1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm mũi dị ứng (VMDƯ) là một trong những bệnh rất thường gặp của
đường hô hấp. Hiện nay, VMDƯ đang ngày một gia tăng cả ở các nước phát
triển và đang phát triển (10 - 15% dân số) [1]. Mặc dù VMDƯ không phải là
bệnh lý gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng nó làm ảnh hưởng nhiều đến
chất lượng cuộc sống. Người bệnh thường xuyên bị mệt mỏi, đau đầu, mất tập
trung, mất ngủ dẫn đến giảm khả năng học tập và lao động. Nếu không điều
trị, bệnh có thể dẫn đến các biến chứng như hen phế quản, viêm xoang, polyp
mũi, viêm họng, viêm tai thanh dịch…. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
bệnh dị ứng đã tăng gấp đôi trong hơn 20 năm qua làm ảnh hưởng đến khoảng
500 triệu bệnh nhân trên toàn thế giới [2]. Chi phí hàng năm của VMDƯ ước
tính gần từ 2-5 tỷ đô la Mỹ theo giá trị năm 2003 [3].
Tại Việt Nam, theo thống kê của Tổ chức nghiên cứu Quốc tế về hen và
dị ứng trẻ em ở Hà Nội và TPHCM cho thấy, tỷ lệ học sinh tại Hà Nội mắc
bệnh là 34,9% và tại TPHCM là 41,5%. Khoảng 20% dân số cả nước đang
phải sống chung với căn bệnh này. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, tỷ lệ dị
ứng và VMDƯ ở độ tuổi lao động (từ 20 đến 59) chiếm tới 41%; tuổi học
đường (6 đến 19) là 36%; hậu quả là làm mất 2 triệu ngày đến trường hàng
năm và mất 6 triệu ngày làm việc [4],[5],[6].
Hiện nay, điều trị bệnh VMDƯ theo hướng điều trị miễn dịch đặc hiệu
(specific immunotherapy- SIT) bao gồm điều trị miễn dịch đặc hiệu đường
dưới lưỡi (SLIT) và điều trị miễn dịch đặc hiệu đường tiêm dưới da (SCIT) là
những phương pháp điều trị đang được áp dụng làm thay đổi sự phát triển tự
nhiên của bệnh dị ứng [7],[8],[9],[10]. Điều trị miễn dịch đặc hiệu đường tiêm
dưới da (SCIT) tuy mang lại hiệu quả nhưng không thuận tiện, đặc biệt là đối
với trẻ em. Điều trị bằng phương pháp này đòi hỏi bệnh nhân phải tuân thủ
phác đồ và lịch trình điều trị, bệnh nhân phải tiêm thuốc tại cơ sở y tế và theo
3
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. DỊCH TỄ HỌC BỆNH VMDƯ
1.1.1. Lịch sử nghiên cứu, khái niệm, phân loại bệnh VMDƯ
1.1.1.1. Lịch sử nghiên cứu bệnh VMDƯ
Năm 1565, Leonardo Botallo, một bác sĩ nổi tiếng người Pháp trở thành
người châu Âu đầu tiên mô tả các triệu chứng dị ứng theo mùa. Ông mô tả
một tập hợp các triệu chứng nhức đầu, hắt hơi và ngứa mũi, trong số đó phát
hiện có sự hiện diện của hoa hồng. Ông gọi hiện tượng dị ứng này là “viêm
long hoa hồng” (rose catarrh). Các triệu chứng ở mũi như là một phản ứng với
hoa hồng đã được nhắc lại bởi các nhà khoa học trong suốt thế kỷ thứ mười
sáu. Tuy nhiên, hoa hồng bị đổ lỗi vì sự dễ thấy của họ. Các chất gây dị ứng
thực tế là cây bị ô nhiễm, cỏ và cỏ dại bây giờ được biết là có liên quan đến dị
ứng theo mùa [19].
Năm 1600, bác sĩ người Bỉ là Jan Baptista van Helmont mô tả "hen
suyễn mùa hè", đây là một bước tiến mới để nhận ra dị ứng theo mùa.
