VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH THỊ THANH HUYỀN
QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC CHO CÁC CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH
CÔNG LẬP CỦA TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐINH THỊ THANH HUYỀN
QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC CHO CÁC CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH
CÔNG LẬP CỦA TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số
: 8 34 04 10
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS.NGUYỄN CHIẾN THẮNG
2.1. Khái quát về các cơ sở khám chữa bệnh công lập của tỉnh Quảng Nam ...........28
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi thường xuyên NSNN cho các cơ sở
khám chữa bệnh công lập của tỉnh Quảng Nam .......................................................30
2.3. Thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN cho các cơ sở khám chữa bệnh
công lập của tỉnh Quảng Nam. ..................................................................................35
2.4. Đánh giá quản lý chi thường xuyên NSNN các cơ sở khám chữa bệnh công lập
của tỉnh Quảng Nam..................................................................................................51
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO CÁC CƠ SỞ KHÁM BỆNH CÔNG LẬP
CỦA TỈNH QUẢNG NAM ....................................................................................57
3.1. Cơ chế, chính sách tác động đến quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước
cho các cơ sở khám chữa bệnh công lập ...................................................................57
3.2. Mục tiêu và định hướng phát triển các cơ sở khám chữa bệnh công lập của tỉnh
Quảng Nam. ..............................................................................................................61
3.3. Giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN cho các cơ sở khám
chữa bệnh công lập của tỉnh Quảng Nam. ................................................................66
KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
6
UBND
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu
bảng
2.1.
Tên bảng
Trang
Tình hình giường bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh công
29
lập của tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2013-2017
2.2.
Tình hình khám chữa bệnh tại các cơ sở khám chữa bệnh
29
công lập của tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2013-2017
2.3.
44
Nam giai đoạn 2013-2017
2.8.
Phân bổ chi NSNN cho các cơ sở khám chữa bệnh tỉnh
45
Quảng Nam giai đoạn 2013-2017
2.9.
Kết quả quyết toán chi hoạt động thường xuyên của các cơ
49
sở khám chữa bệnh của tỉnh Quảng Nam năm 2017
3.1.
Một số chỉ tiêu cơ bản đến năm 2019
63
DANH MỤC HÌNH
Số hiệu
Tên bảng
đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển mạng lưới y tế, trong dự phòng
bệnh tật và trong khám bệnh, chữa bệnh cho Nhân dân. Mạng lưới y tế cơ sở từng
bước được củng cố, tăng cường, phương thức hoạt động có nhiều đổi mới. Năng lực
dự báo, giám sát và phòng chống dịch bệnh của các cơ sở y tế dự phòng đã được cải
thiện rõ rệt, đã khống chế được các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và được thế
giới đánh giá cao. Có bước đột phá trong đầu tư cho hệ thống bệnh viện, hầu hết các
bệnh viện đã và đang được cải tạo, nâng cấp từ ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, trước biến đổi khí hậu toàn cầu, cơ cấu bệnh tật thay đổi, mô hình
bệnh tật có sự thay đổi cơ bản, từ các bệnh truyền nhiễm là chủ yếu sang các bệnh
không lây nhiễm, tai nạn, thương tích, nhu cầu cần được bảo vệ, chăm sóc và nâng
cao sức khỏe ngày càng cao và đa dạng, cũng như trình độ dân trí được nâng lên,
giao thông đi lại thuận tiện, trình độ khoa học - kỹ thuật ngày càng phát triển, do
vậy người dân đã quan tâm đến sức khỏe của mình. Nhiều yếu tố ảnh hưởng xấu
đến sức khỏe như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, thực phẩm không an toàn;
các hành vi, lối sống có hại cho sức khỏe như hút thuốc lá, lạm dụng rượu, bia, các
tệ nạn ma túy, đòi hỏi phải có những giải pháp mạnh và sự tham gia quyết liệt của
cả hệ thống chính trị. Ngoài ra, nước ta đang hội nhập với quốc tế và khu vực ngày
càng sâu rộng, giao thông thuận lợi đòi hỏi các cơ sở y tế phải được quy hoạch lại
1
theo khu vực, cụm dân cư, đồng thời phải đổi mới mạnh mẽ cơ chế tài chính, cơ chế
hoạt động, phương thức quản trị của các đơn vị y tế công lập để nâng cao hiệu quả
hoạt động. Trong khi đó, quản lý bệnh viện còn nhiều khó khăn, thiếu trang thiết bị
y tế hiện đại, thiếu bác sỹ có trình độ trong bệnh viện công, lương thấp, thiếu sự
phối hợp chặt chẽ giữa trong khám, chữa bệnh, thiếu sự thống nhất trong thực hiện
thanh toán BHYT, không có hệ thống công nghệ thông tin thống nhất từ bộ đến các
cơ sở y tế, thời điểm thông tuyến sớm khi chưa chuẩn bị đầy đủ các điều kiện bảo
đảm kèm theo để người bệnh và các cơ sở y tế lợi dụng sử dụng quỹ BHYT chưa
chuẩn, định mức để thực hiện chức năng vốn có của ngân sách. Vì vậy, vấn đề quản
lý chi NSNN trở thành đối tượng nghiên cứu phổ biến trong các đề tài khoa học, các
sách báo, luận án, tiến sĩ, luận văn thạc sỹ…Các kết quả nghiên có liên quan đến đề
tài như sau:
Phan Văn Côi (2018), Pháp luật về chi ngân sách nhà nước, qua thực tiễn áp
dụng tại huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học
Luật, Đại học Huế. Đề tài làm rõ cơ sở lý luận, các quy định của pháp luật pháp luật
về chi NSNN; Nghiên cứu đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật chi NSNN tại
huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở đó chỉ ra những bất cập, tồn tại,
hạn chế để đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật điều
chỉnh về chi NSNN.
