BỘ GIÁO DỤC VÀĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNGĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRƯƠNG VĂN THÁI
QUẢN LÝ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ BỆNH NHÂN LAO VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI PHÒNG KHÁM LAO TRUNG TÂM Y TẾ
CÁI BÈ TIỀN GIANG NĂM 2018
ĐỀ CƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
Hà Nội – 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNGĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRƯƠNG VĂN THÁI
QUẢN LÝ ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ BỆNH NHÂN LAO VÀ MỘT SỐ
YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI PHÒNG KHÁM LAO TRUNG TÂM Y TẾ CÁI
BÈ TIỀN GIANG NĂM 2018
ĐỀ CƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS.HÀ VĂN NHƯ
2.4.2. Mẫu nghiên cứu định tính ...............................................................................14
2.5. Phương pháp thu thập số liệu .............................................................................14
2.5.1. Thu thập số liệu định lượng ............................................................................14
2.5.2.Thu thập số liệu định tính.................................................................................15
ii
2.5.3. Số liệu thứ cấp .................................................................................................16
2.6. Các chủ đề nghiên cứu định tính ........................................................................16
2.7. Phương pháp phân tích số liệu ...........................................................................16
2.8. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu ......................................................................16
2.9. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và khống chế sai số ..........................................17
Chương 3. DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................... 18
3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu quản lý điều trị lao ngoại trú ..........19
3.2. Tình hình quản lý điều trị lao ngoại trú .............................................................19
3.2.1. Quản lý đăng ký điều trị .................................................................................19
3.2.2. Quản lý cấp phát thuốc ....................................................................................19
3.2.3. Quản lý giám sát điều trị ................................................................................21
3.2.4. Quản lý tái khám điều trị ................................................................................21
3.2.5. Quản lý theo dõi kết quả điều trị .....................................................................22
3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng quản lý điều trị ngoại trú bệnh nhân lao ...................23
Chương 4.DỰ KIẾN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ......................................... 25
1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ............................................................25
2. Tình hình quản lý điều trị lao ngoại trú.................................................................25
3. Một số yếu tố ảnh hưởng quản lý điều trị ngoại trú bệnh nhân lao .....................25
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 26
PHỤ LỤC .................................................................................................................. 29
Phụ lục 1. Phiếu thu thập số liệu thứ cấp .................................................................. 29
Phụ lục 2. Phiếu phỏng vấn cán bộ y tế tại xã .......................................................... 32
Phụ lục 3. Hướng dẫn phỏng vấn vân sâu cán bộ cán bộ y tế huyện ........................ 34
Chương trình chống lao Quốc gia
CTPH
Công tác phát hiện
DOT
Hóa trị liệu ngắn ngày có giám sát trực tiếp (Directly
Observed Treament Short CoursTherapy)
ĐKĐT
Đăng ký điều trị
ĐTNC
Đối tượng nghiên cứu
GĐTC
Giai đoạn tấn công
HIV
Vi rút gây suy giảm miễn dịch (Human Immuno
Dificiency Virus)
LNP
Trung tâm y tế
TYT
Trạm y tế
WHO
Tổ chức y tế Thế Giới (Wordl Health Oraganization)
Xpert MTB/RLF
Xét nghiệm ứng dụng công nghệ sinh học phân
tử để nhận diên vị khuẩn lao kể cả vi khuẩn kháng
Rifam
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1. Phân bố bệnh lao theo nhóm tuổi và giới tính: .........................................18
Bảng 3.2. Phân bố bệnh lao theo nghề nghiệp ..........................................................18
Bảng 3.3. Phân bố bệnh nhân theo thể bệnh .............................................................18
Bảng 3.4. Hướng dẫn, tư vấn của cán bộ y tế cho BN ..............................................19
Bảng 3.5. Phân bố bệnh nhân lao theo phác đồ điều trị ............................................19
Bảng 3.6. Địa điểm BN lao được tiêm và uống thuốc trong giai đoạn tấn công ......20
Bảng 3.7. Địa điểm CBYT phát thuốc điều trị cho BN lao trong giai đoạn củng cố.