Năm 1700, VMDƯ theo mùa như hiện nay được biết đến. Thuật ngữ "sốt
cỏ khô" thay thế "hoa hồng lạnh". Các bác sĩ tin rằng dị ứng theo mùa là một
căn bệnh quý tộc bởi vì nó được chẩn đoán phổ biến nhất trong số các tầng
lớp thượng lưu [19].
Bệnh VMDƯ lần đầu tiên được mô tả chi tiết nhất bởi Bostock ở bệnh viện
Guy, London vào tháng 3 năm 1819 mà người ta hay gọi là viêm mũi mùa
(Hayfever) và sau này khi tìm được nguyên nhân được gọi là sốt cỏ khô [20].
Năm 1872, Morryill Wyman ở trường Y khoa Harvard phát hiện ra phấn
hoa cỏ lưỡi chó là nguyên nhân gây bệnh sốt mùa nên bệnh còn có tên là sốt
cỏ khô. Đây là bệnh VMDƯ theo mùa có căn nguyên là phấn hoa [20].
5
nghiên cứu về VMDƯ của các tác giả Nguyễn Năng An, Nguyễn Văn Hướng, Vũ
Minh Thục, Phan Quang Đoàn, Phạm Văn Thức, Trịnh Mạnh Hùng, ... đã góp
phần làm rõ thêm về nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, đưa ra các phương pháp
chẩn đoán và điều trị trong đó có điều trị bằng MDĐH [22], [23], [24], [25], [26].
1.1.1.2. Khái niệm bệnh VMDƯ
VMDƯ là tình trạng viêm niêm mạc mũi biểu hiện bởi các triệu chứng
chảy mũi, hắt hơi, tắc mũi, ngứa mũi do phản ứng viêm qua trung gian IgE
gây ra khi tiếp xúc với dị nguyên. Các triệu chứng có thể mất đi tự nhiên hoặc
do điều trị, thường kèm theo tình trạng viêm kết mạc dị ứng đặc trưng bởi
ngứa, chảy nước mắt, đỏ mắt, thậm chí sưng nề mắt (theo ARIA 2008) .
1.1.1.3. Phân loại VMDƯ
VMDƯ theo mùa (seasonal allergic rhinitis) hoặc sốt cỏ khô (hay fever):
liên quan tới nhiều dị nguyên khác nhau như phấn hoa hoặc các bào tử nấm.
VMDƯ quanh năm (perennial allergic rhinitis): thường xuyên gây nên bởi
các dị nguyên trong nhà như mạt bụi, các loại côn trùng, lông da động vật…
VMDƯ nghề nghiệp (occupational allergic rhinitis): VMDƯ do tiếp xúc
với một chất hoặc nhiều tác nhân tại nơi làm việc như những công nhân nhà
máy dệt len, sản xuất sợi bông.
Tuy nhiên, việc chia ra như vậy chưa được hoàn toàn thỏa đáng vì:
Chẩn đoán phân biệt giữa các triệu chứng VMDƯ theo mùa và VMDƯ
quanh năm thường là rất khó.
Tiếp xúc với một số loại dị nguyên trước đó từ lâu.
Tiếp xúc với một số loại dị nguyên quanh năm không phải cố định trong
suốt thời gian một năm.
Vấn đề quan trọng nhất hiện nay các bệnh nhân đã bị dị ứng với các
phấn hoa và các dị nguyên quanh năm.
Viêm mũi gián đoạn (intermittent)
VMDƯ dai dẳng (persistent)
- Dưới 4 ngày / tuần
- Trên 4 ngày/ tuần
-
- Hoặc trên 4 tuần/ năm
Hoặc dưới 4 tuần / năm
Nhẹ:
Trung bình - nặng:
Giấc ngủ bình thường và:
-
Không ảnh hưởng hoạt động bình
thường hàng ngày, thể thao, giải trí.
- Làm việc và học tập bình thường.
- Không có triệu chứng khó chịu.