Hoàng Mạnh Hà (2014) Hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN tại tỉnh
Quảng Bình, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Đà Nẵng. Đề tài đã trình bày một
cách khái quát thực trạng quản lý chi ngân sách thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội
trên địa bàn tỉnh về hệ thống cơ chế, chính sách có liên quan đến quản lý chi NSNN.
Từ đó, rút ra những kết quả đạt được, những hạn chế và những nguyên nhân của
việc quản lý chi NSNN trong những năm qua. Rút ra các bài học kinh nghiệm có
thể vận dụng nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý chi NSNN trong điều kiện
hiện nay.
Trịnh Thị Hà (2013) Nâng cao hiệu quả chi ngân sách nhà nước tại các
bệnh viện công trên địa bàn tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2009-2020, Luận văn Thạc sĩ,
Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh. Từ cơ sở lý luận và thực trạng
hoạt động chi ngân sách nhà nước cho các bệnh viện công của tỉnh Tây Ninh luận
văn đã nêu lên những quan điểm cơ bản: quan điểm hiệu quả, công bằng; quan điểm
3
phát triển; quan điểm phù hợp. Vi ệ c nắm vững các quan điểm này chính là cơ sở
để chỉ đạo tổ chức và thực hiện tốt nhiệm vụ của các bệnh viện. Đồng thời luận văn
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề quản lý chi thường xuyên NSNN cho các cơ
sở khám chữa bệnh thuộc Sở Y tế Quảng Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung làm rõ những nội dung cơ bản của quản lý
chi thường xuyên ngân sách cho các cơ sở khám chữa bệnh công lập của tỉnh Quảng
Nam theo chu trình ngân sách.
+ Phạm vi không gian: Các cơ sở khám chữa bệnh công lập của tỉnh Quảng
Nam.
+ Phạm vi thời gian: Phân tích thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN
cho các cơ sở khám chữa bệnh công lập của tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 2013 –
2017; đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên NSNN cho các cơ sở
khám chữa bệnh công lập của tỉnh Quảng Nam.
5. Những đóng góp khoa học của đề tài
- Khái quát được thực trạng quản lý chi ngân sách Nhà nước cho các cơ sở
khám chữa bệnh thuộc Sở Y tế Quảng Nam trong những năm gần đây.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện quản lý chi thường
xuyên ngân sách Nhà nước trong giai đoạn hiện nay cho các cơ sở khám chữa bệnh
công lập, góp phần vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả phát triển các cơ sở
khám chữa bệnh công lập của tỉnh Quảng Nam.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Các phương pháp thu thập số liệu.
Luận văn đã nghiên cứu số liệu từ việc thu thập thông tin tại: Báo cáo của các
Bộ, ngành, từ các cơ quan, các bài báo và tài liệu tham khảo; tài liệu từ các Bộ,
ngành: Bộ Y tế, UBND tỉnh Quảng Nam, Sở Y tế Quảng Nam, các trang website
của: Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Bộ Y tế, Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng
Nam... để tìm kiếm các báo cáo có liên quan đến đề tài nghiên cứu như báo cáo liên
quan đến tình hình khám chữa bệnh tại các cơ sở hàng năm. Các nguồn thông tin
khác như: sách báo, tạp chí, các quyết định, chính sách của Nhà nước, hệ thống
phương tiện thông tin (Internet, đài, vô tuyến truyền hình...) cũng được sử dụng và
khai thác.