...................................................................................................................................20
Bảng 3.8. Thời điểm bệnh nhân lao được tiêm và uống thuốc ................................20
Bảng 3.9. Sự tuân thủ của bệnh nhân lao trong việc tiêm và uống thuốc đều hàng
tăng lên đến 138 bệnh nhân lao. Mỗi năm số lượng bệnh nhân tại huyện Cái Bè tăng
lên mà chưa có dấu hiệu dừng hay giảm đi.
Nguyên tắc quản lý điều trị bệnh Lao ngoại trú là tất cả các bác sĩ (công và
tư) tham gia điều trị người bệnh lao phải được tập huấn theo hướng dẫn của Chương
trình Chống lao Quốc gia và báo cáo theo đúng quy định. Kiểm soát việc tuân thủ
điều trị của người bệnh, theo dõi kết quả xét nghiệm đờm, theo dõi diễn biến lâm
sàng, xử trí kịp thời các biến chứng của bệnh và tác dụng phụ của thuốc. Với bệnh
lao trẻ em phải theo dõi cân nặng hàng tháng khi tái khám để điều chỉnh liều lượng
thuốc. Đặc biệt đối với người bệnh Lao kháng thuốc phải kiểm soát chặt chẽ việc
2
dùng thuốc hàng ngày trong cả liệu trình điều trị.Phối hợp chặt chẽ giữa các trung
tâm – điểm điều trị - tỉnh lân cận trong quản lý điều trị bệnh nhân lao đa kháng.
Người bệnh lao đa kháng nên điều trị nội trú (khoảng 2 tuần) tại các trung tâm/điểm
điều trị lao đa kháng để theo dõi khả năng dung nạp và xử trí các phản ứng bất lợi
của thuốc (có thể điều trị ngoại trú ngay từ đầu cho người bệnh tại các địa phương
nếu có đủ điều kiện: gần trung tâm điều trị lao đa kháng, nhân lực đảm bảo cho việc
theo dõi và giám sát bệnh nhân một cách chặt chẽ). Tiếp theo là giai đoạn điều trị
ngoại trú – điều trị có kiểm soát trực tiếp (DOT) có thể thực hiện tại các tuyến: quận
huyện, xã phường, tái khám hàng tháng tại các trung tâm/điểm điều trị lao đa kháng
để theo dõi diễn biến lâm sàng, xử trí kịp thời biến chứng của bệnh và tác dụng phụ
của thuốc, theo dõi các xét nghiệm, X-quang và một số thăm khám cần thiết
khác[8]. Đứng trước tình hình đó, nhiều câu hỏi được đặt ra như: quản lý điều trị
bệnh nhân lao ngoại trú tại huyện Cái Bè hiện nay đang ở mức độ nào? Đâu là
những điểm thuận lợi hay khó khăn? Làm thế nào để khắc phục những khó khăn đó?
Xuất phát từ thực tế trên và để có thêm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các
giải phát trong việc xây dựng, triển khai các hoạt động của CTCLQG chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài : “Quản lý điều trị ngoại trú bệnh nhân lao và một số yếu
AFB (+) để trong phòng tối, ẩm sau 3 tháng vi khuẩn vẫn tồn tại và giữ được độc
lực, nhưng khi đun đờm 5 phút chúng sẽ bị chết, với cồn 90oC vi khuẩn tồn tại 3
phút, trong acid phenic 5% vi khuẩn chết sau 1 phút [4].
1.1.3. Phân loại bệnh lao
Có 2 cách phân loại bệnh lao thường đựợc sử dụng.
Phân loại bệnh lao theo vị trí giải phẫu:
Lao: bệnh lao tổn thương ở phổi – phế quản, bao gồm cả lao kê. Trường hợp
tổn thương phối hợp cả ở phổi và cơ quan ngoài phổi được phân loại là lao phổi.
Lao ngoài phổi: bệnh lao tổn thương ở các cơ quan ngoài phổi như màng phổi,
hạch, màng bụng, sinh dục tiết niệu, da, xương, khớp, màng não, màng tim,... nếu
lao nhiều bộ phận, thì bộ phận có biểu hiện tổn thương nặng nhất (lao màng não,
xquang, khớp...) được ghi là chẩn đoán chính.