Một hay nhiều triệu chứng
sau:
- Mất ngủ.
hấp. Hiện nay, VMDƯ có xu hướng ngày một gia tăng cả ở các nước phát triển
và đang phát triển. Đây cũng là nguyên nhân làm giảm chất lượng cuộc sống
của người bệnh, tăng thời gian nghỉ học của học sinh, làm tăng chi phí cho nền
y tế. Tỷ lệ VMDƯ có thể khác nhau tuỳ theo từng nghiên cứu: tác giả Vũ
Trung Kiên cho thấy tỷ lệ VMDƯ chung là 23,6% còn tỷ lệ VMDƯ ở lứa tuổi
học sinh phổ thông trung học chiếm 19,3%, còn theo Nguyễn Ngọc Chức và
cộng sự nghiên cứu tại Thái Bình năm 2007 cho biết tỷ lệ VMDƯ thấp hơn tại
thành phố Cần Thơ trong đó trẻ em từ 13 - 14 tuổi chiếm 5,7%, tỷ lệ này thấp
hơn so với các thành phố khác trong cả nước .
1.1.3. Tình hình mắc bệnh VMDƯ theo tuổi và giới
1.1.3.1. Đặc điểm VMDƯ theo độ tuổi
VMDƯ có thể gặp ở mọi lứa tuổi khác nhau, theo tác giả Vũ Trung
Kiên, Vũ Minh Thục thực hiện nghiên cứu tại Thái Bình cho thấy có 23,0%
học sinh bị VMDƯ được phát hiện qua khám lâm sàng, trong đó nhóm tuổi 11
tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 18,5%, thấp nhất là nhóm tuổi 13 tuổi chiếm
17,4%. Tỷ lệ học sinh VMDƯ ở Hải Phòng là 24,0%, trong đó nhóm 11 tuổi
chiếm tỷ lệ cao nhất 37,0%, thấp nhất là nhóm 13 tuổi chiếm 19,3% (p< 0,01)
. Kết quả này tương tự với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Chức và
9
cộng sự và nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hải, Phạm Thị Minh Hồng cũng
cho thấy không thấy sự khác biệt về lứa tuổi trong VMDƯ trẻ em . Như vậy
tỷ lệ VMDƯ có xu hướng giảm dần theo lứa tuổi đặc biệt ở nhóm trẻ từ 12
-14 là nhóm học sinh THCS bắt đầu dậy thì, do đó yếu tố nội tiết cũng là một
trong những nguyên nhân gây nên bệnh VMDƯ.
1.1.3.2. Đặc điểm VMDƯ theo giới tính
VMDƯ xảy ra ở cả hai giới, một số nghiên cứu trên thế giới và Việt
Nam ở người lớn không thấy có sự khác biệt giữa tỷ lệ nam - nữ . Tuy nhiên
viêm kết mạc, viêm mũi mạn tính và mày đay cũng hay gặp trong tiền sử dị
ứng cá nhân và có yếu tố cơ địa dị ứng trong tiền sử bệnh phù hợp với
nghiên cứu của nhiều tác giả khác ,.
1.1.4.2. Tiền sử gia đình
11
VMDƯ là bệnh của hệ thống miễn dịch có tính chất di truyền do vậy
việc phát hiện tiền sử dị ứng gia đình có ý nghĩa rất quan trọng là điều kiện
cần thiết để hướng tới việc chẩn đoán xác định bệnh dị ứng. Tuy nhiên, nhiều
bác sĩ lâm sàng chưa thực sự quan tâm và khai thác triệt để tiền sử mắc bệnh
của từng thành viên trong các gia đình nên độ tin cậy không cao. Dị ứng là do
di truyền kết hợp với phơi nhiễm hay tiếp xúc với các dị nguyên, cho nên dù
có tiền sử dị ứng gia đình rõ, nhưng bệnh dị ứng của cá nhân có xảy ra hay
không và ở mức độ nào thì còn phải phụ thuộc nhiều yếu tố. VMDƯ là một
bệnh do rối loạn đáp ứng miễn dịch của cơ thể khi tiếp xúc với dị nguyên có
trong môi trường sống, sự rối loạn này thể hiện ở các mức độ khác nhau và ở
các vị trí khác nhau trong cơ thể. Như vậy, khi cơ thể mẫn cảm tiếp nhận đầy
đủ lượng dị nguyên gây kích thích sẽ gây bệnh. Vì vậy, song song với khai
thác tiền sử gia đình thì khai thác tiền sử dị ứng cá nhân là việc rất quan trọng
đặc biệt là với các bệnh dị ứng có tính chất nghề nghiệp. Nếu đã có cơ địa dị
ứng với bụi trong sản xuất như bụi lông vũ, bụi bông, hoặc với nhiều loại bụi
khác thì sẽ có khả năng mắc bệnh nặng hơn khi làm việc ở môi trường có các
tác nhân này , .
