VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG THỊ MAI HƢƠNG
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NỮ BỆNH NHÂN
UNG THƢ TỪ THỰC TIỄN BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG THỊ MAI HƢƠNG
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NỮ BỆNH NHÂN
UNG THƢ TỪ THỰC TIỄN BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƢƠNG
Ngành: Công tác Xã hội
Mã số: 8.76.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HÀ THỊ THƢ
Hà Nội, 2019
báu trong suốt thời gian qua.
Trân trọng!
Hà Nội, ngày 30 tháng 01 năm 2019
Người thực hiện:
Đặng Thị Mai Hƣơng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ
HỘI CHO NỮ BỆNH NHÂN UNG THƢ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN
TRUNG ƢƠNG ................................................................................................. 18
1.1.Nữ bệnh nhân ung thư: Khái niệm và đặc điểm............................................ 18
1.2.Dịch vụ công tác xã hội với nữ bệnh nhân ung thư: Khái niệm và một số
dịch vụ ................................................................................................................. 20
1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội với nữ bệnh nhân
ung thư ................................................................................................................. 23
1.4.Cơ sở pháp lý về dịch vụ công tác xã hội cho nữ bệnh nhân ung thư ................ 24
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NỮ
BỆNH NHÂN UNG THƢ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƢƠNG .. 30
2.1.Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu ............................................. 30
2.2.Thực trạng dịch vụ công tác xã hội cho nữbệnh nhân ung thư tại bệnh
viện Phụ sản Trung ương .................................................................................. 41
2.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã
hội cho nữ bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Phụ sản Trung ương ............................ 51
Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG CHẤT
LƢỢNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NỮ BỆNH NHÂN UNG
THƢ TỪ THỰC TIỄN BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƢƠNG .............. 64
3.1. Định hướng tăng cường chất lượng dịch vụ công tác xã hội với nữ bệnh
DANH MỤC TỪ VIẾT TĂT
TỪ VIẾT TẮT
GIẢI NGHĨA
BN
Bệnh nhân
CTXH
Công tác xã hội
ĐDT
Điều dưỡng trưởng
KCB
Khám chữa bệnh
LĐKĐT
Lãnh đạo Khoa điều trị
LĐPCTXH
Lãnh đạo Phòng công tác xã hội
không chỉ có vai trò hỗ trợ cho bệnh nhân mà còn hỗ trợ tích cực cho thầy thuốc
giảm bớt áp lực công việc cũng như nâng cao hiệu quả điều trị.
Vai trò của công tác xã hội trong bệnh viện được đối với bệnh nhân ung
thư đặc biệt hơn, nhân viên công tác xã hội được coi như là một bác sĩ xã hội, hỗ
trợ bệnh nhân tiếp cận các dịch vụ tuyên truyền, nâng cao nhận thức; hỗ trợ tâm
lý; tư vấn; kết nối, vận động nguồn lực… và đặc biệt là chăm sóc bệnh nhân ở
khía cạnh mối quan hệ xã hội. Các nhân viên công tác xã hội trong bệnh viện đã
đóng góp vai trò nhất định trong việc giảm bớt gánh nặng, áp lực công việc cho
1
đội ngũ nhân viên y tế; cũng như hỗ trợ, tư vấn cho bệnh nhân và người nhà
bệnh nhân tuân thủ theo phác đồ điều trị của bác sĩ, giảm bớt hoang mang, lo
lắng, tạo niềm tin cho bệnh nhân và gia đình họ.
