Nhận xét tình trạng quản lý đa yếu tố ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú tại khoa nội tổng hợp bệnh viện e hà nội - Pdf 55

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường là một rối loạn mạn tính, có những thuộc tính sau: tăng
glucose máu, kết hợp với những bất thường về chuyển hoá carbonhydrat,
lipid, protein, bệnh luôn gắn liền với xu thế phát triển các bệnh lý về thận, đáy
mắt, thần kinh và các bệnh tim mạch do hậu quả của xơ vữa động mạch [1].
Theo IDF, trên thế giới tính đến năm 2015 hiện có khoảng 415 triệu người
mắc bệnh ĐTĐ, điều này vượt xa tất cả các dự đoán của các chuyên gia trước
đây và đây là gánh nặng của ngành y tế các nước trong đó có Việt Nam. Dự
báo đến năm 2030 sẽ có khoảng 642 triệu người [2].
Gần 80% các trường hợp tử vong do đái tháo đường là ở các quốc gia có
thu nhập thấp và trung bình.Trong bệnh lý đái tháo đường nói chung, đái tháo
đường typ 2 chiếm 85-95% [3].Đái tháo đường typ 2 là tình trạng suy giảm
chức năng tế bào β và sự đề kháng insulin.Đái tháo đường typ 2 là bệnh
không lây nhiễm liên quan đến dinh dưỡng và lối sống.
Bệnh tiến triển âm thầm, từ từ, ước tính có khoảng 30 – 90% bệnh nhân đái
tháo đường type 2 không được chẩn đoán kịp thời, khi phát hiện bệnh thường đã
muộn kèm theo nhiều biến chứng trầm trọng như: tai biến mạch máu não, nhồi
máu cơ tim, bệnh lý bàn chân, biến chứng mắt, thận…để lại di chứng nặng nề
thậm chí tử vong.
Các nghiên cứu cho thấy bệnh nhân ĐTĐ nếu được quản lý tốt sẽ giảm
đáng kể các biến chứng và tỷ lệ tử vong [4], [5]. Qua nghiên cứu của
Diabcare 1998 – 2003 tại Việt Nam cho thấy thực trạng quản lý ĐTĐ ở
nước ta còn kém, mức glucose máu và HbA1c còn cao do đó xảy ra nhiều
biến chứng nặng nề cho bệnh nhân [6]. Đã có nhiều mô hình giáo dục
bệnh nhân như các câu lạc bộ ĐTĐ của các khoa Nội tiết. Tuy nhiên mô
hình này còn chưa được áp dụng rộng rãi dẫn đến hậu quả là việc quản lý


2


1.1 Tình hình đái tháo đường
Đái tháo đường là tình trạng tăng glucose máu mạn tính, đặc trưng bằng
rối loạn chuyển hoá carbonhydrat, lipid, protein kết hợp với giảm tuyệt đối
hay tương đối tác dụng của insulin hoặc bài tiết insulin.
1.1.1. Tình hình đái tháo đường trên thế giới
Tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường có xu hướng phát triển ngày càng
nhanh, đặc biệt ĐTĐ type 2 hiện nay đang trở thành đại dịch. Theo hiệp hội
ĐTĐ quốc tế năm 1995 cả thế giới có 135 triệu người mắc bệnh ĐTĐ, trong
đó ĐTĐ type 2 là 114,9 triệu người. Năm 2003 số người mắc bệnh ĐTĐ đã
lên 170 triệu người, trong đó ĐTĐ type 2 là 165,7 triệu người [7]. Dự đoán
năm 2030 sẽ có 551,9 triệu người mắc ĐTĐ, trong đó người mới mắc sống ở
các nước thu nhập thấp và trung bình [1]. Tỷ lệ ĐTĐ type 2 cao nhất ở châu
Mỹ và các đảo Thái Bình Dương, tiếp theo là người Mỹ gốc Mexico, người
Mỹ gốc Ấn Độ, rồi người Đông Nam Á, người Mỹ gốc Phi [7].
Ở Châu Á tuỳ thuộc vào tốc độ phát triển kinh tế mà tỷ lệ mắc đái tháo
đường khác nhau: ở Hàn Quốc khoảng 2%, Malaysia 3%, Thái Lan 4,2%,
người trên 30 tuổi ở Indonesia mắc đái tháo đường là 17%[8].
1.1.2. Tình hình đái tháo đường ở Việt Nam
Việt Nam tỷ lệ mắc đái tháo đường chỉ ở mức 0,9% (Huế), 2,52%
(thành phố Hồ Chí Minh) vào năm 1990. Sau 10 năm tỷ lệ này ở các thành
phố lớn là 4,1%; năm 2002 tăng lên 4,4% [7] với mức tính ở cả cộng đồng là
2,7% dân số. Nếu tính nhóm người có yếu tố nguy cơ mắc bệnh cao thì tỷ lệ
đã tăng trên 10%. Theo thống kê năm 2008, tỷ lệ mắc bệnh trong cả nước là
trên 5%, tại các thành phố lớn và khu công nghiệp có tỷ lệ từ 7% đến 10%.