Các kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố gen di truyền đóng vai trò quan
trọng đối với bệnh dị ứng nói chung và VMDƯ nói riêng. Có khoảng 70% các
cặp song sinh cùng trứng bị các bệnh dị ứng chung, 40% các cặp song sinh khác
trứng có cùng 1 loại dị ứng. Nghiên cứu của Vazquez Nava trên 58 bệnh nhân
VMDƯ cho thấy 56,8% số bệnh nhân có tiền sử dị ứng gia đình . Theo P.B
vệ sinh mũi thật tốt để tránh biến chứng. Khi đã có biến chứng VMDƯ, bệnh
nhân cần phải phẫu thuật để chỉnh lại phần vách ngăn mũi.
Viêm tai giữa (VTG) cấp tính là bệnh rất hay gặp ở trẻ em. Nguyên nhân
chủ yếu do bệnh ở mũi họng, trong đó có cả nguyên nhân do VMDƯ. Nếu
được điều trị sớm và đúng cách, bệnh sẽ khỏi vã không có biến chứng. Tỷ lệ
13
VTG: từ 5% đến 6% (tổng số dân) VTG có thể ảnh hưởng sức nghe. Bệnh có
thể gây những biến chứng nguy hiểm tính mạng. VTG không lây lan, nhưng
ARI (nhiễm khuẩn đường hô hấp trên), vấn đề dinh dưỡng, vệ sinh cá nhân,
môi trường...có thể ảnh hướng đến VMDƯ. Bệnh có nhiều dạng lâm sàng
khác nhau tuỳ: tuổi, thể trạng, nguyên nhân, tổn thương, tiến triển... , [33].
Chảy máu mũi là tai biến thường gặp trong sinh hoạt hằng ngày, bao
gồm tất cả các trường hợp máu chảy từ mũi ra ngoài hoặc xuống họng. Chảy
máu mũi không phải là một bệnh, mà là triệu chứng của nhiều bệnh do nhiều
nguyên nhân gây nên, trong đó có viêm mũi. Khoảng 60% trên tổng số người
trưởng thành có ít nhất một lần chảy máu mũi, nhưng chỉ khoảng 6% đến bác
sĩ. Chảy máu mũi hay gặp ở mùa khô do độ ẩm không khí giảm, có ảnh hưởng
đến sinh lý niêm mạc mũi .
14
1.2. SINH LÝ BỆNH HỌC VMDƯ
1.2.1. Đáp ứng miễn dịch trong VMDƯ
VMDƯ là bệnh lí do rối loạn đáp ứng miễn dịch của cơ thể với nhiều
yếu tố của môi trường sống xảy ra tại mũi. Sự kết hợp giữa các yếu tố nội sinh
hoạt động của các tế bào.
Năm 1986, Mosmann và CS thấy sự tồn tại của 2 dưới nhóm tế bào
lympho T là Th1, Th2 và hoạt động của chúng qua các cytokin chúng tiết ra.
Ở người bình thường, lympho T (CD4+Th0) hoạt hoá thành lympho T
(CD4+Th1). Ở người có cơ địa dị ứng, dưới tác động của dị nguyên, đáp ứng
miễn dịch thiên về tạo thành Th2 [45], [46]. Trong bệnh lý VMDƯ, vai trò của
IgE đã được nghiên cứu từ lâu và ngày nay càng được tìm hiểu kỹ hơn về tính
đặc hiệu cũng như việc sản xuất IgE tại mũi .
1.2.2. Cơ chế của VMDƯ
- Giai đoạn mẫn cảm: Dị nguyên lần đầu tiên xâm nhập vào cơ thể
mẫn cảm tạo ra các IgE đặc hiệu với dị nguyên. Giai đoạn này chưa có biểu
hiện triệu chứng lâm sàng .
