y
o
c u -tr a c k
.c
B GIO DC V O TO
B T PHP
TRNG I HC LUT H NI
NGUYN THANH GIANG
Bảo đảm quyền bào chữa của ng-ời bị buộc tội
trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2018
.d o
m
o
w
w
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
Bảo đảm quyền bào chữa của ng-ời bị buộc tội
trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
LUN VN THC S LUT HC
Chuyờn ngnh : Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s
: 8 38 01 04
Ngi hng dn khoa hc: TS. V Gia Lõm
H NI - 2018
.d o
m
o
w
w
w
.d o
C
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
o
w
w
w
.d o
C
lic
k
to
bu
y
bu
to
k
lic
C
w
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
y
o
c u -tr a c k
.c
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
23
Quy định của pháp luật tố tụng hình sự để bảo đảm quyền bào chữa
của người bị buộc tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
23
2.2. Thực trạng bảo đảm, kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế và
nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong việc bảo đảm quyền
bào chữa của người bị buộc tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
43
Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA
CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ
ÁN HÌNH SỰ
58
3.1. Giải pháp lập pháp
58
3.2. Các giải pháp khác
64
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHÀO
k
lic
C
w
w
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
c u -tr a c k
.c
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS
: Bộ luật Tố tụng hình sự
HĐXX
: Hội đồng xét xử
TTHS
: Tố tụng hình sự
.d o
m
o
w
w
w
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
Thống kê số bị cáo có người bào chữa trong xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự tại Tòa án các cấp tại tỉnh Điện Biên
2.2
44
Số vụ án có người bào chữa được chỉ định trong giai đoạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự tại tỉnh Điện Biên các năm từ 2013-2017
45
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
Tên biểu đồ
Trang
biểu đồ
2.1
So sánh số lượng bị cáo có người bào chữa trong giai đoạn xét
xử sơ thẩm tại tỉnh Điện Biên các năm từ 2013-2017
44
.d o
w
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
k
to
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của mọi
người, được ghi nhận và bảo vệ bởi pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế. Ở Việt
Nam, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những giá trị bất biến về quyền con người được
ghi nhận trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị năm 1966 và những quy định về quyền công dân trong các bản Hiến
pháp trước đây, Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện rõ ràng nhất quan điểm về tôn trọng
và bảo đảm quyền con người và quyền công dân trong cả nội dung và kỹ thuật lập pháp.
Trong lĩnh vực tố tụng hình sự (TTHS), nơi mà các cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng tác động trực tiếp
đến quyền con người, quyền công dân thì những quyền này, đặc biệt là quyền của
người bị buộc tội trong đó có quyền bào chữa rất dễ bị xâm phạm. Ngày 02/01/2002,
Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW, xác định nhiệm vụ xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời gian tới đòi hỏi công tác tư
pháp phải có những chuyển biến mạnh mẽ, phấn đấu thực hiện tốt mục tiêu nghiêm
minh, công bằng, dân chủ, trong đó đưa ra những quan điểm chung và chủ trương,
giải pháp cụ thể đối với việc cải cách, đổi mới các cơ quan tư pháp. Đối với công
tác bào chữa, Nghị quyết 08-NQ/TW đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề bảo đảm
quyền bào chữa qua việc nhấn mạnh vai trò của luật sư và xác định nhiệm vụ cho
các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm tốt nhất quyền bào chữa. Phán
quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ
sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, người bào
chữa, bị cáo. Thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự những năm qua cho thấy, vẫn