- xã hội, luận văn phân tích làm rõ thực trạng công tác quản lý chi NSNN cho các
cơ sở khám chữa bệnh công lập của tỉnh Quảng Nam thông qua việc thực hiện các
nội dung QLNN nói chung; phân tích và làm rõ các nguyên nhân ảnh hưởng đến
công tác quản lý.
6
- Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh được sử dụng trong quá trình
phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chi NSNN cho các cơ sở khám chữa bệnh
công lập của tỉnh Quảng Nam. Tác giả so sánh công tác quản lý chi NSNN cho các
cơ sở khám chữa bệnh công lập của tỉnh Quảng Nam với thành phố Đà Nẵng.
Phương pháp này là sự hỗ trợ cần thiết làm nổi bật tính logic. Đó là sự so sánh giữa
đối tượng này với đối tượng khác trong những điều kiện, hoàn cảnh tương đối
giống nhau.
Trong chương 1 của luận văn, tác giả đã dùng phương pháp này để so sánh số
liệu về tình hình và kết quả quản lý chi NSNN cho các cơ sở khám chữa bệnh công
lập của tỉnh Quảng Nam. Việc so sánh cho thấy tính hiệu quả trong việc thực thi
các chính sách, giải pháp cụ thể của địa phương. Nhân rộng các giải pháp tích cực
trong công tác quản lý chi NSNN cho các cơ sở khám chữa bệnh công lập của tỉnh.
7. Kết cấu của Luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi thường xuyên ngân sách
Nhà nước cho các cơ sở khám chữa bệnh công lập trên địa bàn cấp tỉnh.
Chương 2. Thực trạng quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho
các cơ sở khám chữa bệnh công lập của tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2013-2017.
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà
nước cho các cơ sở khám chữa bệnh công lập của tỉnh Quảng Nam.
7
Như vậy, chúng ta thấy rằng thu, chi của NSNN hoàn toàn không giống bất
kỳ một hình thức thu chi của một loại quỹ nào. Thu của NSNN phần lớn đều mang
tính chất bắt buộc, còn các khoản chi của NSNN lại mang tính chất không hoàn lại.
Đây là đặc trưng nổi bật của NSNN trong bất cứ một Nhà nước nào. Xuất phát từ
quyền lực của Nhà nước và các nhu cầu về tài chính để thực hiện chức năng quản lý
và điều hành của Nhà nước đối với nền kinh tế - xã hội. Nhà nước đã sử dụng quyền
lực thông qua hệ thống pháp luật tài chính buộc mọi pháp nhân và thể nhân phải
đóng góp một phần thu nhập của mình cho NSNN, tức là các chủ thể kinh tế thực
hiện nghĩa vụ của mình với Nhà nước. Sự bắt buộc đó là hoàn toàn khách quan, vì
lợi ích của toàn xã hội chứ không phải phục vụ cho lợi ích riêng của Nhà nước.
Phân loại chi NSNN là sự sắp xếp các khoản chi vào các nhóm theo tiêu thức
nhất định, nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý và định hướng chi NSNN
(Nguyễn Đức Tuấn, 2014, trang 16). Thông thường phân loại chi NSNN được dựa
trên các tiêu thức chủ yếu sau:
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động:
Chi đầu tư kinh tế: là những khoản chi nhằm hoàn thiện và mở rộng nền sản
xuất xã hội. Khoản chi này có vai trò điều tiết quan trọng, được thực hiện qua nhiều
kênh khác nhau, tạo ra sự tác động tổng hợp, kích thích sự phát triển của khu vực
kinh tế tư nhân, tạo thế cân bằng cho nền kinh tế. Chi cho y tế bao gồm các khoản
chi để duy trì và mở rộng hoạt động y tế.
Chi cho giáo dục: bao gồm các khoản chi cho việc duy trì và phát triển hoạt
động giáo dục, đào tạo
Chi cho phúc lợi xã hội: là những khoản chi mà xã hội cần chính phủ quan
tâm, giúp đỡ. Đó là các khoản trợ cấp cho người già, người tàn tật, trẻ mồ côi, người
lao động chưa có việc làm, nhân dân các vùng thiên tai, địch họa, cho thương binh,
gia đình liệt sĩ.
Chi cho quản lý hành chính: là những khoản chi nhằm duy trì hoạt động của
các cơ quan quản lý thuộc chính quyền các cấp, quốc hội, Hội đồng nhân dân, viện
cơ sở thực hiện nhiệm vụ đảm bảo sức khỏe người dân trên địa bàn.