Tại Việt Nam, hiện đã có hệ thống khung pháp lý cơ bản để tiến hành tổ
chức các hoạt động công tác xã hội trong các bệnh viện. Quyết định số
32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án
phát Nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010-2020; Quyết định số 2514/QĐ-BYT
ngày 15/7/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt Đề án “Phát triển Nghề công
tác xã hội trong ngành Y tế giai đoạn 2011-2020”; Thông tư số 43/2015/TT-BYT
ban hành ngày 26/11/2015 của Bộ y tế quy định về nhiệm vụ và hình thức tổ chức
thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện là các căn cứ quan trọng để thành
lập phòng công tác xã hội, phát triển cung cấp dịch vụ công tác xã hội trong bệnh
viện, góp phần đổi mới phong cách, thái độ phục vụ hướng tới sự hài lòng của
người bệnh, đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân. Đến
nay, trên cả nước có trên 80% bệnh viện tuyến Trung ương và nhiều bệnh viện
tuyến tỉnh đã thành lập phòng công tác xã hội hoặc có bộ phận làm chức năng
công tác xã hội. Nhiều phòng công tác xã hội đã triển khai hoạt động tích cực và
hiệu quả như: Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện
Hữu nghị Việt Đức, Bệnh viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội,
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài
*Đề tài về nghiên cứu thực trạng nhu cầu cung cấp dịch vụ CTXH cho nữ
bệnh nhân ung thư trong bệnh viện trên thế giới:
Các tác giả Whitaker, Weismiller và Clark, Wilson (2006) nhận định rằng,
công tác xã hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ giữ vai trò rất quan trọng giúp
bệnh nhân vượt qua hoàn cảnh nhằm dễ dàng hòa nhập xã hội và phát triển.
Trong đó, những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân gồm có: hoàn
cảnh sống (mức sống, vệ sinh, môi trường,…); đặc điểm cá nhân (học vấn,…),
sự gia tăng dân số; sự phát triển của khoa học – công nghệ, kỹ thuật,… Cùng với
những yếu tố ảnh hưởng, những giải pháp nhằm nâng cao sức khỏe của bệnh
nhân bao gồm: Nâng cao hiểu biết của bệnh nhân về chăm sóc sức khoẻ; khuyến
khích cộng đồng tham gia vào các hoạt động phòng ngừa- chăm sóc sức khoẻ;
phổ cập kiến thức về chăm sóc sức khoẻ tới toàn dân. Trong việc xây dựng mối
3
quan hệ giữa bệnh nhân nội trú với gia đình, cộng đồng với cơ sở y tế, công tác
xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu mâu thuẫn trong mối quan
hệ giữa các bên nêu trên. Đặc biệt, công tác xã hội làm hài hoà giữa thể chất và
tinh thần người bệnh. Tại Boston - Mỹ, năm 1905, công tác xã hội lần đầu tiên
được đưa vào bệnh viện. Cho tới hiện nay, phần lớn phòng công tác xã hội đều
đã có mặt tại các bệnh viện. Việc có phòng CTXH được coi là một trong các
điều kiện để một bệnh viện được công nhận là thành viên của Hội các bệnh viện
Mỹ[31].
Nhiều nghiên cứu đã được triển khai trên thế giới nhằm đánh giá nhu cầu
cần được cung cấp các dịch vụ công tác xã hội ở bệnh nhân ung thư. Zabora, J.,
và cộng sự (2001), chỉ ra rằng bệnh nhân ung thư phần lớn mắc chứng rối loạn
lo âu 1-49%[30]. Herschbach, P. và cộng sự (2004), nhận định bệnh nhân ung
thư phần lớn mắc rối loạn trầm cảm của từ 0-46%[21]. Chandwani, Kavita D và
các dịch vụ liên quan đến chăm sóc nội trú dài hạn là 1,6% có mong muốn liên
quan đến trợ cấp xã hội (ví dụ như tiền trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề)[22].
*Đề tài nghiên cứu về thực trạng dịch vụ CTXH cho nữ bệnh nhân ung
thư trong bệnh viện trên thế giới:
Nghiên cứu về dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư nói chung
và nữ bệnh nhân ung thư trong bệnh viện trên thế giới hiện nay còn khá mới.
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng, nhân viên công tác xã hội chuyên ngành ung
bướu là cần thiết, bởi đây sẽ là nhóm người đảm bảo quyền chăm sóc toàn diện
của bệnh nhân ung thư trong các bệnh viện hoặc cơ sở điều trị chuyên biệt.
Trong đó, Hiệp hội nhân viên CTXH trong lĩnh vực ung bướu (2001) nhận định
nhân viên CTXH chuyên ngành ung bướu được hiểu là người được đào tạo
chuyên nghiệp, được khuyến khích làm việc trong lĩnh vực thúc đẩy việc sử
dụng tối đa các dịch vụ trong hệ thống chăm sóc sức khoẻ của người bệnh. Đây
là nhóm người giúp xây dựng các chiến lược ứng phó tối ưu tại bệnh viện và huy
động tốt nhất các nguồn lực hỗ trợ từ cộng đồng[19].
