VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THANH TÂM
CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THANH TÂM
CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
: 8 38 01 04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN NGỌC HÀ
bàn tỉnh Quảng Ngãi .................................................................................................55
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 66
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANTT
:
An ninh trật tự
BPNC
:
Biện pháp ngăn chặn
CSĐT
:
Cảnh sát điều tra
ĐTV
:
Điều tra viên
VAHS
:
Vụ án hình sự
VKS
:
Viện kiểm sát
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển miền Trung, bao gồm 14 đơn vị hành
chính (01 thành phố, 06 huyện miền núi, 06 huyện đồng bằng ven biển và 01
huyện đảo); trong những năm gần đây, cùng với cả nước, tỉnh Quảng Ngãi đã
không ngừng phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội và đang dần trở thành
khu vực kinh tế trọng điểm của miền Trung.
Bên cạnh sự vươn lên của kinh tế, tình hình an ninh trật tự (ANTT) trên địa
bàn diễn biến ngày càng phức tạp, trung bình mỗi năm xảy ra khoảng 712 vụ
phạm pháp hình sự các loại với tính chất, mức độ, hành vi nguy hiểm cho xã hội
Thực tiễn đang đặt ra những yêu cầu mới cho công tác phòng ngừa và đấu
tranh chống tội phạm nói chung và việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với
người phạm tội nói riêng trong việc giải quyết các vụ án hình sự. Vì vậy, việc
nghiên cứu vấn đề áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt
Nam một cách đầy đủ, hệ thống về mặt lý luận, đánh giá một cách toàn diện,
chính xác, khách quan việc áp dụng trong thực tiễn thời gian qua, từ đó đề xuất
các giải pháp phù hợp, trước hết là giúp cơ quan và người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng tỉnh Quảng Ngãi nắm vững và vận dụng tốt vào thực tiễn hoạt động
công tác là vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn áp dụng.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Các biện pháp
ngăn chặn theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng
Ngãi” làm luận văn thạc sỹ luật học, chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình
sự.
2. Tình hình nghiên cứu
Các BPNC trong luật TTHS đã được nhiều học giả và các nhà khoa học
nghiên cứu, tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau. Trong những năm gần đây, có
thể kể đến một số công trình như sau: Giáo sư, tiến sĩ Võ Khánh Vinh có sách
“Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học” ; tiến sĩ Võ Thị
Kim Oanh đã chủ biên Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, năm 2018; Viện
2
kiểm sát nhân dân tối cao có chuyên đề “Một số kinh nghiệm và biện pháp nâng
cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành
án hình sự 2014”; tác giả Nguyễn Quốc Doanh có Luận văn thạc sĩ “Kiểm sát
tạm giữ, tạm giam từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh
Bình Định” năm 2015; tác giả Khổng Minh Quân có Luận văn thạc sĩ “Các biện
pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Vĩnh Phúc”
năm 2018; tác giả Võ Bình Vương có Luận văn thạc sĩ “Kiểm sát việc áp dụng
biện pháp ngăn chặn liên quan đến đối tượng, điều kiện, thẩm quyền, trình tự,
thủ tục áp dụng.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn
theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn điều tra, truy tố của
Cơ quan CSĐT và VKS trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi;
- Rút ra những kết quả đạt được cũng như những khó khăn, vướng mắc về
mặt lý luận; hạn chế, thiếu sót trong thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn
và nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót đó;
- Kiến nghị, đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng
biện pháp ngăn chặn trong thời gian tới trên phạm vi cả nước nói chung, địa bàn
tỉnh Quảng Ngãi nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý
luận, quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn do Cơ
quan CSĐT, VKS cấp huyện và cấp tỉnh ở tỉnh Quảng Ngãi thực hiện.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: tập trung nghiên cứu lý luận, pháp luật và thực tiễn áp dụng
biện pháp ngăn chặn do Cơ quan CSĐT, VKS cấp tỉnh và cấp huyện ở tỉnh
Quảng Ngãi thực hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố theo quy định của pháp
luật tố tụng hình sự.
+ Về thời gian: từ năm 2013 đến năm 2018.