Phân loại chi NSNN cho các cơ sở khám chữa bệnh công lập:
Theo tính chất các khoản chi: Nội dung chi NSNN cho các cơ sở khám chữa
bệnh công lập gồm:
10
Chi Đầu tư như: Chi xây lắp, chi thiết bị, chi khác về đầu tư.
Chi thường xuyên như: Chi lương cho cán bộ nhân viên Y tế và đội ngũ bác
sĩ, chi bù lỗ bù giá, chi công tác phí, chi hội nghị phí, công vụ phí, chi đào tạo và
chi khác.
Tác dụng của cách phân loại theo tính chất các khoản chi là có thể quản lý
một cách chặt chẽ các khoản chi dành cho đầu tư và chi thường xuyên, từ đó có thể
có được những thông tin chính xác về tình hình quản lý biên chế và quỹ lương, tình
hình tuân thủ chính sách chế độ chi NSNN tại mỗi đơn vị thụ hưởng.
Theo tuyến chi:
Chi NSNN cho sự nghiệp Y tế gồm: Chi Y tế cho tuyến Trung ương, tuyến
tỉnh, tuyến huyện và tuyến xã.
Tác dụng của việc phân loại này là có thể xác định được mức độ chi NSNN
cho sự nghiệp Y tế ở mỗi cấp để có sự điều chỉnh hợp lý, đảm bảo tính công bằng
trong việc phân bổ kinh phí hoạt động Y tế giữa các tuyến, phù hợp với nhu cầu
phát triển của ngành Y tế nói riêng và sự phát triển của kinh tế - xã hội nói chung
của từng vùng.
Trong công tác quản lý các khoản chi tiêu thường xuyên của NSNN chi
NSNN cho sự nghiệp Y tế được phân chia theo 4 nhóm chính sau:
Nhóm 1 : Chi Bộ máy
Đứng trên góc độ tài chính, đây là khoản chi tiêu thường xuyên như: Tiền
lương, tiền thưởng, phụ cấp, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp và các khoản
khác. Trong đó:
để đầu tư mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi lại và từng bước hiện đại hoá trang
thiết bị ngành Y tế ở những đơn vị Y tế được Nhà nước bao cấp. Chính nhờ nhóm
chi này đã góp phần nâng cao năng lực hiện có của tài sản cố định, nâng cao chất
lượng của các bệnh viện, phòng khám, qua đó giúp cho hoạt động khám chữa bệnh
ngày càng được nâng cao về chất lượng cũng như về quy mô.
1.2. Nội dung quản lý chi thường xuyên NSNN cho các cơ sở khám chữa
bệnh công lập trên địa bàn cấp tỉnh
1.2.1 Lập dự toán chi thường xuyên NSNN tại cơ sở khám chữa bệnh
công lập.
Quản lý chi NSNN cho các cơ sở khám chữa bệnh công lập là một khái niệm
12
phản ánh hoạt động tổ chức điều khiển và đưa ra quyết định của Nhà nước đối với
quá trình phân phối và sử dụng nguồn lực NSNN cho các cơ sở khám chữa bệnh
công lập nhằm thực hiện các chức năng vốn có của Nhà nước trong việc quản lý nhà
nước, cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh, phục vụ lợi ích khám chữa bệnh cho cộng
đồng (Nguyễn Thị Minh Thuần, 2G13, trang 14).
Xét về phương diện cấu trúc, quản lý chi NSNN cho các cơ sở khám chữa
bệnh công lập bao gồm hệ thống các yếu tố sau:
Đối tượng quản lý chi NSNN cho các cơ sở khám chữa bệnh công lập: Là
toàn bộ các khoản chi NSNN cho các cơ sở khám chữa bệnh công lập.
Chủ thể quản lý chi NSNN cho các cơ sở khám chữa bệnh công lập là các cơ
quan QLNN có thẩm quyền đối với lĩnh vực chi NSNN trên địa bàn tỉnh (HĐND
các cấp, UBND các cấp, Sở Tài chính, KBNN) và các đơn vị sử dụng NSNN (Sở Y
tế, cơ sở khám chữa bệnh công lập trên địa bàn)
Công cụ và phương pháp quản lý chi NSNN cho các cơ sở khám chữa bệnh
công lập trên địa bàn cấp tỉnh: Công cụ quản lý gồm các chế độ, chính sách, các tiêu
chuẩn, định mức do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành tác động lên đối
khám chữa bệnh công lập cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc, nhiệm vụ chi và mức
bổ sung ngân sách cho cấp dưới.