Mukherjee, S. (2010), nhận định, sau thế chiến thứ II (1945), ung thư đã
trở thành một vấn nạn y tế hàng đầu ở nhiều nước phát triển trên thế giới. Các
tiến bộ trong phòng chống, phát hiện sớm và điều trị ung thư được phát minh
nhằm giúp tăng cường hy vọng cho bệnh nhân trong quá trình điều trị và kiểm
soát một trong tứ chứng nan y. Chỉ trong vòng hơn 75 năm, các tiến bộ này đã
5
có thể tăng cường tỷ lệ sống sót và chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân nhưng
cũng đồng thời nảy sinh ra những thách thức mới trong điều trị[26].
Messner, C. (2015) cho biết, đến tận những năm 1970, CTXH chuyên
ngành ung bướu mới nổi lên như là một chuyên ngành trong CTXH. Cùng với
đó, trong hơn 40 năm phát triển, nhân viên CTXH chuyên ngành ung bướu đã
dần nhận được nhiều sự quan tâm tại các bệnh viện ở cả các nước phát triển và
đang phát triển[25]. Trong đó, vai trò quan trọng của nhân viên CTXH chuyên
Bên cạnh đó, việc cung cấp các dịch vụ đặc thù như dịch vụ CTXH thường chỉ
được thực hiện bởi nhân viên công tác xã hội được đào tạo chung để làm việc
trong các hệ thống y tế công cộng thay vì những nhân viên công tác xã hội được
đào tạo chuyên ngành ung thư[33]. Việc thiếu hụt nhân viên CTXH là một vấn
đề đe dọa mang tính toàn cầu trong việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của các
dịch vụ CTXH trong việc khám, điều trị và chăm sóc bệnh nhân ung thư ở các
nước có thu nhập thấp và trung bình. Đây được coi là một trong những rào cản
trong việc chăm sóc bệnh nhân ung thư hiện nay.
Nhìn chung, trong vòng 10 năm trở lại đây, các nghiên cứu về dịch vụ
công tác xã hội với bệnh nhân ung thư trên thế giới còn rất hạn chế và chưa có
nghiên cứu nào về dịch vụ công tác xã hội với bệnh nhân nữ ung thư.
2.2. Một số nghiên cứu ở Việt Nam
*Đề tài nghiên cứu về thực trạng nhu cầu cung cấp dịch vụ CTXH cho nữ
bệnh nhân ung thư trong bệnh viện tại Việt Nam
Tại Việt Nam, tổ chức mạng lưới các trung tâm (thuộc IARC) ghi nhận
ung thư tại 9 tỉnh, thành phố là Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Thanh Hóa,
Huế, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ và Kiên Giang, trong đó, trung
tâm ghi nhận ung thư Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được Cơ quan nghiên
cứu Ung thư Quốc tế (IARC) công nhận chất lượng. Kết quả ghi nhận ung thư
đã giúp đưa ra số liệu các ca ung thư mắc mới (tối thiểu 126 000 ca mắc mới
năm 2010, dự báo 189 300 ca mắc mới vào năm 2020) (theo Nguyễn Bá Đức,
Bùi Diệu, Trần Văn Thuấn và cộng sự)[5]. Ngoài ra, trong giai đoạn từ 20082013, cả nước sàng lọc được khoảng trên 120.000 phụ nữ tuổi từ 40-54 để phát
hiện sớm hai loại ung thư phổ biến là ung thư vú và ung thư cổ tử cung[14].