Phân loại người bệnh lao theo tiền sử điều trị lao:
5
Mới: người bệnh chưa bao giờ dùng thuốc chống lao hoặc mới dùng thuốc
chống lao dưới 1 tháng.
Tái phát: người bệnh đã được điều trị lao và được thầy thuốc xác định là khỏi
bệnh, hay hoàn thành điều trị nay mắc bệnh trở lại với kết quả AFB (+). Thất bại
điều trị: người bệnh có AFB (+) từ tháng điều trị thứ 5 trở đi, phải chuyển phác đồ
điều trị, người bệnh AFB (-) sau 2 tháng điều trị có AFB (+), người bệnh lao ngoài
phổi xuất hiện lao phổi AFB (+) sau 2 tháng điều trị, người bệnh trong bất kỳ thời
điểm điều trị nào với thuốc chống lao hàng 1 có kết quả xác định chủng vi khuẩn lao
kháng đa thuốc.
Điều trị lại sau bỏ trị: người bệnh không dùng thuốc liên tục từ 2 tháng trở
lên trong quá trình điều trị, sau đó quay trở lại điều trị với kết quả AFB(+).
Lao phổi AFB (+) khác: là người bệnh đã điều trị thuốc lao trước đây với thời
gian kéo dài trên 1 tháng nhưng không xác định được phác đồ và kết quả điều trị
biến chứng của bệnh và tác dụng phụ của thuốc, theo dõi các xét nghiệm, X-quang và
một số thăm khám cần thiết khác [3].
1.1.5. Nội dung quy trình quản lý điều trị lao ngoại trú
Bảng 1.1 Tổng hợp nội dung quy trình. [1]
Bước thực hiện
Nội dung hoạt động
Bên liên quan
(ai thực hiện)
Bước 1:
- Đăng ký sớm.
- Cán bộ chống lao của
Đăng ký điều trị
- Nhập sổ đăng ký điều trị.
phòng khám lao
- Sổ đăng ký điều trị.
- Cán bộ lao ở xã
- Phát thẻ người bệnh.
- Phiếu điều trị có kiểm soát.
- Tư vấn người bệnh.
- Dược sĩ.
7
Bước thực hiện
Nội dung hoạt động
Bên liên quan
(ai thực hiện)
- Biên bản kiểm nhập thuốc.
- Bệnh nhân,thân Nhân
- Phát thuốc đúng chỉ định.
- Ghi danh sách cấp thuốc.
- Người nhận thuốc ký.
Bước 3:
- Lựa chọn giám sát hỗ trợ (Giám sát
- Cán bộ lao xã
Giám sát điều trị viên 2).
- Tư vấn giám sát cho giám sát viên 2.
- Vãng gia 1 tháng /lần.
- Tiêm streptomycine, uống thuốc tại
trạm.
Lao
- Xét nghiệm đờm
- KTV xét nghiệm
Phòng khám lao.
8
Bước thực hiện
Nội dung hoạt động
Bên liên quan
(ai thực hiện)
Bước 5:
Lao phổi AFB(+)
Kết luận
- Khỏi.
Bác sĩ
Sau kết thúc điều - Hoàn thành.
trị
- Thất bại.
trong đó có 35 nam (55%) và 28 nữ (45%) . Kết quả cho thấy sự tuân thủ ở BN nữ
và nam là như nhau. Có 50% BN nam được phỏng vấn nói rằng vợ họ là người
giám sát việc điều trị của họ. Trong khi đó 53% BN nữ nói rằng họ chính là người
giám sát bản thân. Hầu hết BN (85%) biết rằng lao là một bệnh truyền nhiễm. Tuy
nhiên, chỉ có 9 BN nói rằng họ bị lao là do lây từ người khác, 13 người khác nghĩ
rằng bệnh của họ là do áp lực mặc dù họ vẫn nói đó là một bệnh lây nhiễm, 13 BN
khác cho rằng bệnh của họ là do những lý do khác chẳng hạn như ăn thức ăn gia vị,
uống nước lạnh hoặc do yếu tố di truyền. Một nửa trong số những BN không tuân
thủ không biết thời gian điều trị, trái lại 87%. BN tuân thủ nói thời gian điều trị ít
nhất là 6 tháng. Hầu hết các BN không tuân thủ đều đưa ra các lý do cho việc dừng
điều trị của họ. Cảm thấy thể trạng tốt hơn là lý do được đề cập nhiều nhất (47%).
