung thư
UTDD có thể gặp ở bất cứ vị trí nào của dạ dày, hay gặp nhất ở vùng
hang môn vị (60-70%), vùng BCN (18-30%) và các vùng khác ít gặp hơn như
BCL khoảng 3%, đáy vị 12%, tâm vị 9,5%, ung thư dạ dày toàn bộ chiếm từ
8%-10% [33],[34].
Tuy nhiên, theo những nghiên cứu gần đây ở Hoa Kỳ, Nhật Bản và châu
Âu cho thấy tỷ lệ ung thư ở đoạn gần dạ dày (tâm phình vị) có xu hướng tăng
đáng kể [25],[35],[36]. Tỷ lệ béo phì, một yếu tố nguy cơ gây ung thư dạ dày
vùng tâm vị, ngày càng tăng, cùng với việc điều trị sớm có hiệu quả tình trạng
nhiễm Helicobacter Pylori, thay đổi thói quen sử dụng muối bảo quản thực
9
phẩm, những yếu tố đã được chứng minh liên quan đến phát sinh ung thư dạ dày
đoạn xa, là những giả thuyết đặt ra để giải thích sự chuyển dịch này [35].
1.4.2. Tổn thương đại thể
1.4.2.1. Phân loại của Hiệp hội nội soi tiêu hóa Nhật Bản
Tổn thương đại thể được chia thành 6 típ:
Hình. Hình ảnh đại thể ung thư dạ dày [37].
- Típ 0: Khối u khu trú ở niêm mạc, hạ niêm mạc, hoặc nhô lên, hoặc phẳng,
hoặc lõm xuống nhẹ và được chia thành 3 thứ típ:
Típ 0I: Típ lồi u có dạng polyp, dạng cục hay nhú nhung mao phát triển
nổi lên trên niêm mạc.
Thành ổ loét có thể nhẵn, thường gặp xước nông.
-
Típ III - loét xâm lấn: Loét không rõ giới hạn, bờ ổ loét lẫn với niêm mạc
bên cạnh, đáy ổ loét xâm lấn dạ dày và niêm mạc bên cạnh.
-
Típ IV - xâm lấn lan toả: Còn gọi là ung thư xơ cứng dạ dày. U phát triển
không có giới hạn rõ, lan toả toàn bộ hay phần lớn dạ dày: Vách dạ dày cứng,
lòng hẹp. trên vùng ung thư có thể gặp loét nông hay sâu, nhưng bờ ổ loét
không rõ.
- Típ V - những khối u về đại thể không thuộc những xếp loại trên.
Đây là phân loại khá chi tiết và có thể chia thành 2 loại rõ ràng, theo đó:
+ Típ 0: Là tổn thương ở giai đoạn sớm, khi khối u kích thưỡc < 3cm.
sự xâm lấn chủ yếu dưới dạng niêm mạc hoặc dưới lớp niêm mạc
nhưng chưa xâm lẫn vào lớp cơ.
+
Típ I -V: Là tổn thương ở giai đoạn muộn, khối u thường có kích
thước lớn xâm nhập và lớp cơ thành dạ dày, có thể tới thanh mạc, xâm
lấn vào các tạng lân cận và di căn hạch.
11
1.4.2.2. Phân loại của Borrmann (1962) gồm 4 típ
Típ 1: Dạng polyp có giới hạn rõ.
với dị sản ruột và biểu hiện liên quan tới môi trường, típ lan toả tương đối phổ
biến ở người trẻ, gặp nhiều ở thân vị hơn, không kết hợp với dị sản ruột và có
thể liên quan đến di truyền. Hệ thống phân loại này có ích trong xử trí phẫu
thuật và đánh giá tiên lượng bệnh: Cắt dạ dày bán phần đối với típ ruột (biệt
hoá rõ và vừa) và cắt toàn bộ dạ dày với típ lan toả (UTBM tế bào nhẫn).
12
1.4.3.2. Phân loại của WHO (2000)
Bảng 1.1: Phân loại của Tổ chức y tế thế giới năm 2000
Típ mô học
Tân sản nội biểu mô – u tuyến
Ung thư biểu mô tuyến
Típ ruột
Típ lan tỏa
Ung thư biểu mô tuyến nhú
Ung thư biểu mô tuyến ống
Ung thư biểu mô tuyến nhầy
Ung thư biểu mô tuyến nhẫn
Ung thư biểu mô tuyến vảy
Ung thư biểu mô tế bào vảy
Ung thư biểu mô tế bào nhỏ
Ung thư biểu mô không biệt hóa
Các loại khác
Carcinoid ( u nội tiết biệt hóa cao)
Mã số bệnh
8140/02
8140/3
WHO (2010)
Ung thư biểu mô tuyến nhú
Ung thư biểu mô tuyến ống
Ung thư biểu mô tuyến nhầy
Ung thư biểu mô tế bào nhẫn và
và các thể UTBM kém kết dính khác
UTBM hỗn hợp
Lauren (1965)
Týp ruột
Týp lan tỏa
Týp pha
1.4.4. Các dấu ấn phân tử trong UTDD
Ứng dụng những xét nghiệm phân tử như xét nghiệm gen CDH1 trong ung
thư biểu mô dạ dày lan tỏa có tính di truyền (HDGC) và xét nghiệm HER2 có
ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán và điều trị ung thư dạ dày.