Công tác chăm sóc, giảm nhẹ cho bệnh nhân chưa được quan tâm thỏa
đáng và còn nhiều hạn chế. Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ là rất lớn do có tới trên
7
70% bệnh nhân đến khám, điều trị tại các cơ sở y tế ở giai đoạn muộn và phần
lớn trong đó phải chịu đựng đau đớn và khó chịu do bệnh và do điều trị. Điều
của nhân viên CTXH mà còn có sự tham gia của nhân viên y tế và công tác viên/
tình nguyện viên. Trong đó, nhiệm vụ chính của nhân viên CTXH là thực hiện
phân loại người bệnh, hỗ trợ, tư vấn, hướng dẫn bệnh nhân tiếp cận với các dịch
vụ chung cũng như các dịch vụ CTXH nói riêng của bệnh viện... Tại bệnh viện,
một số mô hình CTXH được hình thành và triển khai, như: phòng CTXH, phòng
truyền thông và chăm sóc khách hàng, phòng trợ giúp xã hội, tổ hỗ trợ người
bệnh,… Tuy nhiên, các hoạt động CTXH mới chỉ được thực hiện theo quy chế
riêng của bệnh viện mà chưa có một hệ thống pháp lý quy định rõ ràng. Bùi Thị
Xuân Mai (2013), Chính vì vậy, nhằm góp phần giải quyết nhu cầu cấp thiết
trong việc chăm sóc sức khoẻ bệnh nhân và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, đề
án “Phát triển nghề CTXH trong ngành Y tế giai đoạn 2011-2020” đã được Bộ
Y tế ký quyết định ban hành số 2514/QĐ-BYT vào ngày 15/7/2011. Bùi Thị
Xuân Mai (2013), nhận định đây là một trong những Đề án có ý nghĩa trong việc
hình thành và phát triển nghề CTXH trong ngành Y tế, điều này góp phần tăng
cường chất lượng, hiệu quả chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Đây được
xem như là thời điểm CTXH bắt đầu được đưa vào bệnh viện tại nước ta[7].
Dương Thị Phương (2015), mặc dù đề án “Phát triển nghề CTXH trong
ngành Y tế giai đoạn 2011-2020” được ban hành, tuy nhiên, trên thực tế, hầu hết
bệnh viện chưa triển khai được đề án. Chỉ sau khi Bộ Y tế ban hành Thông tư
43/2015/TT-BYT ngày 26/11/2015 quy định nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực
hiện CTXH trong bệnh viện thì các bệnh viện mới thực sự triển khai hoạt động
này[13]. Thông tư đã chỉ ra được 7 nhóm nhiệm vụ CTXH của bệnh viện, cơ
cấu tổ chức phòng CTXH và sự phối hợp trong thực hiện CTXH tại bệnh viện.
Thông tư 43/2015/TT-BYT ra đời đã giúp thúc đẩy nhanh chóng việc phát triển
nghề CTXH. Đây là khung pháp lý để các bệnh viện tuyển dụng nhân sự với
những nhiệm vụ được quy định rõ ràng và thành lập tổ chức hoạt động khoa
CTXH.
Nhiều báo cáo đã chỉ rõ sự cần thiết cũng như vai trò của nhân viên công
tác xã hội từ góc nhìn của người đào tạo Công tác xã hội và cán bộ quản lý bệnh
dẫn, tư vấn thông tin chung về khám chữa bệnh tại bệnh viện K (tư vấn chi phí
điều trị; tư vấn chính sách bảo hiểm y tế; hướng dẫn, hỗ trợ thủ tục/quy trình
khám bệnh) chiếm từ 42.5% - 69.2%. Tình trạng bệnh nhân đã được hỗ trợ, cung
cấp dịch vụ truyền thông, nâng cao nhận thức chiếm tỉ lệ từ 35.3% cho tới
10
55.2%. Mặc dù, tâm lý bệnh nhân có ảnh hưởng rất lớn đến tính hiệu quả của
điều trị, tuy nhiên, hiện nay, tình trạng bệnh nhân nhận được hỗ trợ tâm lý xã hội
chiếm một tỷ lệ khá thấp: Thăm hỏi về tình trạng sức khỏe và hoàn cảnh khó
khăn của gia đình (21.1%); Tư vấn – tham vấn tâm lý (13.2%); Trị liệu tâm lý,
tư vấn cách chăm sóc hình ảnh bản thân, tư vấn giao tiếp xã hội, cung cấp thông
tin mạng lưới hỗ trợ bệnh nhân ung thư (dưới 10%). Cuối cùng, tình trạng bệnh
nhân đã được kết nối các nguồn lực và hỗ trợ từ thiện của bệnh nhân ung thư
khá cao (74.4%).