Lý do thứ hai, thường kết hợp,đó là thiếu tiền (44%). Gần 20% BN không tuân thủ
dừng điều trị bởi vì họ cảm thấy bệnh nặng hơn (13%) hoặc có phản ứng phụ (
28%) 30% BN không tuân thủ đã không được hướng dẫn từ những người chăm sóc
sức khỏe về phản ứng phụ có thể có và cách chữa trị [23].
1.2.2. Những nghiên cứu về quản lý diều trị lao tại Việt Nam
Năm 2009 nghiên cứu “Đánh giá hoạt động giám sát điều trị của nhân viên y
tế, người thân và cộng đồng đối với bệnh nhân lao trong thời gian điều trị của
chương trình chống lao huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh trong 9 tháng đầu năm
2008” [5] của tác giả Đỗ Anh Lợi được tiến hành với mục tiêu là đánh giá hoạt động
giám sát điều trị của nhân viên y tế đối với bệnh nhân lao trong thời gian điều trị tại
huyện Yên Phong trong năm 2008 và tìm hiểu các thuận lợi, khó khăn của hoạt động
này. Nghiên cứu cũng đánh giá cả hoạt động giám sát điều trị của người thân và
cộng đồng đối với bệnh nhân lao trong thời gian điều trị. Tác giả tiến hành phỏng
vấn định lượng 54 bệnh nhân lao, 54 người thân của BN và phỏng vấn sâu một số
CBYT. Kết quả nghiên cứu cho thấy 5,6% bệnh nhân lao không được tiêm và cấp
phát thuốc đúng như quy định trong giai đoạn điều trị tấn công, 11,1% bệnh nhân
lao không được phát thuốc đúng quy định trong giai đoạn duy trì. Như vậy, nghiên
cứu của tác giả Đỗ Anh Lợi đã đưa ra được những con số thống kê cụ thể đánh giá
được việc thực hiện công tác giám sát điều trị. Tuy nhiên, nghiên cứu tập trung
nguyên tắc là 48%. Có mối liên quan giữa các yếu tố tác dụng phụ của thuốc và sự
quan tâm của gia đình với việc có tuân thủ nguyên tắc điều trị lao hay không[15].
11
Theo kết quả nghiên cứu của Vũ Quang Diễn và cộng sự: tìm hiểu tình trạng
phát hiện và đăng ký điều trị của bệnh nhân lao 4 tỉnh Tây Bắc được công bố năm
2010 cho thấy, thái độ xử trí đối với người nghi lao và chuyển người nghi lao lên
huyện khám phát hiện của trạm Y tế xã khá tốt. Bệnh nhân lao đến khám phát hiện
khi
đã có triệu chứng tương đối rõ ràng và nặng, điều này chứng tỏ bệnh nhân lao
được phát hiện muộn. Thái độ xử trí với người nghi lao của thầy thuốc tư kém hơn
so với trạm Y tế xã. Tác giả có đưa ra một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát
hiện bệnh nhân lao: hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác khám,
chữa bệnh ngày càng xuống cấp. Cán bộ tuyến xã và tuyến huyện hoạt động trong
công tác phòng chống lao còn thiếu trầm trọng, thường xuyên thay đổi nhiệm vụ,
người dân còn mặc cảm và hiểu biết không đúng về bệnh lao, nên khi biết mình bị
bệnh, một số người bệnh đã che dấu tình trạng bệnh, tự điều trị hay lựa chọn đến
khám và điều trị tại các cơ sở Y tế tư nhân. Nghiên cứu đã đối chiếu, so sánh được
giữa việc phát hiện và đăng ký điều trị bệnh nhân lao của 4 tỉnh với các hướng dẫn
thực hiện phát hiện và đăng ký điều trị của CTCLQG. Đây là nghiên cứu hồi cứu
dựa trên bộ câu hỏi định lượng phỏng vấn bệnh nhân nên có khả năng gặp phải sai
số nhớ lại. Mặc dù nghiên cứu có kết hợp sử dụng phương pháp nghiên cứu định
lượng trên đối tượng bệnh nhân với phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
đối với CBYT tuyến huyện, xã, thầy thuốc tư nhân, thầy lang, nhưng kết quả của
phần nghiên cứu định tính chưa được nêu rõ trong phần kết quả và bàn luận của
nghiên cứu [21].
