CƠ sở lý LUẬN về tổ CHỨC GIÁO dục kỹ NĂNG tự PHỤC vụ CHO TRẺ mẫu GIÁO dựa vào CỘNG ĐỒNG - Pdf 56

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC GIÁO DỤC
KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO TRẺ MẪU
GIÁO DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG


- Tổng quan nghiên cứu vấn đề
- Trên thế giới
Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ khái quát, đại diện cho
hướng nghiên cứu này có P.I.Galperin, V.A.Crutexki,
P.V.Petropxki,...trong các công trình nghiên cứu chủ yếu đi
sâu vào vấn đề hình thành tri thức và kỹ năng theo lý thuyết
hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn.
Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ cụ thể, các nhà nghiên
cứu đã nghiên cứu kỹ năng ở các lĩnh vực hoạt động khác
nhau như kỹ năng lao động gắn với những tên tuổi các nhà
tâm lý - giáo dục như V.V.Tseburseva, kỹ năng học tập
gắn với G.X.Cochiuc, N.A.Menchinxcaia, kỹ năng hoạt động
sư phạm gắn với tên tuổi X.I.Kixegops.
Kỹ năng sống được đề cập trong các chương trình hành
động của UNESCO (Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục
của Liên hiệp quốc), WHO (Tổ chức y tế thế giới), UNICEF
(Quỹ Nhi đồng Liên hiệp Quốc) cũng như trong các chương
trình hành động của các tổ chức xã hội trong và ngoài nước...
ở hướng nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu xây dựng hệ


thống các kỹ năng của từng loại hoạt động, mô tả chân dung
các kỹ năng cụ thể và các điều kiện, quy trình hình thành và
phát triển hệ thống các kỹ năng đó..[37].
Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo là một
trong những vấn đề đã được các nhà tâm lý, nhà giáo dục

trẻ. Ông cho rằng nên cho trẻ em làm việc dễ dàng nhưng có
ích từ khi các em còn nhỏ. Việc thực hiện các kỹ năng tự phục
vụ như tự rửa tay, rửa mặt, đánh răng, chải tóc.... là những
công việc dễ dàng vừa sức trẻ mà vô cùng có ích đối với sức
khỏe và vẻ đẹp con người. Dựa trên quan điểm: “Kiên quyết
yêu cầu phải để trẻ em tự phục vụ từ khi còn nhỏ, nếu không
các em sẽ phát triển thói ăn bám xấu xa„ của Crupxkaia, tác
giả cho rằng: “Con cái chúng ta phải hưởng tuổi thơ hạnh
phúc, nhưng tuyệt nhiên không có nghĩa là tuổi thơ ấy phải


nhàn rỗi. Trẻ em sẽ không thấy hạnh phúc khi bố mẹ cứ phục
vụ các em mãi như cậu ấm cô chiêu”. Đồng thời tác giả đưa
ra nguyên tắc vô cùng đơn giản và quan trọng để rèn cho trẻ
thói quen vệ sinh sạch sẽ đó là: Không làm thay con cái
những việc mà các em có thể tự làm được, ngay cả với những
trẻ bé nhất, tùy theo khả năng, trẻ em phải tự ăn uống, rửa
mặt, đánh răng.
Để trẻ yêu thích lao động, thì cần phải giúp trẻ tiếp cận
với lao động, mức độ thể hiện kỹ năng tự phục vụ ở trẻ phụ
thuộc vào việc tham gia vào hoạt động lao động trong môi
trường xung quanh của trẻ.
Tác giả Nhechaeva lại đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa của
việc giáo dục, rèn luyện thói quen lao động tự phục vụ đối với
sự hình thành nhân cách trẻ mẫu giáo. Tác giả cho rằng cần
phải giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ ngay từ lứa tuổi mẫu
giáo để trẻ có nhu cầu thực hiện hành động tự phục vụ một
cách tự giác. Cũng theo tác giả, để hình thành được những kỹ
năng kỹ xảo, thói quen lao động, kỹ năng tự phục vụ cho trẻ
thì công tác rèn luyện cần phải tiến hành thường xuyên, tỉ mỉ

đến hệ lụy trẻ lười biếng, thụ động và khó khăn khi tham gia
vào các hoạt động tập thể, các nhà giáo dục cho rằng cần giáo
dục trẻ kỹ năng tự phục vụ ngay khi trẻ được một tuổi rưỡi,
việc nắm bắt các kỹ năng tự phục vụ giúp trẻ tăng cường tính
độc lập và cảm giác về sự thành công, không chỉ có lợi cho sự
phát triển của trẻ mà hữu ích cho cả người lớn.