1.4.4.1. Thụ thể yếu tố phát triển biểu mô Her2/neu
Thụ thể yếu tố phát triển biểu mô (HER2), một thành viên của gia đình
thụ thể yếu tố phát triển (EGFR), một protein xuyên màng được mã hóa bởi
gen tiền ung thư nằm trên nhiễm sắc thể 17q21, có chức năng điều hòa dẫn
truyền tín hiệu trong quá trình phân chia tế bào, biệt hóa, quá trình chết theo
chương trình của tế bào và quá trình tăng sinh mạch. Hiện tượng khuyếch đại
gen HER2 được chú ý mô tả trong ung thư dạ dày từ năm 1986 sau khi được
phát hiện ở ung thư vú [32],[38].
14
Sự tăng biểu hiện protein HER2 được phát hiện bằng kỹ thuật hóa mô
Có khoảng 10% ung thư biểu mô dạ dày có tính chất gia đình, nhưng
chỉ có khoảng 1-3% trường hợp phát sinh từ những hội chứng ung thư dạ dày
có tính di truyền, như ung thư biểu mô dạ dày lan tỏa di truyền (HDGC), đa
polyp u tuyến có tính gia đình, ung thư biểu mô đại trực tràng không polyp có
tính di truyền (hội chứng Lynch), hội chứng đa polyp thiếu niên, hội chứng
Peutz-Jeghers, hội chứng Li-Fraumeni và đa polyp tăng sản dạ dày [32].
HDGC là rối loạn di truyền do gen trội. Khoảng 30% cá thể mắc
HDGC có đột biện gen ức chế u E-Cadherin hoặc CDH1. Sự bất hoạt của alen
thứ 2 của E-Cadherin do đột biến, methyl hóa có khả năng kích hoạt sự hình
thành ung thư dạ dày [44],[45]. Để chẩn đoán HDGC, ít nhất 2 trường hợp
ung thư biểu mô dạ dày lan tỏa ở thành viên trong gia đình cách 1-2 thế hệ
được ghi nhận và ít nhất trong đó có 1 người chẩn đoán khi dưới 50 tuổi; hoặc
có ít nhất 3 thành viên trong gia đình, cách 1-2 thế hệ, có chẩn đoán ung thư
dạ dày lan tỏa, không quan tâm đến tuổi tại thời điểm chẩn đoán.
Rất khó để chẩn đoán HDGC ở giai đoạn sớm về mô bệnh học hay nội
soi, độ ác tính cao của HDGC cùng với nguy cơ mắc ung thư dạ dày trong
suốt cuộc đời người mang đột biến CDH1 lên đến trên 80%, cắt dạ dày toàn
bộ dự phòng sẽ được tiến hành nhắm bảo vệ cuộc sống cho người bệnh sau
khi khẳng định bởi kết quả xét nghiệm phân tử CDH1. Theo cập nhật mới
nhất của hiệp hội quốc tế về ung thư dạ dày, xét nghiệm tìm đột biến CDH1
được khuyến cáo ở những đối tượng: (1) Có hai thành viên gia đình bị ung
thư dạ dày, một trong đó là ung thư thể lan tỏa; (2) Ba thành viên gia đình
cách một hoặc 2 thế hệ bị ung thư dạ dày, trong đó có một trường hợp bị ung
thư thể lan tỏa; (3) Một người thân bị ung thư dạ dày lan tỏa trước tuổi 40; (4)
Tiền sử bản thân hoặc gia đình bị ung thư dạ dày lan tỏa và ung thư vú thể
tiểu thùy, có trường hợp chẩn đoán trước 50 tuổi [32].