còn tồn tại tình trạng oan sai, xâm hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị buộc tội trong TTHS. Báo cáo kết quả giám sát về tình hình oan, sai
w
w
w
C
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
w
N
y
bu
lic
nguyên nhân chính dẫn đến các trường hợp oan sai "Chủ yếu thuộc về lỗi chủ quan
của một số người tiến hành tố tụng (trình độ, năng lực yếu kém, trách nhiệm và đạo
đức nghề nghiệp hạn chế)…". Bên cạnh đó, một nguyên nhân khác không kém phần
quan trọng được báo cáo nêu ra, đó là: "Không cử người bào chữa cho bị can chưa
thành niên; vi phạm quy định bảo đảm quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo… gần 80% vụ án hình sự hiện nay chưa có Luật sư tham gia nên chưa bảo
đảm tranh tụng để tránh oan, sai. Sự tham gia tố tụng của người bào chữa có trường
hợp khó khăn do người tiến hành tố tụng thực hiện không đúng quy định về cấp
Giấy chứng nhận bào chữa". Bên cạnh đó, một nguyên nhân rất quan trọng nữa là
các quy định pháp luật chưa thực sự thống nhất, còn chồng chéo, mâu thuẫn. Mặc
dù Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) Việt Nam đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ
sung, tuy nhiên mới chỉ phần nào khắc phục được những hạn chế, bất cập còn tồn
tại. Theo tinh thần của khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013, người bị bắt, tạm giữ,
tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (gọi chung là người bị buộc tội) có quyền
tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa, đây là quyền đặc thù của người bị buộc
tội, giúp họ có thể bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Trên cơ sở đó,
BLTTHS năm 2015 đã quy định bảo đảm bảo quyền bào chữa của người là một
nguyên tắc cơ bản của TTHS. Đồng thời xây dựng các chế định cụ thể giúp những
nội dung của nguyên tắc này được thực hiện. Việc nghiên cứu các quy định của
BLTTHS về vấn đề bảo đảm quyền bào chữa người bị buộc tội trong TTHS từ trước
đến nay vẫn là một vấn đề được giới khoa học pháp lý hết sức quan tâm, tập trung
nghiên cứu. Đã có không ít tác giả quan tâm, nghiên cứu về quyền bào chữa, bảo đảm
quyền bào chữa của người bị buộc tội trong TTHS. Tuy nhiên, chưa có một công trình
w
w
w
w
w
C
lic
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, có khá nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến quyền
bào chữa của bị can, bị cáo trong TTHS, trong đó phần lớn hướng đến vấn đề đảm
bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo; địa vị pháp lý của bị can, bị cáo; vai trò của
luật sư bào chữa trong việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo v.v… Có thể chia các công trình nghiên cứu liên quan đến quyền bào chữa
của người bị buộc tội, mà cụ thể là bị can, bị cáo thành các nhóm sau:
- Những nghiên cứu có tính lý luận chung có liên quan như: Bảo vệ quyền
con người trong tố tụng hình sự và một số đề xuất về hoàn thiện pháp luật, Tạp chí
Luật học, số 1/2011, của Hồ Sỹ Sơn; TS. Nguyễn Văn Tuân (2015) với cuốn sách
Một số vấn đề về luật tố tụng hình sự Việt Nam; PGS.TS Nguyễn Hòa Bình (2016)
với cuốn sách Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Bài
tham luận của TS. Nguyễn Văn Tuân (2016) tại Hội thảo Những điểm mới của
BLTTHS năm 2015 do Trường Đại học Luật Hà Nội tổ chức tháng 06/2016 với tiêu
đề Những nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, v.v… Đây
điều là những nghiên cứu có tính lý luận, bao quát một cách khá toàn diện các vấn
đề cơ bản của TTHS Việt Nam, có giá trị tham khảo cao trong quá trình nghiên cứu
luận văn của tác giả.
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
y
N
O
W
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
Hoạt động bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam, của Phan Thị Thanh Mai, Tạp
chí Luật học, số 7/2015,… Các công trình nghiên cứu nêu trên đã đi sâu phân tích
các quy định của pháp luật hiện hành về quyền bào chữa, địa vị pháp lý của người
bị buộc tội, từ đó chỉ ra thực trạng thực hiện các quy định này, đồng thời đề xuất
giải pháp hoàn thiện và bảo đảm thực hiện quyền của người bị buộc tội, bao gồm cả
quyền bào chữa trên thực tế.