- Ở Việt Nam
Khái niệm “Kỹ năng sống” thực sự được hiểu một cách
đúng đắn và chặt chẽ sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ
năng sống” do UNICEF tổ chức năm 2003 tại Hà Nội. Từ đó
người làm công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn
về kỹ năng sống.
Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu kỹ năng tiếp cận theo
hai hướng: Hướng thứ nhất là kỹ năng lao động, xét về mặt kỹ
thuật của thao tác, hành động hay hoạt động gắn với những
tên tuổi các nhà tâm lý - giáo dục như Trần Trọng Thuỷ, Hà
Thị Đức…


Thứ hai là kỹ năng hoạt động sư phạm, kỹ năng học tập
xét về mặt năng lực của con người gắn với tên tuổi các nhà
tâm lý - giáo dục như Nguyễn Như An, Nguyễn Văn Hộ, Ngô
Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thị Tính, Trần
Quốc Thành…
Việt Nam đã thực hiện đổi mới chương trình giáo dục
mầm non. Chương trình mầm non mới hướng đến giáo dục
kỹ năng sống tích hợp với các hoạt động khác. Giáo dục lao
động tự phục vụ, hình thành kỹ năng, thói quen tự chăm
sóc bản thân cho trẻ mầm non đã được các nhà nghiên cứu

giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ gồm nhiều khâu: Làm
cho trẻ nắm được các yêu cầu, rèn kỹ năng thực hiện thao tác,
nắm được trình tự thực hiện... trong quá trình giáo dục, phải


sử dụng nhiều phương pháp và tiến hành trong mọi hoạt động
của trẻ như vui chơi, học tập [35].
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc nghiên cứu thực trạng giáo
dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo thông qua tổ chức hoạt
động vui chơi và đề xuất một số giải pháp về giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ mẫu giáo [20].
Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ được nhiều nhà
nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Các tác giả đã chỉ
ra tầm quan trọng, vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục kỹ năng
tự phục vụ đối với sự phát triển của trẻ. Một số công trình đã
nghiên cứu các biện pháp giáo dục kỹ năng tự phục vụ thông
qua các hình thức khác nhau như lao động, vui chơi, học tập,
ngày lễ, ngày hội. Trong luận văn tác giả tiếp cận việc tổ chức
chế độ sinh hoạt hàng ngày để xây dựng các biện pháp tổ
chức giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo dựa vào
cộng đồng ở huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

- Một số khái niệm liên quan đến đề tài
- Giáo dục


Theo Tác giả Nguyễn Văn Hộ, Tác giả Hà Thị Đức:
“Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình toàn vẹn nhằm hình
thành, phát triển nhân cách con người, được tổ chức một
cách có mục đích có kế hoạch thông qua các hoạt động và

phương thức sử dụng các tri thức, con người cần phải áp
dụng và sử dụng chúng vào trong cuộc sống, vào trong thực
tiễn. Trong quá trình luyện tập, trong hoạt động thực hành kỹ
năng trở nên được hoàn thiện trong mối quan hệ đó và hoạt
động của con người cũng trở nên được hoàn hảo hơn trước”.
A.G.Kovalov trong cuốn “Tâm lý học cá nhân” thì nhấn
mạnh “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù
hợp với mục đích và điều kiện của hành động”. Tác giả
không đề cập đến kết quả của hành động. Theo tác giả, kết
quả hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan


trọng hơn cả là năng lực của con người chứ không đơn giản
là cứ nắm vững cách thức hành động thì đem lại kết quả
tương ứng [1].
Theo L.Đ.Lêvitôv nhà tâm lý học Liên Xô cho rằng: “Kỹ
năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một
hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng
những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất
định”[19]. Theo tác giả, người có kỹ năng hành động là người
phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành
động nhằm thực hiện hành động có kết quả. Tác giả còn nói
thêm, con người có kỹ năng không chỉ nắm lý thuyết về hành
động mà phải vận dụng vào thực tế.
Theo tác giả A.U.Pêtrôpxki: “Kỹ năng là sự vận dụng tri
thức đã có để lựa chọn và thực hiện những phương thức hành
động tương ứng với mục đích đặt ra. Theo tác giả trên cơ sở
các tri thức thu nhận được đối tượng vận dụng những tri thức
đó theo các phương thức để đạt mục đích, ông nhấn mạnh tri
thức và sự vận dụng tri thức để đạt kết quả.