+ Về chủ thể, địa bàn: Cơ quan CSĐT, VKS cấp tỉnh và cấp huyện ở tỉnh
Quảng Ngãi thực hiện.
4
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên các quan điểm, đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác phòng ngừa tội phạm và áp dụng
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu thành 3 chương, cùng với phần mở đầu và phần kết
luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về biện pháp ngăn chặn trong
Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra,
truy tố trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3: Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp ngăn
chặn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
1.1. Những vấn đề lý luận về biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình
sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tại Mục I, Chương VII Bộ luật TTHS năm 2015 quy định rõ các BPNC,
gồm: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt
tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.
Khoản 1, Điều 109 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định căn cứ áp dụng các
BPNC như sau: “Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ
người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp
tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ
người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để
bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh” [7,tr.99].
Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế TTHS rất nghiêm khắc, đòi
hỏi có sự phân định rõ ràng về chủ thể áp dụng, thẩm quyền áp dụng, về đối
thiết, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho cuộc đấu tranh, phòng chống tội
phạm. Vì vậy, vai trò, ý nghĩa của việc áp dụng BPNC trong TTHS là rất đặc
biệt, bao hàm những lý do sau:
Thứ nhất, nhằm loại bỏ những trở ngại trong quá trình thực hiện các
nhiệm vụ của TTHS như không cho tội phạm cản trở hoạt động điều tra, truy tố,
xét xử; đảm bảo việc thi hành án đối với người phạm tội, buộc họ phải chịu hình
phạt của pháp luật. Sẽ trở nên vô nghĩa nếu trải qua quá trình điều tra, truy tố,
xét xử mà vẫn bỏ lọt người phạm tội, không xử lý được hành vi phạm tội của họ
theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Điều 18 Bộ luật TTHS hiện hành đã
đưa ra yêu cầu là: “Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có
trách nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để
8
xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội”.
Thứ hai, việc áp dụng BPNC tước bỏ những khả năng, điều kiện thuận lợi,
không cho phép người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm, gây nên những hậu
quả nguy hại cho xã hội nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,
quyền lợi của nhà nước, xã hội. Thực tiễn đã chứng minh nếu không áp dụng
BPNC đối với những người đủ căn cứ và buộc phải áp dụng thì họ sẽ tiếp tục
thực hiện hành vi phạm tội gây nguy hại cho xã hội.
Thứ ba, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn góp phần tăng cường tính
pháp quyền và củng cố trật tự, quyền uy pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện
nay. Muốn xây dựng Nhà nước pháp quyền, đòi hỏi mọi công dân phải nắm
vững và tuyệt đối tuân thủ pháp luật. Chính vì vậy, một trong những yêu cầu đặt
ra muốn xây dựng nhà nước pháp quyền thì cần quan tâm đến công tác tuyên
truyền, giáo dục pháp luật sâu rộng đến công dân để họ biết, nghiêm chỉnh chấp
hành pháp luật và tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa. Để
Căn cứ, được hiểu là những tài liệu có thật, những tài liệu đó phải tồn tại
khách quan; thu thập đúng nguồn, căn cứ là chứng cứ của vụ án, có đủ ba thuộc
tính: khách quan; liên quan; hợp pháp.
Bộ luật TTHS hiện hành đã cụ thể hơn căn cứ cản trở điều tra, truy tố, xét
xử đối với người bị buộc tội bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội phạm
nghiêm trọng, tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù
trên 2 năm bằng các căn cứ cụ thể, theo đó, việc tạm giam chỉ có thể được áp
dụng khi thuộc một trong năm trường hợp được quy định tại Khoản 2 Điều 119.
- Thứ ba, khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội
Để xác định người bị buộc tội sẽ hay không tiếp tục phạm tội, các cơ quan
có thẩm quyền phải dựa vào nhân thân và hành vi của người bị buộc tội.
+ Về nhân thân, người bị buộc tội có nhân thân xấu như: Lưu manh
chuyên nghiệp; côn đồ hung hãn; nhiều tiền án, tiền sự…. nguy cơ tái phạm sẽ
cao hơn người có nhân thân tốt.
+ Về hành vi, người bị buộc tội có hành động như: Đe doạ, trả thù, mua
chuộc, khống chế người làm chứng, người bị hại…hoặc chuẩn bị thực hiện tội
10
phạm mới.