4

1.2. Chẩn đoán đái tháo đường [9]

đề kháng insulin.
+ Triệu chứng lâm sàng của ĐTĐ typ 2 thường kín đáo, bệnh thường
được chẩn đoán khi có biến chứng hoặc qua khám sức khỏe.
Các yếu tố nguy cơ của ĐTĐ typ 2:
 Tiền sử giảm dung nạp glucose hoặc rối loạn glucose lúc đói
 Tiền sử gia đình ĐTĐ
 Béo phì (nhất là béo phì dạng nam)
 Từ 45 tuổi trở lên
 Tăng HA và/ hoặc rối loạn lipid máu
 Tiền sử ĐTĐ thai nghén
 Tiền sử sinh con nặng ≥ 4 kg
 Chủng tộc (người Mỹ gốc Phi, người Mỹ gốc Tây Ban Nha), người
Mỹ bản địa, người trên các đảo thuộc Thái Bình Dương)
Ngoài ra còn một số điều kiện thuận lợi:
 Ít vận động
 Stress
 Thói quen ăn nhiều và giàu đường đơn
 Dùng các thuốc làm tăng glucose huyết (corticoid)
 Chẩn đoán phân biệt ĐTĐ typ 1 hoặc typ 2 còn gặp nhiều khó khăn,
đặc biệt ở những tuyến chưa có đủ xét nghiệm. Các yếu tố có giá trị
chẩn đoán cao là các kháng thể, insulin máu và C- peptid máu.
- Các typ ĐTĐ đặc biệt khác:
+ Khiếm khuyết chức năng tế bào β do gen
 MODY 1: Nhiễm sắc thể thứ 20, HNF - 4α.


6
 MODY 2: Nhiễm sắc thể thứ 7, glucokinase.
 MODY 3: Nhiễm sắc thể thứ 12, HNF - 1α.
 MODY 4: Nhiễm sắc thể thứ 13, IPF - 1

 Loạn trương lực cơ
- Đái tháo đường thai nghén
ĐTĐ thai nghén là sự giảm dung nạp glucose hoặc ĐTĐ được phát hiện
lần đầu trong lúc mang thai (không loại trừ khả năng BN đã có giảm dung nạp
glucose hoặc ĐTĐ từ trước nhưng chưa được phát hiện). Với ĐTĐ thai kỳ, tỷ
lệ phát hiện cao ở giai đoạn muộn của thai kỳ hơn là giai đoạn sớm. Phần lớn
các trường hợp sau sinh glucose có thể trở về bình thường trở lại, tuy nhiên
những trường hợp có tiền sử ĐTĐ thai kỳ này có nguy cơ phát triển thành
ĐTĐ typ 2 trong tương lai.
1.4. Các yếu tố nguy cơ của đái tháo đường
Béo phì, THA và RLLP máu là 3 yếu tố nguy cơ chính của ĐTĐ.Đây là
nhân tố chính thúc đẩy làm xuất hiện bệnh, đồng thời làm cho bệnh nặng lên.
* Tăng huyết áp (THA)
ĐTĐ typ 2 và THA là 2 bệnh cảnh thường phối hợp với nhau, chúng
làm gia tăng nguy cơ bệnh lý tim mạch và thận. THA có thể xuất hiện trước hoặc
sau khi có biểu hiện trên lâm sàng của bệnh ĐTĐ. Tỷ lệ THA của BN ĐTĐ týp 2
tăng theo tuổi đời, tuổi bệnh, chỉ số khối cơ thể. THA ở người mắc bệnh ĐTĐ có
rất nhiều cơ chế, nhiều yếu tố phối hợp nhau làm thúc đẩy các biến chứng vi
mạch và biến chứng mạch máu lớn xuất hiện sớm, tổn thương nặng nề hơn do
vậy đòi hỏi việc điều trị THA phải chặt chẽ hơn, mục tiêu kiểm soát huyết áp
ở người ĐTĐ phải thấp hơn người THA mà không có bệnh ĐTĐ, đặc biệt


8

trong những trường hợp có tổn thương thận. Kiểm soát huyết áp là điểm cốt yếu
trong phòng ngừa biến chứng tim mạch trong BN ĐTĐ vì có đến ¾ số BN ĐTĐ
tử vong liên quan đến biến chứng tim mạch [12].
Một số đặc điểm THA trên BN ĐTĐ là [13]:
- Tăng nhạy cảm với muối natri.