Tỷ lệ bệnh nhân lao mới thu nhận:2.166 người, chiếm 123 người/100.000 dân.
Tỷ lệ lao kháng đa thuốc trong bệnh nhân điều trị lại là 18.7%.
Tỷ lệ lao kháng đa thuốc trong bệnh nhân mới là 0.7%( tỷ lệ gửi tầm soát lao
kháng thuốc nhóm đối tượng này còn thấp)
Tỷ lệ bệnh nhân lao được xét nghiệm HIV:55.2%
Tử vong trên bênh nhân lao 72 người, chiếm 4 người/100.000 dân [16].
1.3.2. Quản lý điều trị ngoại trú BN Lao tại huyện Cái Bè
Theo số liệu báo cáo của CTCL huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang năm 2018
Số bệnh nhân lao các thể:
Lao phổi mới có bằng chứng vi khuẩn: 223
Lao phổi mới không có bằng chứng vi khuẩn: 32
Lao phổi tái phát có bằng chứng vi khuẩn: 22
13
Lao ngoài phổi: 70 [3]
1.4. Khung lý thuyết
Yếu tố thuộc về trung tâm y tế
- Sự quan tâm của lãnh đạo;
- Cơ sở vật chất trang thiết bị.
Yếu tố
thuộc người
bệnh và
người nhà
- Loại bệnh
lao;
- Đặc điểm
nhân khẩu
- Trình độ
chuyên môn;
- Kinh nghiệm
làm việc;
- Kiến thức và
thái độ của
cán bộ y tế về
tuân thủ quy
định, của
CTCLQG.
14
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Số liệu thứ cấp: Số liệu bệnh nhân lao được quản lý điều trị tại Phòng khám
lao thuộc TTYT huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang từ 1/1/2017 đến 31/12/2018, đã kết
thúc điều trị. – Văn bản chính sách, qui định quản lý điều trị ngoại trú bệnh nhân
lao.
- Cơ sở vật chất (phòng khám, trang thiết bị xét nghiệm, thuốc,...) phụ vụ quản
lý điều trị bệnh nhân lao ngoại trú.
- Bác sỹ điều trị lao, cán bộ quản lý lao,
- Đại diện lãnh đạo bệnh viện phụ trách CTCLQG tại Trung tâm y tế Cái Bè.
- Người bệnh, người nhà người bệnh.
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/2019 đến tháng
08/2019, tại Trung tâm Y tế huyện Cái Bè, tỉnh Tền Giang. Thời gian thu thập số
liệu dự kiến tử tháng 3 đến tháng 4 năm 2019.
thập số liệu sẽ được thiết kế để thu thập được những thông tin cần thiết, đáp ứng
mục tiêu nghiên cứu(Phụ lục 1)
- Quan sát (sử dụng các bảng kiểm) để thu thập thông tin về cơ sở vật chất,
thuốc, sổ sách, biểu mẫu, trang thiết bị xét nghiệm phục vụ quản lý điều trị bệnh
nhân lao ngoại trú.(Phụ lục 2)
- Phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân về kiến thức về bệnh lao và điều trị bệnh lao.
(Phụ lục 3,4)
- Bộ công cụ đã được thử nghiệm trên 10 đối tượng để xác định độ tin cậy liên
kết nội tại của các tiểu mục và chỉnh sửa các câu hỏi cho phù hợp và dễ hiểu hơn
trước khi điều tra chính thức.