16
17
Bảng 1.2. Phân loại giai đoạn UTDD theo AJCC - 2010
Giai đoạn
0
IA
IB
IIA
IIB
IIIA
IIIB
IIIC
IV
T
N
M
Tis
T1
T1
T2
T1
T2
N2
N0,1
N3
N2,3
N bất kỳ
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M0
M1
1.5. CHẨN ĐOÁN UNG THƯ DẠ DÀY
1.5.1. Các triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng của UTDD thường rất nghèo nàn và không đặc
Thể u lồi (típ 1): Tổn thương chỉ hơi lồi lên bề mặt, vài nốt nhỏ, màu đỏ
sần sùi, ranh giới tương đối rõ. Có thể nhìn rõ qua ống nội soi, màn hình hoặc
có thể bơm xanh methylen hay đỏ Congo sẽ thấy rõ hơn.
Thể bề mặt (típ 2): Tổn thương chỉ nằm ở bề mặt dạ dày, có khi chỉ
là một trợt nông trên nếp niêm mạc to, phì đại. Loại này thường ranh giới
không rõ. Tổn thương dưới 3 hình thái
2a (Elavant), 2b (Flat), 2c
(Depressed) phát hiện qua sự biến đổi màu sắc của tổn thương. Những
trường hợp này cần phải sinh thiết nhiều mảnh, xung quanh vị trí tổn
thương và trong vùng của tổn thương.
Thể loét (típ 3): Tổn thương là những ổ loét nông bờ không đều, hơi lồi
cao, niêm mạc mất, có khi sần sùi.
-
Hình ảnh tổn thương ở giai đoạn tiến triển:
Thể sùi: Là khối u sùi trong lòng của dạ dày, u to nhỏ không đều, ở
19
giữa và trên bề mặt ăn vào tổ chức khối u, có nhiều tổ chức hoại tử, màu trắng
sẫm lồi lõm, nhiều hốc. Hoặc ổ loét đáy trắng, cứng, lộ rõ những mạch máu
đen hay tím sẫm hoặc có những đám hoại tử chảy máu hay có cục máu đen
bám chắc. Có những khối u sùi thâm nhiễm hết một phần hay toàn bộ dạ dày.
Thể loét: Là những ổ loét rõ, điển hình, thường nằm ở bờ cong nhỏ,
mặt trước, mặt sau. Đặc điểm ổ loét: đáy nông, nham nhở, có đám sần sùi, bờ
lồi lõm không đều, gồ cao, xung quanh niêm mạc mất nếp, đôi khi có đám trợt
nên hiện nay vẫn ít được sử dụng tại Việt Nam. Mặt khác, MRI ít được sử
dụng trong chẩn đoán các khối u ở tạng rỗng.
1.5.2.7. Siêu âm và siêu âm nội soi
Siêu âm ổ bụng phát hiện các dấu hiệu như dịch ổ bụng, di căn hạch, di
căn gan, phần nào giúp phẫu thuật viên tiên lượng được cuộc mổ.
Siêu âm nội soi cho phép quan sát các lớp của thành ống tiêu hóa cũng
như hạch lân cận và các cơ quan xung quanh. Qua siêu âm nội soi có thể có
thể đánh giá mức độ của bệnh qua đánh giá mức độ xâm lấn của u và hạch, từ
đó lựa chọn được phương pháp điều trị thích hợp.
1.5.2.8. Nội soi ổ bụng
Nội soi ổ bụng kèm theo xét nghiệm tìm tế bào ung thư trong dịch rửa ổ
bụng cho phép phát hiện sớm di căn phúc mạc và đánh giá trực quan khả năng
cắt u, tránh phẫu thuật lớn không cần thiết.
21
1.5.2.9. Chụp PET scan
Chụp cắt lớp vi tính bằng bức xạ positron. Đây là phương pháp ghi
hình rất mới sử dụng các hoạt chất phóng xạ có đời sống cực ngắn gắn kết với
các chất tham gia vào chuyến hóa của tế bào, hóa chất hay dùng là 18 FGD.
Phương pháp này có giá trị trong việc đánh giá giai đoạn bệnh và đặc biệt là
phát hiện các ổ tái phát, di căn vi thể khi các phương pháp chẩn đoán hình ảnh
khác chưa thể phát hiện được. Theo một số tác giả thì độ nhạy và độ đặc hiệu
của PET scan có thể lên đến 85%.
1.6. ĐIỀU TRỊ VÀ TIÊN LƯỢNG UTDD
1.6.1. Điều trị phẫu thuật
Cũng như một số bệnh ung thư khác, phẫu thuật phương pháp cơ bản
để điều trị ung thư dạ dày. Phẫu thuật được đề cập đến trong mọi giai đoạn
của ung thư dạ dày, ở giai đoạn sớm ung thư còn khu trú tại chỗ và vùng,
hiện thật triệt để.