- Thứ tư, để bảo đảm thi hành án
Tuỳ theo tính chất, mức độ của tội phạm, tuỳ theo đặc điểm nhân thân của
bị cáo mà Toà án sẽ áp dụng BPNC cần thiết để bảo đảm thi hành án.
Toà án thường áp dụng căn cứ này trong những trường hợp sau:
+ Tòa án cấp sơ thẩm có thể quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay sau khi
tuyên án nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội.
+ Tòa án cấp phúc thẩm có thể bắt tạm giam bị cáo ngay sau khi tuyên án
đối với những bị cáo không bị tạm giam nhưng bị xử phạt tù.
1.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp ngăn chặn
Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã có quá trình theo dõi, kiểm
tra, xác minh các tin tức thu được và có đủ căn cứ xác định một người đang
chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng nên cần giữ ngay, để ngăn chặn kịp thời việc người đó gây thiệt hại cho xã
hội.
Giữ người trong trường hợp này phải thỏa mãn hai điều kiện:
1) Phải có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội
phạm. Hành vi chuẩn bị phạm tội nói trên mặc dù chưa trực tiếp xâm hại lợi ích
của Nhà nước và công dân nhưng nó đã đặt các lợi ích ấy vào tình trạng bị đe
dọa rất nghiệm trọng;
2) Tội phạm đang được chuẩn bị thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng
hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
+ Trường hợp thứ hai: Khi người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại
hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng
là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó
trốn. Giữ người trong trường hợp này phải thỏa mãn hai điều kiện:
1) Phải có người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm (có thể là người cùng thực
hiện tội phạm hoặc người bị hại hoặc người chứng kiến khác) chính mắt trông
thấy và trực tiếp xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm;
12
2) Xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn. Điều này yêu cầu Cơ
quan điều tra phải tiến hành Giữ ngay người thực hiện hành vi phạm tội nếu
không họ sẽ trốn, gây khó khăn cho việc điều tra, xử lý tội phạm.
+ Trường hợp thứ ba: Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở
hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và
xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Giữ người trong trường hợp này phải thỏa mãn hai điều kiện:
cho người đó.
Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ giữ người quy định tại khoản
1 Điều 110 Bộ luật TTHS.
1.2.2. Quy định về biện pháp Bắt người
Bắt người là biện pháp hữu hiệu giúp cơ quan có thẩm quyền THTT kịp
thời ngăn chặn tội phạm, góp phần nâng cao hiệu quả công tác khám phá sự thật
vụ án, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
Tuy nhiên, bắt người có liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản
của công dân …Do đó, bắt người luôn phải đảm bảo đúng theo các quy định của
Hiến pháp và pháp luật.
Các trường hợp bắt người được quy định tại Khoản 2 Điều 109 Bộ luật
TTHS hiện hành.
- Bắt bị can, bị cáo để tạm giam
Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là bắt người đã bị khởi tố về hình sự hoặc
người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử để tạm giam nhằm ngăn chặn bị can,
bị cáo tiếp tục phạm tội, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy
tố, xét xử và thi hành án.
+ Đối tượng và điều kiện áp dụng
Đối tượng bị bắt để tạm giam, chỉ có thể là bị can, bị cáo nhưng không
phải mọi bị can, bị cáo đều bị bắt để tạm giam, mà chỉ những bị can, bị cáo có
một trong ba điều kiện sau đây thì mới có thể bị bắt để tạm giam:
1) Bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng;
2) Bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình
14
sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một
trong các trường hợp:
* Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;
hiện hành quy định:
Chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp áp giải đối với người bị buộc
tội là người dưới 18 tuổi trong trường hợp thật cần thiết.
Thời hạn tạm giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi bằng
hai phần ba thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên quy định tại Bộ
luật TTHS hiện hành. Khi không còn căn cứ để tạm giữ, tạm giam thì cơ quan,
người có thẩm quyền phải kịp thời hủy bỏ, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn
khác.
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp khẩn
cấp, bị bắt, tạm giữ, tạm giam về tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ
luật hình sự nếu có căn cứ quy định tại các điều 110, 111 và 112, các điểm a, b,
c, d và đ khoản 2 Điều 119 của Bộ luật TTHS hiện hành.
Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp khẩn
cấp, bị bắt, tạm giữ, tạm giam về tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng,
tội đặc biệt nghiêm trọng nếu có căn cứ quy định tại các điều 110, 111 và 112,
các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 119 của Bộ luật TTHS hiện hành.
Đối với bị can, bị cáo từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử về tội nghiêm trọng do vô ý, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình
sự quy định hình phạt tù đến 02 năm thì có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu họ
tiếp tục phạm tội, bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.
- Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là bắt người khi có căn cứ xác
định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng hoặc sau khi thực hiện tội phạm hay bị nghi thực hiện tội
phạm người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
Khoản 1 Điều 110 Bộ luật TTHS hiện hành quy định có 3 trường hợp bắt
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gồm:
16
17
việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm;
2) Cần ngăn chặn người bị nghi thực hiện tội phạm trốn hoặc tiêu hủy
chứng cứ.
Dấu vết của tội phạm trong trường hợp này cần được hiểu về mặt pháp lý,
không chỉ là dấu vết vật chất được hình thành do kết quả tác động của vật này
này lên vật khác mà còn bao gồm: Vật chứng (Công cụ, phương tiện phạm tội,
vật mang dấu vết của tội phạm…); các dấu vết khác (Vết thương tích, máu, tinh
dịch…).
+ Thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp
Khoản 2 Điều 110 Bộ luật TTHS hiện hành quy định cụ thể những người
có quyền ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.
+ Thủ tục bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
Thủ tục bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được quy định tại
Khoản 4, Khoản 5 và Khoản 6 Điều 110 Bộ luật TTHS hiện hành, nhìn chung về
quy định và áp dụng tương tự như thủ tục bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Tuy
nhiên cần lưu ý: Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp
khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan điều tra,
Cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra và những người có thẩm
quyền theo luật định của những cơ quan này phải thực hiện: lấy lời khai của
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; nếu thấy có căn cứ thì ra quyết định tạm
giữ, lệnh bắt nguời bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và chuyển hồ sơ đề nghị
Viện kiểm sát phê chuẩn bao gồm: văn bản đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn
Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; lệnh giữ người trong trường
hợp khẩn cấp; lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; quyết định tạm
giữ; biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; biên bản ghi lời khai người
bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp và chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến
việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ
trường hợp không có vật chứng, sự có mặt của những người làm chứng cũng cho
phép được bắt người phạm tội theo trường hợp quả tang này.
* Trường hợp thứ ba: Đang bị đuổi bắt.
19
Trong trường hợp phạm tội quả tang này, người phạm tội vừa thực hiện
tội phạm xong hoặc đang thực hiện tội phạm mà bị phát hiện nên đã chạy trốn và
bị đuổi bắt.
+ Bắt người đang bị truy nã
Theo quy định của Bộ luật TTHS hiện hành, khi bị can, bị cáo bỏ trốn thì
Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra ra quyết định truy nã. Trường hợp
người đang chấp hành hình phạt tù trốn khỏi nơi giam thì Giám thị trại giam ra
quyết định truy nã.
+ Thẩm quyền bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã
Điều 111 và Điều 112 Bộ luật TTHS hiện hành quy định bất kỳ người nào
cũng có quyền bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã.
+ Thủ tục bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã
Sau khi bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã, công dân
không được đánh đập, tra tấn người phạm tội và cũng không tự ý giam giữ họ
mà phải giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân
nơi gần nhất. Sau khi nhận người bị bắt, cơ quan điều tra phải lời khai ngay,
trong thời hạn 12 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt.
Điều 114 Bộ luật TTHS hiện hành quy định thủ tục đối với trường hợp bắt
người đang bị truy nã: “Sau khi lấy lời khai người bị bắt theo quyết định truy nã
thì Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thông báo ngay cho Cơ quan đã ra
quyết định truy nã đến nhận người bị bắt, sau đó phải ra ngay quyết định đình nã.
Trường hợp cơ quan đã ra quyết định truy nã không thể đến nhận ngay
người bị bắt thì sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải ra