- Những nghiên cứu trực tiếp về quyền bào chữa của người bị buộc tội
trong giai đoạn xét xử, cụ thể là bị can, bị cáo có thể kể tới như: "Bảo đảm quyền
bào chữa của người bị buộc tội" của Phạm Hồng Hải, Nxb Công an nhân dân, năm
1999; Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự, Luận án
tiến sĩ Luật học, của Hoàng Thị Minh Sơn (2003)… Đây là những công trình nghiên
cứu đề cập trực tiếp đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo song do thời gian nghiên
cứu đã lâu, phần nào không còn đáp ứng được yêu cầu thực tiễn pháp luật về quyền
bào chữa của bị can, bị cáo. Nguyễn Huy Cường (2013): Quyền bào chữa của
lic
4
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
y
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử sơ thẩm theo quy
định của BLTTHS năm 2015. Trong bối cảnh BLTTHS năm 2015 đề cao nguyên
tắc bảo vệ quyền con người, quyền cá nhân, việc nghiên cứu đề tài "Bảo đảm quyền
bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự" là hết sức
cần thiết, phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp, đặc biệt là trong lĩnh vực TTHS.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Luận văn phải giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền bào chữa của người bị
buộc tội trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
- Làm rõ những quy định của pháp luật TTHS hiện hành về bảo đảm quyền
o
.c
lic
5
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Điện Biên nói riêng trong
khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2017. Luận văn cũng tham khảo ở mức độ
nhất định thực trạng bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự ở nước ta nói chung.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Tác giả đã sử dụng các
o
.c
lic
6
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA
CỦA NGƢỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm bảo đảm quyền bào chữa của ngƣời bị buộc tội trong
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
o
m
o
.c
lic
7
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
định người bào chữa cho họ. Mặt khác, để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được
khách quan, toàn diện và đầy đủ, không để lọt người phạm tội, không làm oan
m
w
o
m
o
.c
lic
8
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
3. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Sđd, tr. 38.
.d o
m
w
o
m
o
.c
lic
9
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
chuyển sang đến hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm.
Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội đã được quy định trong
Hiến pháp và được cụ thể hóa thành nguyên tắc cơ bản của TTHS (Điều 16
BLTTHS năm 2015). Nguyên tắc này quy định người bị buộc tội (gồm người bị bắt,
4. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Sđd, tr. 38.
.d o
m
w
o
m
o
.c
lic
10
lic
C
c u -tr a c k
w
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
cáo tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.
- Quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng phải giải thích cho người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo về quyền bào
chữa, tạo điều kiện cho bị can, bị cáo nhờ người bào chữa, yêu cầu cử người bào
chữa trong trường hợp quy định.
- Quy định cụ thể về địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
trong quá trình tham gia tố tụng. Yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật, tôn trọng và tạo điều kiện để
người bào chữa thực hiện quyền tố tụng, trong đó "các cơ quan tư pháp có trách
.d o
m
w
o
m
o
.c
lic
11
lic
C
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
12
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
y
N
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
điểm chính trị của giới lãnh đạo của nhà nước đó về vấn đề quyền con người trong
TTHS, đặc biệt là bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội. Trong tiến trình
cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,
Đảng ta rất chú trọng đến việc tăng cường tranh tụng dân chủ trong TTHS và tăng
cường hoạt động bào chữa. Hoạt động bào chữa đáp ứng yêu cầu của Nhà nước
pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhà nước pháp quyền đòi hỏi
phải bảo đảm tôn trọng pháp luật, tạo được ý thức coi trọng pháp luật, chống lại sự
tùy tiện của những người có quyền, xác định đúng đắn trách nhiệm qua lại giữa Nhà
nước và công dân và việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được
coi là yêu cầu trung tâm của nội dung của nhà nước pháp quyền. Nhà nước có trách
nhiệm tạo khung pháp lý và những điều kiện cần thiết khác để người bị buộc tội và
người bào chữa của họ thực hiện hoạt động bào chữa hiệu quả, phù hợp với yêu cầu
.c
lic
13
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
vô tội, qua đó bảo đảm công bằng xã hội. Có thể nói, quyền bào chữa là cơ sở quan
trọng mà pháp luật trao cho người bị buộc tội, giúp họ bảo vệ một cách tốt nhất
quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đồng thời, trách nhiệm bảo đảm thực hiện
quyền bào chữa thuộc về phía các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng. Điều này đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải
luôn tuân thủ các quy định pháp luật về bảo đảm quyền bào chữa cho người bị buộc
tội, có tác dụng hạn chế sự lạm quyền và vi phạm pháp luật của cơ quan, người tiến
hành tố tụng. Làm được điều này, hiệu lực pháp luật sẽ được củng cố, pháp chế xã
m
o
.c
lic
14
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
w
N
y
bu
k
to
Trên cơ sở quy định đầy đủ quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai
đoạn xét xử vụ án hình sự, BLTTHS sẽ tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho bị can, bị
cáo khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS, giúp họ bảo vệ được quyền lợi hợp
pháp của mình. Đồng thời, việc quy định quyền bào chữa của người bị buộc tội
C
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt
hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh". BLTTHS năm 2015 cũng quy định:
"Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can,
bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội".
