CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG GIÁO DỤC PHẨM CHẤT
TRÁCH NHIỆM CHO HỌC SINH
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Tổng quan về nghiên cứu vấn đề
Các công trình nghiên cứu về giáo dục phẩm chất trách
nhiệm cho học sinh
Về phẩm chất
Ở phương Đông, thời cổ đại nhà giáo dục lỗi lạc Trung
Hoa - Khổng Tử (551 - 479 TCN) trong các tác phẩm của
mình rất coi trọng về vấn đề đạo đức, đặc biệt là phẩm chất,
trách nhiệm của người quân tử. Theo ông, người quân tử phải
là người có đức nhân, coi việc thực hiện “đức nhân” là lí
tưởng tối cao, có thể hy sinh thân mình để hoàn thiện điều
nhân (sát thân thành nhân) và đồng thời phải là người có đủ
phẩm chất và năng lực thi hành đạo lớn.
Ở Việt Nam, ông cha ta từ xa xưa vẫn luôn đề cao việc
giáo dục phẩm chất, đạo đức con người thể hiện trong câu
“Tiên học lễ, hậu học văn”, đây là phương châm giáo dục của
Nho gia. Song do được sử dụng trong thời gian quá dài ở cộng
đồng người Việt nên nó đã được dân gian hoá, gần gũi với
nhiều tầng lớp. Nguyên tắc giáo dục ấy chính là sự phối hợp
giữa gieo mầm, đề cao, giáo dục phẩm chất, đạo đức, truyền
dạy chữ nghĩa tri thức. Đây là lối đào tạo ưu việt mà từ ngàn
xưa ông cha ta đã đúc kết nên.
Ở phương Tây, nói về phẩm chất của con người,
Aristoste (384 -322 TCN) cho rằng thượng đế không áp đặt để
Ở Nhật Bản đạo đức được đánh giá là cơ sở nền tảng các
giá trị gia đình và giá trị văn hóa truyền thống, trong chương
trình giáo dục phổ thông được ưu tiên thực hiện hơn so với
các môn học khác. Đạo đức của người Nhật được ghi trong
chương trình quốc gia nhằm rèn luyện phẩm chất và trách
nhiệm con người đối với bản thân, gia đình, xã hội, … gồm 6
mục tiêu: Nhiệt tâm phát triển một đất nước và xã hội dân
chủ; Tinh thần tôn trọng nhân phẩm và lòng yêu quý cuộc
sống; Nhiệt tâm kế thừa, phát triển văn hóa truyền thống và
sáng tạo văn hóa giàu tính cá nhân; Ý thức đóng góp cho sự
phát triển một thế giới hòa bình; Ý thức đạo đức; Khả năng tự
quyết định một cách độc lập [2].
Các công trình nghiên cứu về QLGD phẩm chất trách
nhiệm cho học sinh
Công trình nghiên cứu khoa học của Phạm Minh Hạc và
các cộng sự: “Chiến lược phát triển toàn diện con người Việt
Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
đã phần nào cụ thể hóa được mục tiêu, hoạch định chiến lược
giáo dục toàn diện cho học sinh giáo dục trong các nhà
trường, trong đó có hệ thống các trường THCS. Thành công ở
công trình này là đã đưa ra một hệ thống giải pháp quản lý xã
hội về giáo dục. Trong đó có giải pháp “Tổ chức phong trào
thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức và lối
sống cho toàn dân trước hết là cán bộ đảng viên, cho thầy và
trò các trường học”.
Luận án tiến sĩ: “Xây dựng mô hình quản lý công tác
giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường ĐHSP trong giai
đoạn hiện nay” của Nguyễn Thị Hoàng Anh (2011) đã nghiên
quản lý việc xác định nhu cầu học tập, quản lý việc lập kế
hoạch và thiết kế giáo dục, tổ chức hoạt động giáo dục và
đánh giá kết quả giáo dục.
Tuy nhiên, luận văn nghiên cứu quản lý hoạt động
GDPCTN cho học sinh trường THCS Đông Hải - Quận Hải
An – Thành phố Hải Phòng tiếp cận quá trình CIPO. CIPO
được cấu tạo từ chữ đầu của các từ tiếng Anh: Context - Bổi
cảnh; Input - Đầu vào; Process - Quá trình; Output, Outcome Đầu ra. Mô hình quản lý giáo dục CIPO được UNESCO đưa
ra năm 2000 trong Chương trình hành động Daka để quản lý
chất lượng giáo dục trong nhà trường phổ thông. Mô hình
quản lý CIPO gồm 3 thành phần cơ bản: Đầu vào, Quá trình,
Đầu ra, và 3 thành phần này được xem xét trong một bối cảnh
nhất định, và có thể hiểu chất lượng giáo dục của một nhà
trường phổ thông là chất lượng của 3 thành phần cơ bản đó.