- Điều tra viên là 05 cán bộ y tế của phòng nghiệp vụ y thuộc TTYT huyện Cái
Bè, được tập huấn kỹ về nội dung và yêu cầu của nghiên cứu, các kỹ năng tiếp cận
và phỏng vấn để đảm bảo độ khách quan và chính xác cao. Nghiên cứu viên trực
tiếp giám sát quá trình điều trị, giải quyết những khó khăn trong quá trình thu thập
số liệu.
Điều tra viên sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc để tìm hiểu thông tin liên quan
đến quy trình phát hiện, chẩn đoán, quản lý điều trị bệnh nhân lao, trên cơ sở đó tìm
ra những khó khăn và thuận lợi trong việc thực hiện quy trình. Số liệu được thu thập
16
bằng phỏng vấn trực tiếp tại trạm y tế xã (đối với những bệnh nhân đang điều trị)
hoặc tại nhà riêng (đối với những bệnh nhân đã hoàn thành điều trị hoặc bỏ trị giữa
chừng). Để gặp được bệnh nhân chúng tôi gọi điện trước hẹn thời gian gặp thích
hợp thông qua cán bộ chuyên trách lao xã. Những trường hợp đến lần đầu không
gặp, chúng tôi hẹn gặp lại lần thứ hai, thứ ba. Nếu quá 3 lần vẫn không gặp được
bệnh nhân sẽ bị loại ra khỏi nghiên cứu. (Bộ câu hỏi được trình bày ở Phụ lục 1).
Thu thập số liệu sử dụng bảng hỏi cho đối tượng là cán bộ y tế (CBYT).
Sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc để phỏng vấn việc thực hiện quy trình phát
- Số liệu định tính: Tất cả các cuộc phỏng vấn sâu đều được ghi âm và ghi
chép, các bảng ghi âm được gỡ và lưu trên file điện tử, ghi lại bằng văn bản, phân
tích theo chủ đề bổ sung và giải thích cho kết quả định lượng.
2.8. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được thông qua Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công
cộng và có được sự đồng ý của TTYT huyện Cái Bè.
Tất cả các đối tượng nghiên cứu được điều tra viên giải thích cụ thể về mục
đích, nội dung nghiên cứu để họ tự nguyện tham gia và hợp tác tốt trong quá trình
nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối tham gia nghiên cứu. Giấy chấp
thuận đồng ý tham gia nghiên cứu nếu cần có thể được tư vấn về cách phòng chống
bệnh lao.
Các thông tin thu được đảm bảo giữ bí mật và chỉ phục vụ cho mục đích NC
2.9. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và khống chế sai số
- Hạn chế của nghiên cứu: Đây là nghiên cứu cắt ngang nên chỉ cho kết quả tại
một thời điểm.
- Có thể sai số trong quá trình điều tra. Trong nghiên cứu, chọn toàn bộ số bệnh
nhân đang điều trị nên có thể tránh được sai số chọn mẫu nhưng có thể sai số thông
tin. Để hạn chế sai số thông tin, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thăm dò kiểm tra
chất lượng thông tin và bộ câu hỏi tại cộng đồng trước khi tiến hành điều tra thu
nhập số liệu. Bên cạnh đó tập huấn kỹ càng cho điều tra viên để họ có thể khai thác
đúng thông tin theo mục tiêu của đề tài . Những bệnh nhân trẻ em dưới 18 tuổi và
bệnh nhân già lú lẫn, bệnh nhân tâm thần kèm theo sẽ bị loại khỏi NC.
Để giải quyết kịp thời những khó khăn trong quá trình điều tra , giúp phỏng
vấn đạt kết quả chính xác cao, chúng tôi giám sát thường xuyên quá trình thu thập
số liệu. Cụ thể: Trong những ngày phỏng vấn ĐTNC chúng tôi đi cùng cán bộ điều
18
tra để trực tiếp phỏng vấn BN hoặc lấy ngẫu nhiên 10% số phiếu đã phỏng vấn đề đi
%
n
%
45-59
>60
Tổng
Nhận xét
Bảng 3.2. Phân bố bệnh lao theo nghề nghiệp
Nghề nghiệp
Nam
N
Nữ
%
n
Tổng
%
n
%
Lao
phổi
ngoài
bại
lại
AFB(-)
phổi