Có thể thấy, trong 10 năm trở lại đây, CTXH trong lĩnh vực ung bướu rất
được quan tâm, các nghiên cứu tại Việt Nam có sự tương đồng với các nghiên
cứu trên thế giới khi phần lớn, kết quả nghiên cứu cho thấy, bệnh nhân ung thư
rất cần được tiếp cận các dịch vụ CTXH (đặc biệt là hỗ trợ tâm lý). Tuy nhiên,
hiện nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể về dịch vụ CTXH với bệnh nhân
nữ ung thư tại Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng dịch vụ CTXH cho nữ bệnh nhân ung
thư đang điều trị tại bệnh viện Phụ sản Trung ương; phân tích các yếu tố ảnh
hưởng; từ đó đề xuất một số định hướng và giải pháp tăng cường hiệu quả cung
cấp dịch vụ CTXH cho nữ bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Phụ sản Trung ương.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng hợp, phân tích những vấn đề lý luận về công tác xã hội cho bệnh nhân nữ
ung thư. Phân tích, đánh giá thực trạng dịch vụ CTXH cho nữ bệnh nhân ung thư
cho nữ bệnh nhân ung thư, các hoạt động cung cấp dịch vụ CTXH cho nữ bệnh
nhân ung thư, các chính sách đối với bệnh nhân nói chung và nữ bệnh nhân ung
thư nói riêng đang điều trị tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
Nghiên cứu thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH cho nữ bệnh nhân ung thư
trên cơ sở duy vật biện chứng: Từ các đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH
cho nữ bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Phụ sản Trung ương, phân tích các yếu tố
ảnh hưởng để đưa ra những kết luận và đề xuất nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ
CTXH cho nữ bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Phụ sản Trung ương.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
*Phương pháp nghiên cứu tài liệu
12
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp được thực hiện trong các giai
đoạn như phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá và khái quát hoá cơ sở lý luận và
thực tiễn về các vấn đề liên quan đến nội dung của nhiệm vụ nghiên cứu:
Bệnh nhân nữ ung thư, đặc điểm tâm lý và nhu cầu cung cấp dịch vụ công
tác xã hội.
Khái niệm, cơ sở pháp lý, chính sách và nội dung cung cấp dịch vụ công
tác xã hội cho bệnh nhân nữ ung thư trên thế giới, tại Việt Nam và tại bệnh viện
Phụ sản Trung ương.
Loại tài liệu bao gồm: Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học, bài báo nghiên
cứu, báo cáo thống kê, báo cáo chuyên ngành, bài viết tổng quan, sách, báo cáo
hội thảo khoa học, giáo trình…. Nguồn tài liệu: Chỉ sử dụng các tài liệu có
nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy, bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên
ngành, nghiên cứu của các cá nhân/tổ chức đã công bố hoặc chưa xuất bản; về
ngôn ngữ: Tiếng Việt và tiếng Anh…
*Phương pháp phỏng vấn sâu
Sử dụng với mục đích thu thập các thông tin định tính về quan điểm của
bệnh nhân, người nhà bệnh nhân; quan điểm của lãnh đạo, nhân viên y tế, nhân
trị, xạ trị và chăm sóc giảm nhẹ; mỗi phương pháp điều trị số lượng bệnh nhân
tương đương nhau.
Tiêu chuẩn chọn mẫu:
- Nữ bệnh nhân ung thư: Là người được chuẩn đoán mắc bệnh lý ung thư,
đang điều trị tại bệnh viện; trên 18 tuổi; đồng ý trả lời phỏng vấn; biết đọc, biết
viết; có đủ sức khỏe tham gia phỏng vấn; đồng ý tham gia trả lời phỏng vấn;
Không bị khuyết tật như điếc, mù, câm… hoặc các bệnh rối loạn tâm thần kinh
như động kinh, trầm cảm…; có trách nhiệm pháp lý.
- Chọn mẫu cho khảo sát định tính:16 cuộc phỏng vấn sâu với 16 người, bao
gồm:
+ Với bệnh nhân và người nhà người bệnh: 10 người bao gồm: 05 nữ bệnh
nhân ung thư; 05 người nhà nữ bệnh nhân ung thư.
+ Với Lãnh đạo Phòng CTXH và nhân viên điều dưỡng, nhân viên công tác
xã hội: 06 người bao gồm: 01 trưởng phòng Công tác xã hội, 03 nhân viên công tác
xã hội, 01 trưởng khoa, 01 điều dưỡng trưởng.