Lập phương án điều chỉnh dự toán chi NSNN tại cơ sở khám chữa bệnh công
lập và phương án phân bổ dự toán chi ngân sách cấp tỉnh, trình HĐND tỉnh quyết
định theo yêu cầu của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong trường hợp nghị
quyết của HĐND tỉnh không phù hợp với nhiệm vụ sử dụng chi NSNN tại cơ sở
khám chữa bệnh công lập cấp trên giao.
Kiểm tra Nghị quyết về dự toán chi NSNN tại cơ sở khám chữa bệnh công
lập của HĐND cấp huyện; yêu cầu HĐND cấp huyện điều chỉnh lại dự toán chi
NSNN tại cơ sở khám chữa bệnh công lập khi cần thiết;
Sở Tài chính có nhiệm vụ: Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Y tế xem
xét dự toán chi NSNN tại cơ sở khám chữa bệnh công lập của các đơn vị trực thuộc
tỉnh, báo cáo UBND cấp tỉnh để trình Thường trực HĐND xem xét trước ngày 20
tháng 7 năm trước.
Tổ chức làm việc với các đơn vị sử dụng chi NSNN tại cơ sở khám chữa
bệnh công lập về dự toán chi NSNN tại cơ sở khám chữa bệnh công lập hàng năm.
14
Đối với năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách, Sở Tài chính tổ chức làm việc,
thống nhất với Sở Y tế về dự toán chi NSNN tại cơ sở khám chữa bệnh công lập;
yêu cầu bố trí lại những khoản chi NSNN tại cơ sở khám chữa bệnh công lập trong
dự toán chưa đúng chế độ, tiêu chuẩn, chưa hợp lý, chưa tiết kiệm, chưa phù hợp
với khả năng ngân sách và chủ trương của Nhà nước về phát triển y tế trên địa bàn.
Đối với các năm tiếp theo của thời kỳ ổn định ngân sách, Sở Tài chính chỉ làm việc,
thống nhất với Sở Y tế khi có đề nghị. Trong quá trình làm việc, dự toán chi NSNN
tại cơ sở khám chữa bệnh công lập và phương án phân bổ chi NSNN tại cơ sở khám
chữa bệnh công lập còn có ý kiến khác nhau giữa Sở Tài chính với các cơ quan sử
dụng NSNN, Sở Tài chính phải báo cáo UBND tỉnh xem xét, quyết định;
xuyên và phần dự toán chi NSNN tại cơ sở khám chữa bệnh công lập không thường
xuyên.
Khi phân bổ, giao dự toán chi NSNN tại cơ sở khám chữa bệnh công lập cho
các đơn vị trực thuộc, UBND tỉnh và đơn vị dự toán cấp I phải bảo đảm phân bổ hết
dự toán chi NSNN tại cơ sở khám chữa bệnh công lập được giao. Trường hợp có
các nhiệm vụ chi chưa xác định được rõ đơn vị thực hiện trong dự toán chi NSNN
tại cơ sở khám chữa bệnh công lập đầu năm thì được giữ lại để phân bổ sau, nhưng
khi phân bổ cho các nhiệm vụ này, đơn vị dự toán cấp I phải lập phương án phân bổ
gửi Sở Tài chính để thẩm tra.
Dự toán chi NSNN tại cơ sở khám chữa bệnh công lập giao cho đơn vị sử
dụng ngân sách được phân bổ theo từng loại của Mục lục NSNN, theo các nhóm
mục: Chi thường xuyên như: Chi lương cho cán bộ nhân viên Y tế và đội ngũ bác
sĩ, chi bù lỗ bù giá, chi công tác phí, chi hội nghị phí, công vụ phí, chi đào tạo và
chi khác.
Tổ chức thực hiện dự toán chi NSNN tại cơ sở khám chữa bệnh công lập là
quá trình bao gồm toàn bộ các công việc từ khi có quyết định phê duyệt dự án, đề
tài, giao kế hoạch và dự toán ngân sách thực hiện cho đến khi hoàn thành toàn bộ
dự án, đề tài chuyên môn và nhiệm vụ thường xuyên. Quá trình này gồm các công
việc sau:
Đôn đốc, hướng dẫn đơn vị chủ trì thực hiện
Trong giai đoạn này, UBND tỉnh và các cơ quan tham mưu giúp việc là Sở Y
tế, Sở Tài chính có trách nhiệm đôn đốc, hướng dẫn đơn vị chủ trì thực hiện dự án,
16
nhiệm vụ đảm bảo đúng mục tiêu, nội dung, tiến độ kế hoạch và dự toán kinh phí đã
được UBND tỉnh phê duyệt.
Điều chỉnh hoặc hủy bỏ dự án, đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện dự án, đề tài, nhiệm vụ, nếu phải thay đổi địa điểm,