Quá cân và béo phì từ lâu đã được xác định là yếu tố nguy cơ của bệnh
ĐTĐ typ 2. Do ăn uống chất nhiều năng lượng, ít vận động thể lực do đó
nguy cơ người béo phì ngày càng tăng.
Béo phì là tình trạng dư thừa khối lượng mỡ trong cơ thể gây ra hậu quả
xấu cho sức khỏe. Năm 1985 béo phì được Tổ chức Y tế Thế giới ghi nhận là
một trong những yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ không phụ thuộc insulin. Ở
người béo phì, lượng mỡ phân phối ở bụng nhiều dẫn đến tỷ lệ vòng eo/ vòng
hông cao hơn bình thường. Béo bụng có liên quan chặt chẽ với hiện tượng
kháng insulin do thiếu hụt sau thụ thể trong tác dụng của insulin dẫn đến sự
thiếu insulin tương đối do giảm số lượng thụ thể ở các mô ngoại vi (chủ yếu
mô cơ, mô mỡ). Do tính kháng insulin cộng với sự giảm tiết insulin dẫn tới
giảm tính thấm màng tế bào với glucose ở tổ chức cơ và mỡ, ức chế quá trình
phosphoryl hóa và oxy hóa glucose, làm chậm quá trình chuyển hóa
hydratcacbon thành mỡ, giảm tổng hợp glucose ở gan, tăng tân tạo đ8ờng mới
và ĐTĐ xuất hiện [19]. Nguyễn Kim Lương, Thái Hồng Quang (2000) cho
thấy tỷ lệ béo trung tâm chiếm tỷ lệ 39,6% [19].
Ở các nước phương Tây 80 - 90% BN ĐTĐ týp 2 có thừa cân hoặc béo
phì. Các nghiên cứu dịch tễ học ở Việt Nam cũng cho thấy có mối liên quan
rõ rệt giữa quá cân, béo phì với nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ týp 2 [10],[20]. Tuy
nhiên, tỷ lệ quá cân, béo phì ở BN ĐTĐ týp 2 ở Việt nam thấp hơn nhiều so
với các nước phương Tây. Béo phì đặc biệt là béo phì dạng nam là một yếu tố
nguy cơ xơ vữa động mạch và ĐTĐ. Béo phì làm tăng nguy cơ mắc nhiều


10

bệnh lý. Ở người béo phì nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao gấp 1,7 lần, nguy
cơ THA gấp 2 lần và nguy cơ mắc ĐTĐ týp 2 tăng gấp 3 lần so với người có
cân nặng bình thường. ĐTĐ, THA và béo phì nằm trong bệnh cảnh chung của
hội chứng chuyển hóa. Khi BN ĐTĐ có THA và béo phì thì nguy cơ mắc các

- Bệnh võng mạc tiền tăng sinh
- Bệnh võng mạc tăng sinh
- Đối với đái tháo đường typ 2 khoảng 25% BN đã có bệnh võng mạc
không tăng sinh khi bệnh ĐTĐ được phát hiện. Tần suất bệnh võng mạc gia
tăng khoảng 8%/năm, sau thời gian bị bệnh 8 năm thì tuần suất này là 50% và
sau 20 năm có thể lên tới 100%.
Theo nghiên cứu của Hoàng Thu Hà, bệnh võng mạc ĐTĐ gặp hầu hết
các giai đoạn nhưng bệnh võng mạc ĐTĐ tăng sinh chiếm tới 69,8%.
Bệnh võng mạc tăng sinh do ĐTĐ nhanh chóng đe dọa thị lực bởi các
mạch máu tân tạo luôn có nguy cơ chảy máu và nguy cơ bong võng mạc. Mặt
khác thông qua đánh giá tình trạng võng mạc có thể hiểu được chức năng
thận. Tình trạng bệnh lý mắt – thận hầu như luôn đi song song với nhau [21].
* Biến chứng thận do đái tháo đường
- Bệnh thận đái tháo đường là biến chứng nặng của ĐTĐ, là nguyên nhân
hàng đầu gây suy thận ở giai đoạn cuối ở châu Âu và Mỹ. Ở các nước đang
phát triển, 30 – 40% BN hiện đang điều trị thay thế thận có bệnh ĐTĐ (chủ
yếu là ĐTĐ type 2). Khoảng 3% BN ĐTĐ typ 2 mới được chẩn đoán có
triệu chứng bệnh thận lâm sàng. Tỷ lệ bệnh cao nhất vào thời điểm bị ĐTĐ
10 – 20 năm.
- Các giai đoạn của bệnh thận do đái tháo đường:
Theo Mogensen. CE (1989) đã mô tả bệnh thận đái tháo đường tiến triển
qua 5 giai đoạn:
– Giai đoạn 1: Là giai đoạn tăng MLCT (>120 ml/phút), thận to. Nếu
điều chỉnh tốt tình trạng tăng glucose máu bằng insulin triệu chứng này có thể
hồi phục sau vài tuần, vài tháng.