động của cá nhân).
Mục đích hình thành kỹ năng
Các thao tác tương ứng cùng với những phương tiện
thực hiện các thao tác.
Thứ hai kỹ năng bao giờ cũng gắn với một hành động cụ
thể nào đó và được xem như một đặc điểm của hành động.
biểu hiện mức độ đúng đắn và thành thục của hành động. Kỹ
năng không có đối tượng riêng đối tượng của kỹ năng là đối
tượng của hành động. Không có kỹ năng chung chung hay nói
cách khác, kỹ năng không phải là một hiện tượng tự thân, kỹ
năng chỉ liên quan đến hành động nhưng về nguyên tắc thì lại
khác hành động.
Thứ ba xét về kết quả hình thành, để đánh giá một cá
nhân có kỹ năng nào đó cần dựa vào các tiêu chuẩn cá nhân
phải hiểu rõ mục đích của hành động, các yếu tố để triển khai
hành động biết triển khai hành động đúng và thành thục trong


thực tiễn, một hành động còn nhiều sai sót, tốn nhiều thời
gian, sức lực chưa thể coi là hành động có kỹ năng.
Thứ tư để hình thành được hành động có kỹ năng bao
giờ cá nhân cũng phải triển khai hành động ở dạng khái quát
nhất, đầy đủ nhất đồng thời tìm ra được các quy tắc quy luật
chung có thể triển khai ở các dạng tương tự.
Trên những quan điểm của những học giả về kỹ năng
chúng tôi hiểu: Kỹ năng là sự thực hiện có hiệu quả một hành
động hay một hoạt động nào đó đạt được mục đích đề ra.

- Kỹ năng tự phục vụ
Lao động tự phục vụ là hình thức lao động nhằm thỏa


Khái niệm tương tự: “Giáo dục kỹ năng tự phục vụ là
quá trình toàn vẹn, được tổ chức có mục đích có kế hoạch,
thông qua các hoạt động và quan hệ giữa giáo viên và trẻ
nhằm truyền đạt cho trẻ những tri thức, cách thức và trẻ học
được những kinh nghiệm xã hội của loài người từ giáo viên ở
lớp”[11 tr6 ].
Nghĩa hẹp: “Giáo dục kỹ năng tự phục vụ được hiểu là
quá trình tác động của giáo viên tới trẻ nhằm để giáo dục cho
trẻ những kiến thức, kỹ năng và hành vi ứng xử phù hợp với
công việc tự phục vụ bản thân” [11 tr 6].
Tác giả Nguyễn Thị Hòa: “Giáo dục kỹ năng tự phục vụ
cho trẻ có thể hiểu là quá trình sử dụng các biện pháp khác
nhau một cách khoa học nhằm tác động tới trẻ, từ đó hình
thành ở trẻ kỹ năng tốt giúp trẻ biết tự chăm sóc bản thân,
đặc biệt là tự giác chủ động trong công việc”[12 tr 10].
Giáo dục kỹ năng tự phục vụ là một bộ phận quan trọng
của giáo dục lao động, nhằm hình thành những phẩm chất của
người lao động mới như yêu lao động, quý trọng người lao
động, giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mẫu giáo giúp trẻ


nắm được các kỹ năng đơn giản phục vụ cho sinh hoạt và
chuẩn bị sau này cho trẻ tham gia vào đời sống lao động.
Có thể hiểu: “Giáo dục kỹ năng tự phục vụ là quá trình,
do các nhà giáo dục tổ chức nhằm phát triển ở cá nhân về
một hoặc nhiều khía cạnh nào đó, được sử dụng để giải quyết
tình huống thực hiện công việc tự phục vụ cho chính bản thân
của đối tượng được giáo dục”.
Kỹ năng tự phục vụ ở trẻ Mẫu giáo là hành động của trẻ