Có 3 kỹ thuật cắt dạ dày cơ bản là: Cắt đoạn dạ dày, cắt cực trên dạ dày,
cắt toàn bộ dạ dày.
-
Cắt đoạn dạ dày được chỉ định cho các tổn thương nông, chưa lan
rộng lên trên, các tổn thương nằm ở môn vị, hang vị. Sau khi cắt dạ dày, lập
lại lưu thông đường tiêu hóa theo các phương pháp Billroth 1 (Pean) nếu tổn
thương là EGC, hoặc Billroth 2 (Polya, Finsterer).
-
Cắt cực trên dạ dày, chỉ định cho các tổn thương nằm ở vùng tâm vị,
chưa lan cao hay thâm nhiễm xung quanh. Người ta thực hiện cắt 1/3 dưới
thực quản và cực trên dạ dày, sau đó lập lại lưu thông đường tiêu hóa bằng
cách nối phần còn lại của dạ dày với thực quản.
-
Cắt toàn bộ dạ dày thực hiện khi tổn thương đã lan rộng, bên cạnh
đó có một số trường phái ngày nay cho rằng tất cả các ung thư dạ dày đều cần
được cắt toàn bộ dạ dày, dù ở bất kỳ vị trí nào, đó gọi là cắt dạ dày toàn bộ
theo nguyên tắc. Tuy nhiên tại Việt Nam hiện nay, phần lớn các cơ sở phẫu
thuật đều thực hiện cắt dạ dày toàn bộ khi mà tổn thương bắt buộc phải tiến
hành. Việc quan trọng nhất trong phẫu thuật là phải lập lại lưu thông tiêu hóa
để đảm bảo dinh dưỡng cho bệnh nhân.
Với những trường hợp ung thư dạ dày di căn gan tại thời điềm chẩn
đoán, khi những khối di căn khu trú ở vị trí thuận lợi cho cắt gan đặc biệt khi
đơn ổ và kích thước nhỏ hơn 5cm, chỉ định điều trị triệt căn vẫn có thể được
tại chỗ. Phương pháp này có tác dụng: Giảm giai đoạn cho những ung thư
không mổ được, mặt khác làm tăng cơ hội điều trị triệt căn cho những bệnh
nhân có khả năng phẫu thuật bằng cách tiêu diệt các ổ vi di căn.
24
Hóa trị bổ trợ (adjuvant chemotherapy): Chỉ định cho bệnh nhân ung
thư dạ dày giai đoạn II-III đã được phẫu thuật triệt căn.
Hóa trị triệu chứng: Được áp dụng cho các ung thư dạ dày tiến triển
không có khả năng phẫu thuật triệt căn hoặc các bệnh nhân ung thư dạ dày tái
phát, di căn xa với mục đích kéo dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân.
Các phác đồ hoá trị ung thư dạ dày căn bản dựa trên thuốc 5FU như
FAM (5FU, Adriamycin, Mitomycin C), ELF (Etoposide, Leucovorin, 5FU),
ECF (Epirubicin, Cisplatin, 5FU), ECX (Epirubicin, Cisplatin, Xeloda), EOX
(Epirubicin, Oxaliplatin, Xeloda), DCF (Doxetaxel, Cisplatin, 5FU), XELOX
(Xeloda, Oxaliplatin), FOLFOX (5FU, Calcium folinat, Oxaliplatin),
FOLFIRI (5FU, Calcium folinat, Irrinotecan), Xeloda đơn thuần,...
1.6.2.2. Xạ trị
Xạ trị thường thực hiện kết hợp với phẫu thuật, có thể tiến hành trước
hoặc sau phẫu thuật tùy mục đích. Có thể kết hợp phẫu thuật cắt đoạn dạ dày,
nạo vét hạch, với xạ trị và hóa trị. Tuy nhiên phương pháp này rất ít được áp
dụng hiện nay trong điều kiện thực tế ở nước ta do những khó khăn, hạn chế
về trang thiết bị cũng như kỹ thuật xạ trị.
1.6.3. Các yếu tố tiên lượng trong ung thư dạ dày
1.6.3.1. Phân loại giai đoạn bệnh theo TNM
Giai đoạn bệnh (mức độ xâm lấn T, di căn hạch và di căn xa) là yếu tố
tiên lượng quan trọng nhất, nó độc lập không phụ thuộc vào các yếu tố khác.
Nghiên cứu của trung tâm ung thư Memorial Sloan Kettering cho thấy di căn
hạch là một yếu tố không thể thiếu để đánh giá tiên lượng bệnh và khả năng
Ngoài ra tiên lượng còn dựa vào phản ứng viêm và xâm nhập quanh
thần kinh, chất chỉ điểm khối u…