Quy định của Hiến pháp năm 2013, tinh thần của nguyên tắc quy đoán vô
tội đã được thể hiện rõ tại khoản 1 Điều 31: "Người bị buộc tội được coi là không
có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật". Cụ thể hóa tinh thần Hiến pháp năm 2013, Điều 13
BLTTHS năm 2015 lần đầu tiên quy định nguyên tắc suy đoán vô tội: "Người bị
buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục
do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình
tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội".
Bộ luật TTHS năm 2015 là văn bản pháp lý đầu tiên ghi nhận chính thức
nguyên tắc suy đoán vô tội. Quy định như trên nhằm bảo đảm phù hợp với Công
ước của Liên hợp quốc về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam là
thành viên. Nguyên tắc này có mối quan hệ mật thiết với nguyên tắc bảo đảm quyền
bào chữa, cũng như bảo đảm quyền của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo được
trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính
mình hoặc buộc phải nhận mình có tội. Quy định này giúp bảo đảm các quyền của
người bị buộc tội trong đó có quyền bào chữa, đồng thời cũng làm cho trách nhiệm
của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được nâng lên.
Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong xét xử sơ thẩm có
quan hệ chặt chẽ với quyền được suy đoán vô tội. Bởi vì, nếu đã bị coi là có tội
ngay từ khi chưa xét xử thì việc thực hiện quyền bào chữa của người bị buộc tội chỉ
còn là hình thức. Ngoài việc bảo đảm cho người bị buộc tội tự bào chữa bằng việc
tạo điều kiện thuận lợi để họ thực hiện các quyền luật định như đưa ra chứng cứ, tài
liệu, đồ vật, yêu cầu… để chứng minh sự vô tội, giảm nhẹ tội thì việc bảo đảm
w
C
lic
k
to
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
bu
k
to
thuận lợi cho việc tham gia tố tụng của người bào chữa là vô cùng cần thiết. Bởi vì,
người bào chữa là người được đào tạo chuyên nghiệp về nghiệp vụ bảo vệ các
quyền và lợi ích chính đáng của bị can, bị cáo. Sự có mặt của người bào chữa trong
giai đoạn xét xử, nhất là tại phiên tòa nhằm đưa ra các luận cứ chứng minh sự vô tội
của bị cáo hoặc đưa ra các lập luận bác bỏ quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh
cũng như các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát buộc tội.
Đảm bảo quyền bào chữa là cơ sở quan trọng để bảo vệ quyền con người trong đó
có quyền được "suy đoán vô tội". Vì vậy, trong giai đoạn xét xử Tòa án có trách
nhiệm bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo bao gồm quyền tự bào chữa hoặc
nhờ luật sư, người khác bào chữa hoặc yêu cầu chỉ định người bào cho bị can, bị
cáo theo quy định của pháp luật tố tụng. Muốn bảo đảm quyền bào chữa cho bị can,
bị cáo, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đòi hỏi Thẩm phán khi nghiên cứu hồ sơ, Hội
đồng xét xử (HĐXX) khi xét xử vụ án tại phiên tòa phải quán triệt đầy đủ nội dung
của nguyên tắc "suy đoán vô tội" để tránh bỏ qua các cơ hội để bị can, bị cáo gỡ tội
hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của họ.
1.3.2. Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong mối quan hệ
với quyền được chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ tội
Xác định sự thật khách quan là mục đích của quá trình giải quyết vụ án hình
sự, là một nguyên tắc cơ bản xuyên suốt các giai đoạn TTHS. Theo quy định tại
Điều 15 BLTTHS 2015 thì "Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải
chứng minh mình là vô tội.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án
một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
Trên nền tảng nguyên tắc Hiến định, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung nguyên
tắc "Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm" (Điều 26). Đây là căn cứ pháp lý quan
trọng để đảm bảo quyền bào chữa, thể hiện cụ thể ở các nội dung sau: "Trong quá
trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có
thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc, người bào chữa và người tham gia tố
tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ,
đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án Tài liệu, chứng cứ trong hồ
sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp .
.d o
m
w
o
m
o
.c
lic
18
lic
C
c u -tr a c k
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
19
lic
C
c u -tr a c k
w
w
.d o
w
w
w
C
k
to
bu
y
N
F-
c u -tr a c k
.c