cộng đồng là phát huy vai trò chủ đạo của nhà trường trong


sự phối hợp với các các lực lượng xã hội và gia đình nhằm
khai thác thế mạnh của các chủ thể vào hoạt động giáo dục
kỹ năng tự phục vụ cho trẻ mầm non.
Có 3 nhân tố chính trong việc giáo dục đạo đức và phẩm
chất kỹ năng phục vụ cho trẻ đó là: gia đình, nhà trường và xã
hội. Mỗi nhân tố đều mang một vai trò riêng nhất định:
+ Gia đình : là tế bào của xã hội, là nền tảng của mỗi quốc
gia và là chỗ dựa vững chắc về mặt tinh thần, đồng thời cũng
là kim chỉ nam để tránh những nhận thức lệch lạc từ phía trẻ.
+ Nhà trường : là môi trường giáo dục chuyên nghiệp,
không chỉ phát triển về kiến thức mà còn phải truyền tải cho
trẻ những giá trị chuẩn mực của xã hội để các em trở thành
những con người trí thức thật sự cố đời sống tinh thần phong
phú bên cạnh cuộc sống gia đình.
+ Xã hội : là môi trường thực tế, giúp trẻ hoàn thiện một
số kĩ năng cuộc sống, chi phối một phần rất lớn trong suy
nghĩ và hành động của học sinh.
Vì vậy, sự phối hợp của 3 nhân tố trên là việc làm hết sức
cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục nhân cách ở học
sinh. Giống như chiếc kiềng 3 chân, đơn giản, vững chắc và
không thể thiếu bất kì chân nào.


- Một số vấn đề cơ bản về giáo dục kỹ năng tự phục
vụ cho trẻ mẫu giáo.
-Một số đặc điểm tâm lý của Trẻ mẫu giáo
Đặc điểm tâm lý trẻ mầm non thường có xu hướng muốn

thể chạy, nhảy, biết dùng đôi tay để nắm chặt đồ vật, biết leo
trèo, đôi chân chạy nhảy liên tục. Các ngón tay cử động chậm
hơn so với sự vận động toàn thân.
Ở giai đoạn này, những cấu tạo tâm lý đặc trưng của con
người được hình thành và phát triển mạnh, đặc biệt là hoạt
động nhận thức của trẻ [33].
Tư duy, trí nhớ, tưởng tượng của trẻ phát triển, trong
hoạt động tư duy của trẻ mẫu giáo thường diễn ra hai kiểu tư


duy đó là tư duy trực quan hành động và tư duy trực quan
hình tượng. Một bước ngoặt rất quan trọng trong hình thành
tư duy ở trẻ mẫu giáo bé, là việc chuyển từ tư duy trực quan
hành động sang tư duy trực quan hình tượng, tuy nhiên tư duy
của trẻ mẫu giáo bé còn mang tính trực giác, chủ quan và
thiếu chính xác. Trí nhớ không chủ định tiếp tục phát triển và
chiếm ưu thế, chú ý có chủ định bắt đầu xuất hiện. Tưởng
tượng của trẻ mẫu giáo bé phong phú và sáng tạo hơn so với
lứa tuổi nhà trẻ. Ở trẻ mẫu giáo bé, tưởng tượng ban đầu còn
hạn chế, sự tái hiện kiến thức đã học mang tính thụ động.
Phạm vi tưởng tượng của trẻ hẹp, chỉ khi tham gia vào hoạt
động chủ đạo, trẻ mới có điều kiện phát triển tưởng tượng
sáng tạo.
Hoạt động nhận cảm của trẻ mẫu giáo bé phát triển
mạnh. Cảm giác tiếp tục phát triển và hoàn thiện, nó trở lên
chính xác hơn và có tính chất tự giác. Tri giác của trẻ phát
triển rất mạnh, tri giác có chủ định phát triển do hoạt động
chủ đạo quyết định. Năng lực tri giác của trẻ cũng được nâng
cao, tri giác nhìn đã phát triển mạnh thể hiện ở tính chính xác
trong việc phân biệt hình dáng và độ lớn của sự vật, tri giác sờ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status