14
Công cụ thu thập: Bộ công cụ khảo sát định lượng và Bảng hướng dẫn PVS
đã được thử nghiệm tại bệnh viện và chỉnh sửa. Bộ công cụ này đã được sử dụng
trong nghiên cứu của tác giả Phạm Tiến Nam và cộng sự (2017) tại Bệnh viện K
(sử dụng có chỉnh sửa). Các thông tin sau được tác giả Phạm Tiến Nam và cộng sự
thu thập, tuy nhiên, để phù hợp với đề tài nghiên cứu, tác giả đã loại bỏ:
- Người trả lời;
- Giới tính;
- Trình độ học vấn: Đại học/sau đại học.
Tổng thu nhập của hộ gia đình/tháng;
- Người chăm sóc chính cho bệnh nhân;
- Ông/bà đang điều trị bệnh gì?
- Ông/bà đang điều trị tại khoa nào?
Đề tài vận dụng các lý thuyết nghiên cứu trong lĩnh vực công tác xã hội
và xã hội học liên quan như: lý thuyết nhu cầu, lý thuyết nhận thức hành vi, lý
thuyết hệ thống làm cơ sở lý luận khi nghiên cứu vấn đề này.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đối với nữ bệnh nhân ung thư và thân nhân người bệnh: Đề tài mô tả rõ
nhu cầu bệnh nhân và thông qua việc khuyến nghị với bệnh viện, đề tài góp
phần tác động nâng cao chất lượng cung cấp dịch CTXH cho nữ bệnh nhân ung
thư tại bệnh viện phụ sản Trung ương, nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa
bệnh tại bệnh viện, mang lại những lợi ích thiết thực của bệnh nhân và người
thân về giải tỏa các áp lực hoặc suy sụp, khủng hoảng tâm lý, giúp đáp ứng tốt
hơn với phác đồ điều trị.
Đối với các cán bộ, nhân viên y tế: cung cấp cái nhìn khái quát về đặc
điểm nhân khẩu, đặc điểm tâm lý, nhu cầu của bệnh nhân ung thư để cung cấp
dịch vụ CTXH phù hợp với nhu cầu của các nhóm đối tượng; khai thác nguồn
lực, mạng lưới CTXH để có kết nối chặt chẽ hơn giữa các hoạt động khám, chữa
bệnh giữa y bác sĩ, nhân viên công tác xã hội với người bệnh, tăng cường hiệu
quả cung cấp dịch vụ CTXH cho người bệnh, hướng đến môi trường chuyên
nghiệp, gần gũi, thân thiện, hiệu quả tích cực trong quá trình khám, điều trị cho
người bệnh.
Đối với cán bộ quản lý bệnh viện: Đề tài cung cấp các số liệu thực tiễn về
nhu cầu và thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH, các khuyến nghị của các bên liên
16
quan, là cơ sở để tham mưu, tư vấn và xây dựng các chính sách, chương trình
phù hợp, hiệu quả, nâng cao chất lượng chỉ đạo và triển khai cung cấp dịch vụ
CTXH cho nữ bệnh nhân ung thư tại bệnh viện.
Đối với cộng đồng, các nhà tài trợ, hảo tâm: Đề tài cung cấp thực trạng
nhân khẩu học, đặc điểm tâm – sinh lý, khả năng chi trả y tế, nhu cầu của người
bệnh, giúp cộng đồng có cái nhìn khách quan về bệnh nhân và nhu cầu người bệnh,
*Khái niệm bệnh nhân ung thư
Theo điều 2 của Luật khám, chữa bệnh (2009), bệnh nhân là người sử
dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Bệnh nhân khi đến khám bệnh sẽ được bác
sĩ hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định
làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định
phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận[16]
Phạm Tiến Nam (2017), bệnh nhân ung thư là người sử dụng dịch vụ
khám, chữa bệnh được chẩn đoán bệnh lý ung thư, giảm sút sức khỏe thể chất,
sức khỏe tinh thần (tâm lý) và sức khỏe xã hội (các mối quan hệ xã hội). Họ
thuộc nhóm đối tượng yếu thế, phải phụ thuộc vào bệnh viện và các nhân viên y
tế, cần được tiếp cận các dịch vụ công tác xã hội.
*Khái niệm nữ bệnh nhân ung thư
Từ các định nghĩa trên, tác giả nhận định, nữ bệnh nhân ung thư được
hiểu là những người bệnh nữ đã được chẩn đoán có bệnh lý ung thư và sử dụng
dịch vụ khám/ chữa bệnh tại một cơ sở y tế có chức năng khám và điều trị các
18