12

– Giai đoạn 2: Albumin niệu còn bình thường, MLCT phục hồi trở lại

cùng các áp lực lớn khi đi đứng và trọng lượng cơ thể dồn hết vào đầu xương
bàn chân làm cho các vị trí này dễ bị loét.
Bệnh thần kinh tự động do ĐTĐ: thường kết hợp với thần kinh ngoại vi, tổn
thương rất nhiều cơ quan và hệ thống cơ quan.
+ Bệnh thần kinh tự động tim:
Triệu chứng lâm sàng: nhịp tim khi nghỉ nhanh > 100 lần/phút, NMCT
không triệu chứng, hạ huyết áp tư thế.
+ Biến chứng thần kinh tự động ống tiêu hóa: gây giảm co thắt thực
quản, dạ dày. Biểu hiện: nuốt nghẹn, đầy bụng, ăn chậm tiêu, đau thượng vị,
buồn nôn, ỉa chảy hoặc táo bón xen kẽ từng đợt.
+ Bệnh thần kinh tự động tiết niệu – sinh dục
 Bệnh thần kinh bàng quang: Biểu hiện đái không hết bãi, đái khó, bí đái
 Bệnh thần kinh hệ sinh dục:
Nam giới: rối loạn cương dương, trào ngược tinh dịch, phóng tinh ra quá sớm
Nữ giới: rối loạn kinh nguyệt, khô âm đạo, giảm cảm giác vùng bẹn,
mất cảm giác kích thích tình dục.
+ Bệnh thần kinh vận mạch:
 Tăng tiết mồ hôi vùng mặt và thân
 Giảm tiết mồ hôi ở phần xa gốc chi dưới: da khô, ngứa, rụng lông, rạn
nứt, gia tăng chai chân, loạn dưỡng móng, tăng nguy cơ loét chân.
– Biến chứng thần kinh sọ não: ít gặp (khoảng 0,5 – 1%). Thường gặp
nhất là dây thần kinh V, VI, VII, III, IV.
– Bệnh lý bàn chân do ĐTĐ:
ĐTĐ là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất gây nên nhiều
bệnh lý ở bàn chân. Tổn thương bàn chân ĐTĐ là hậu quả của biến chứng
thần kinh (vận động, cảm giác, tự động), biến chứng mạch máu làm giảm tưới


14



Khoảng 50% bệnh nhân ĐTĐ type 2 có tăng HA. Ở bệnh nhân ĐTĐ type 2,
tăng HA có thể xảy ra trước, cùng lúc hoặc sau khi bị ĐTĐ trong bệnh cảnh
hội chứng chuyển hóa.
* Bệnh mạch máu ngoại vi
Bệnh mạch máu ngoại vi ở bệnh nhân ĐTĐ thể hiện chủ yếu bằng viêm
tắc động mạch chi. Hậu quả của bệnh mạch máu ngoại vi là loét, hoại thư
chân. Triệu chứng lâm sàng của bệnh mạch máu ngoại vi ở giai đoạn sớm là
đau cách hồi, đau khi nghỉ, nặng có thể dẫn đến tắc mạch chi gây hoại tử thậm
chí phải cắt cụt chi. Một số bệnh nhân không có triệu chứng rõ rệt do có biến
chứng thần kinh.
Thăm khám: mạch ngoại vi yếu, thậm chí không bắt được, rụng lông,
thiểu dưỡng móng, da khô lạnh. Siêu âm hoặc chụp mạch giúp chẩn đoán
bệnh lý mạch máu ngoại vi.
* Xơ vữa động mạch và rối loạn lipid máu:
Ở người bị bệnh ĐTĐ, bệnh xơ vữa động mạch và rối loạn chuyển hóa
lipid thường gặp hơn. BN đái tháo đường type 2 kháng insulin, kiểu rối loạn
lipid thường gặp là HDL – C thấp và triglycerid cao [22].
Triệu chứng lâm sàng của rối loạn lipid máu:
 Xơ vữa động mạch gây ra các bệnh tim mạch
 Các biểu hiện ngoài da: u vàng tại gân cơ như gân Achille và gân cơ
duỗi ngón tay, đôi khi xuất hiện tại gân khuỷu tay và đầu gối. Đôi khi
gặp u vàng phát ban ở bụng và chi trên.
 Hội chứng tăng chylomicron: xảy ra khi tăng chylomicron kéo dài, hậu
quả nặng nề nhất là gây viêm tụy cấp tái phát nhiều lần.
 Đau bụng mạn tính do gan nhiễm mỡ
1.5.4. Hạ đường máu ở bệnh nhân ĐTĐ [7], [21]