Chất lượng giáo dục của cơ sở giáo dục được đánh giá
qua 10 yếu tố [30]:
Học sinh khoẻ mạnh được nuôi dưỡng tốt, được khuyến
khích thường xuyên để có động cơ học tập chủ động.
Giáo viên thành thạo nghề nghiệp và được động viên
đúng mức.
Phương pháp và kỹ thuật dạy và học tích cực.
Chương trình giáo dục thích hợp với người dạy và người
học.
Trang thiết bị, phương tiện, tài liệu giáo dục phù hợp, dễ
tiếp cận và thân thiện với người sử dụng.
Môi trường giáo dục tốt.
Hệ thống đánh giá chất lượng giáo dục thích hợp.
Hệ thống quản lý giáo dục được mọi người tham gia, có
hoạt động quản lý là các tác động có định hướng có chủ đích của
chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị
quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và
đạt được mục đích của tổ chức.
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu khoa học cũng có
những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “Quản lý” tùy theo
cách tiếp cận khác nhau:
Thuật ngữ “Quản lý” (Tiếng Việt gốc Hán) lột tả được bản
chất của hoạt động này trong thực tiễn, nó bao gồm hai quá
trình tích hợp vào nhau, quá trình “Quản” gồm coi sóc, giữ gìn,
duy trì ở trạng thái “ổn định”, quá trình “Lý” gồm sự sửa sang,
sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển”. Nếu người
đứng đầu tổ chức chỉ lấy việc “Quản” làm chính thì tổ chức dễ
bị trì trệ, ngược lại nếu chỉ quan tâm đến việc “Lý” thì sự phát
triển của tổ chức không bền vững. Do vậy, người quản lý phải
luôn xác định và phối hợp tốt, trong “Quản” phải có “Lý” và
trong “Lý” phải có “Quản”, làm cho trạng thái của hệ thống
mình quản lý luôn được ở trạng thái cân bằng động. Theo quan
điểm của hai tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ
Lộc thì quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng
cách vận dụng tối đa các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ
đạo, kiểm tra” [17].
Tóm lại, có thể hiểu: Quản lý là một quá trình tác động
có định hướng, có tổ chức, có kế hoạch và hệ thống của chủ
thể quản lý đến khách thể quản lý dựa trên những thông tin về
tình trạng của đối tượng hình thành một môi trường phát huy
một cách hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của cá nhân và tổ
chức để đạt được mục tiêu đã đề ra. Bản chất của hoạt động
chung đa số các tác giả đều thống nhất ở bốn chức năng cơ
bản sau:
Lập kế hoạch: Đây là chức năng cơ bản nhất trong các
chức năng quản lý. Kế hoạch hóa bao gồm việc xây dựng mục
tiêu đối với thành tựu tương lai của tổ chức, chương trình
hành động và quyết định cách thức, phương tiện cần thiết
trong một thời gian nhất định của một hệ thống quản lý để đạt
được mục tiêu đó.
Tổ chức: Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bổ công
việc, quyền hành và nguồn lực cho các bộ phận, các thành
viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được các mục
tiêu một cách có hiệu quả. Ứng với những mục tiêu khác nhau
đòi hỏi cấu trúc tổ chức của đơn vị cũng khác nhau. Người
quản lý cần lựa chọn cấu trúc tổ chức cho phù hợp với những
mục tiêu và nguồn lực hiện có. Chức năng của tổ chức bao
gồm: lập kế hoạch, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra
Chỉ đạo: Đây là quá trình sử dụng quyền lực quản lý để
tác động đến đối tượng bị quản lý một cách có chủ đích nhằm
phát huy hết tiềm năng của họ hướng vào mục tiêu chung. Chỉ
đạo là chức năng thể hiện năng lực của người quản lý. Việc
chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau việc lập kế hoạch và cơ cấu tổ
chức đã hoàn tất, mà nó thấm vào và ảnh hưởng đến hai chức
năng kia.
Kiểm tra: Đây là chức năng quan trọng và xuyên suốt
quá trình quản lý nhằm đánh giá, phát hiện và điều chỉnh kịp
thời giúp cho tổ chức vận hành tối ưu, đạt mục tiêu đề ra.
nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục;
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo
dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm
pháp luật về giáo dục [27].
Quản lý giáo dục
Khái niệm quản lý giáo dục
Theo P.V. Khuđôminxki (nhà lý luận của Liên Xô trước
đây) thì: QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý
thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau
đến các khâu của hệ thống giáo dục nhằm mục đích bảo đảm
việc giáo dục chủ nghĩa cộng sản cho thế hệ trẻ, đảm bảo phát
triển toàn diện và hài hòa cho thế hệ trẻ.
Ở Việt Nam, QLGD cũng là một lĩnh vực được Đảng và
Nhà nước đặc biệt quan tâm. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2
Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định:
"Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản
lý tới khách thể quản lý nhằm đưa ra hoạt động sư phạm của
hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu
quả nhất" [5].
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo
nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực
lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo
yêu cầu phát triển của xã hội” [3].
Tóm lại, quản lý giáo dục là quản lý con người nên đòi
hỏi phải tuân theo những nguyên tắc giáo dục. Những nguyên
tắc giáo dục là những yêu cầu, những tiêu chuẩn, những luận
+ Xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ.
+ Tạo môi trường làm việc và phát triển đội ngũ.
Quản lý hoạt động dạy học, giáo dục và các hoạt động
khác.
Quản lý hoạt động dạy học: Chủ thể quản lý dạy học
(dạy và học) là Hiệu trưởng, các Phó hiệu trưởng, tổ trưởng
chuyên môn và các nhà giáo.
Hiệu trưởng quản lý dạy học: Thực hiện chương trình
dạy học đúng mục đích, vị trí, nội dung, phương pháp, hình
thức, thời gian của từng môn học theo quy định. Công việc
cụ thể gồm: Lập kế hoạch dạy học; Hướng dẫn những thay
đổi chương trình. Tổ chức hoạt động dạy học, Kiểm tra,
đánh giá việc thực hiện chương trình.
+ Quản lý hoạt động dạy học của giáo viên.
+ Quản lý hoạt động học của học sinh.
+ Quản lý cơ sở vật chất phục vụ dạy và học.
Tổ trưởng chuyên môn quản lý dạy học:
+ Xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch; Phân công giáo
viên, giám sát, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chương trình,
kế hoạch, hướng dẫn những thay đổi.
+ Quản lý hoạt động dạy học của giáo viên: Hướng dẫn
giáo viên xây dựng kế hoạch; giám sát, kiểm tra, đánh giá
chất lượng giờ lên lớp, kết quả học tập của học sinh; tổ chức
các chuyên đề chuyên môn.
+ Quản lý hoạt động học tập của học sinh.
+ Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy và
trình giáo dục nói riêng và mục đích của xã hội nói chung.
Nhà trường, quản lý nhà trường
Nhà trường
Có nhiều quan niệm về nhà trường, tuy nhiên ở đây chỉ
xét 2 quan điểm: Dưới quan điểm của Chủ nghĩa Duy vật biện
chứng Mac – LêNin thì nhà trường là một dạng thiết chế tổ
chức chuyên biệt và đặc thù của xã hội, được hình thành do
nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội nhằm thực hiện các
chức năng truyền thụ kinh nghiệm xã hội cho từng nhóm dân
cư nhất định trong cộng đồng xã hội. Và quan điểm của chủ
tịch Hồ Chí Minh về nhà trường ở Việt Nam. Người cho rằng
học tập ở nhà trường chính là yếu tố quyết định đến việc xây
dựng đất nước, phục vụ đắc lực cho nâng cao dân trí, đẩy lùi
giặc dốt. Tầm quan trọng của nhà trường là không thể phủ
nhận.
Như vậy, nhà trường có thể coi là một thiết chế tổ chức
chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã hội, đóng vai trò tái tạo
nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã
hội.
Đặc điểm của giáo dục nhà trường:
Mang tính tự giác và tính mục đích rõ ràng: GDNT được
tổ chức và diễn ra theo một kế hoạch đào tạo xác định. NT có
kế hoạch cụ thể cho từng môn học, từng loại hình đào tạo,…
trong khoảng thời gian hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng,
hàng năm,… cho từng lớp.
Nội dung giáo dục của nhà trường được chọn lọc một
cách khoa học cơ bản và có hệ thống.
Hoạt động giáo dục, quá trình giáo dục (giáo dục theo