16

1.6.1. Kiểm soát glucose máu
Các biện pháp kiểm soát glucose máu
Sự gia tăng tỷ lệ ĐTĐ và ảnh hưởng của các biến chứng đã trở thành
vấn đề quan tâm toàn cầu, do đó rất cần thiết một mô hình toàn diện trong
điều trị ĐTĐ để đạt được những mục tiêu điều trị là kiểm soát tốt ĐH, làm
giảm các triệu chứng của bệnh, tiến tới làm giảm và chậm xuất hiện các
biến chứng, giảm tỷ lệ HbA1c và cải thiện chất lượng cuộc sống. Có nhiều


17

yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát glucose máu đó là chế độ dinh dưỡng, hoạt
động thể lực, thuốc điều trị ĐTĐ và tự chăm sóc (tự theo dõi glucose máu,
thay đổi lối sống).


18

Chế độ dinh dưỡng
Chế độ ăn rất quan trọng, là nền tảng cơ bản của chế độ điều trị bệnh
ĐTĐ. Không thể điều trị có hiệu quả ĐTĐ týp 2 mà không thực hiện tốt chế
độ ăn hợp lý, cung cấp đầy đủ các thành phần thức ăn và lượng calori đảm
bảo cho cân nặng ổn định, phù hợp. Chế độ dinh dưỡng còn ảnh hưởng đến
các yếu tố nguy cơ tim mạch như THA, RLLP máu và béo phì.
Mục đích của điều trị chế độ dinh dưỡng là:
- Nhằm cải thiện và cung cấp những chế độ ăn lành mạnh, nhấn mạnh
nhiều loại thực phẩm dinh dưỡng khác nhau với số lượng thích hợp nhằm cải
thiện sức khỏe toàn bộ và đặc biệt để:
+ Đạt được những đích đến về ĐH, HA, mỡ máu theo khuyến cáo
ADA gồm:


• Đặc biệt 10-35%

Carbonhydrat
Lipid
Chất xơ

• Biến chứng thận: 0,8g/kg/ngày
45 - 65% nhưng không dưới 130g/ngày
25 – 35%
≥ 5 g chất xơ/khẩu phần ăn

Hoạt động thể lực
Hoạt động thể lực và luyện tập đóng vai trò quan trọng trong điều trị
ĐTĐ týp 2. Hoạt động thể lực làm tăng độ nhạy cảm của insulin, nhằm cải
thiện kiểm soát mức glucose và có thể giảm cân BN tập tăng dần cho đến khi
đạt thời gian ít nhất 30 phút/ ngày và 5 ngày/ tuần. Điều trị chế độ ăn và luyện
tập là hai biện pháp điều trị phối hợp cơ bản xuyên suốt liệu trình điều trị với
các biện pháp điều trị bằng thuốc.
Khi điều trị bằng chế độ ăn và luyện tập thể lực không đạt mục tiêu kiểm
soát glucose máu. Tiếp theo là bằng thuốc uống hạ glucose máu đơn trị liệu
hoặc điều trị phối hợp đa trị liệu hoặc điều trị bằng insulin đơn thuần để đạt
mục tiêu kiểm soát glucose máu.


20

Điều trị tăng glucose máu bằng thuốc:
Theo khuyến cáo của WHO 2002 ,IDF 2005 nên điều trị bằng thuốc khi
chế độ ăn luyện tập và công tác giáo dục không giúp người bệnh đạt được

- Tác dụng phụ: Hạ ĐH ít hơn sulfonylurea.
Thuốc làm giảm đề kháng Insulin.
*Nhóm Biguanid: Thuốc duy nhất được sử dụng là Metformin
(Glucophage viên 0,5; 0,85 và 1g).
Tác dụng làm giảm sản xuất glucose ở gan (với sự có mặt của insulin),
ức chế glucose ở đường tiêu hóa, tăng bắt giữ glucose ở cơ vân.
- Làm giảm HbA1c 1-1,5%.
- Chỉ định: ĐTĐ týp 2, ưu tiên BN béo, có rối loạn mỡ máu.
- Chống chỉ định: Bệnh gan, suy thận, suy tim, ĐTĐ týp 1, nhiễm toan
ceton, thiếu oxy tổ chức ngoại biên, có thai, trước và sau phẫu thuật.
Tác dụng phụ: Rối loạn tiêu hóa, nhiễm toan lactic.
Uống thuốc sau bữa ăn.
. Tác dụng lên sự kháng Insulin → Giảm biến chứng tim mạch → được
khuyến cáo là thuốc đầu tay cho BN ĐTĐ týp 2.
* Thiazolidinediones:
- Tác dụng chủ yếu làm tăng bắt giữ và sử dụng glucose ở cơ và mô mỡ.
- Làm giảm HbA1c 0,5- 0,8%.
- Chỉ định: ĐTĐ týp 2, ưu tiên BN có rối loạn mỡ máu.
- Chống chỉ định: Bệnh gan, suy tim.
- Tác dụng phụ: Phù, tăng
cân. Hiện ít sử dụng vì:
Pioglitazon (4,8 mg) làm tăng nguy cơ tim mạch và gãy xương.
Pioglitazon (15 mg) làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang.


22

 Thuốc ức chế men α glucosidase
- Cơ chế: Ức chế Alpha – glucosidase → làm giảm hấp thu glucosidase
→ Hạn chế tăng ĐH sau ăn.

lần/ngày, trứớc bữa ăn 60 phút. Thuốc có thể gây ra nôn, buồn nôn.
. Victoza (Liraglunide): tiêm 1 ngày 1 lần.
. Albiglutide
+ Tác dụng phụ: buồn nôn (thường tự hết), hạ đường máu có thể xảy ra
khi dùng cùng thuốc kích thích tiết insulin.
* Đồng phân Amylin:
+ Cơ chế tác dụng: Giảm ĐH sau ăn do ức chế glucagon, làm chậm trống
dạ dày, tăng cảm giác no, tăng cường GLP.
+ Chỉ định: ĐTĐ type 1 và type 2.
+ Liều lượng và cách dùng: Pramlintid (Symlin dạng bút tiêm), tiêm
dưới da 30µg – 120 µg vào ngay trước các bữa ăn chính.
+ Tác dụng phụ: nôn, buồn nôn, chán ăn, đau đầu.
Hiện nay, có một số thuốc mới khác như Colesevalam (Bile acid
sequestrants), Bromoncriptin (Dopamine -2 agoinists)…có tác dụng giảm
HbA1c ít, không gây hạ ĐH nhưng có chi phí cao.
 Insulin:
- Chỉ định:
+ ĐTĐ týp 1.
+ ĐTĐ týp 2:
. Thất bại với thuốc uống hạ ĐH.
. Mất bù, mắc các bệnh cấp tính: Chấn thương, nhiễm khuẩn, nhồi máu
cơ tim.
. Cần kiểm soát ĐH tích cực.
. Có chống chỉ định thuốc uống: Có bệnh gan, bệnh thận.


24

. Khi ĐH quá cao: HbA1c > 9%, nhiễm toan ceton, tăng áp lực thẩm
thấu.


Insulartard, NPH

1h- 2h

6- 12h

12-18h

Hỗn hợp

Mixtard

30 ph

2 đỉnh

12-18h

Glargine, Detemir

2-4h

Không có

20-26h.

Rất nhanh
Nhanh


* Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ týp 2
Chẩn đoán ĐTĐ typ 2 theo tiêu chuẩn của WHO 1999 có vận dụng phù
hợp với điều kiện Việt Nam [13], [32].
- Bệnh tiến triển từ từ.
- Thường có cơ địa béo phì hiện tại hoặc trước đó.
- Không có chiều hướng nhiễm toan ceton.
- Định lượng insulin máu hoặc C-peptid bình thường.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status