Hình 1.1: Sinh lý bệnh của VMDƯ
16
- Giai đoạn tức thì: xảy ra trong 10 -15 phút khi cơ thể tiếp xúc lại với
dị nguyên đã mẫn cảm. Các triệu chứng hắt hơi, chảy mũi, ngạt mũi là do
kết quả gắn kết giữa IgE và dị nguyên làm hoạt hoá tế bào mast ở niêm mạc
mũi. Các chất trung gian hoá học giải phóng ra từ các hạt trong tế bào như
histamin, tryptase. Các chất trung gian mới hình thành có nguồn gốc từ
màng tế bào như leucotrien (LTB4, LTC4), prostaglandin. Các chất trung
gian có nguồn gốc từ lipid như yếu tố hoạt hoá tiểu cầu cũng xuất hiện. Đặc
tính sinh học của tất cả các chất này là gây dãn mạch, tăng tính thấm thành
mạch dẫn đến ngạt mũi. Các tuyến nhầy mũi tăng tiết. Các dây thần kinh
hướng tâm bị kích thích làm ngứa mũi, hắt hơi. Các chất trung gian (đặc biệt
là histamin) kích thích sợi thần kinh hướng tâm và sợi trục giải phóng các
neuropeptit tại chỗ (chất P và tachykinin). Những chất này lại kích thích tế
được gọi là tế bào Th2, giải phóng cytokine, đặc biệt là interleukin IL-4 và
IL-13, chúng thúc đẩy quá trình tạo ra kháng thể IgE đặc hiệu cho dị nguyên
này. Quá trình chung này được gọi là hiện tượng mẫn cảm (sensitizing
phenomenon). Khi bệnh nhân bị mẫn cảm, nếu tiếp xúc lại với dị nguyên sẽ
tạo ra dị nguyên liên kết với IgE để khởi phát một loạt các quá trình mà kết
quả là tạo ra các triệu chứng của VMDƯ. Đáp ứng miễn dịch này được chia
làm 2 pha: Pha sớm và pha muộn.
Pha sớm hoặc tức thì, đáp ứng bắt đầu trong vài phút sau khi tiếp xúc với
dị nguyên. Dị nguyên được hít vào, đưa lên niêm mạc và liên kết với IgE gây
ra sự mất hạt tế bào mast. Tế bào mast giải phóng một số các chất trung gian
tổng hợp từ trước và mới hình thành để dẫn tới các triệu chứng đặc trưng của
VMDƯ. Các chất trung gian được hình thành từ trước giải phóng ra bao gồm
histamine, tryptase, chymase và kininogenase.
Các chất trung gian mới được hình thành bao gồm prostaglandin D 2,
cytokine, leukotrienes C4, D4 và E4. Ngoài gây ra các triệu chứng trực tiếp,
các chất trung gian đồng thời cũng tham gia huy động các tế bào viêm vào
18
trong niêm mạc mũi, thiết lập nên đáp ứng pha muộn.
Các tuyến nhầy được kích thích để tiết ra các dẫn xuất và các hợp chất
mà làm giãn nở hệ tĩnh mạch mũi, dẫn tới làm đầy các tĩnh mạch hình sin và
tắc mũi. Các chất trung gian đồng thời cũng kích thích các dây thần kinh cảm
giác, tạo ra triệu chứng ngứa mũi.
Các tế bào B sản xuất IgE đặc hiệu dị nguyên. IgE đặc hiệu dị nguyên
liên kết với các tế bào mast ở niêm mạc mũi. Dị nguyên hít vào liên kết với
IgE đặc hiệu trên các mastocyst, gây ra giải phóng các chất trung gian tế bào.
Các chất trung gian này tạo ra (1) các triệu chứng pha sớm (chảy mũi, hắt hơi,
ngứa, và tắc mũi) và (2) tập trung các tế bào eosinophil, basophils và
1.3.1. Đặc điểm lâm sàng
1.3.1.1. Các triệu chứng cơ năng
Khai thác kỹ lưỡng tiền sử bệnh là căn cứ để phân biệt đây là một
VMDƯ thực sự hay chỉ là đợt cấp của viêm mũi do lạnh hoặc do căn nguyên
khác . Triệu chứng điển hình của VMDƯ quanh năm là tắc ngạt mũi, các triệu
chứng hắt hơi thành tràng, chảy mũi và ngứa mũi đi kèm theo nhưng không
nổi trội như trong VMDƯ theo mùa (do phấn hoa). VMDƯ quanh năm nhất
thiết phải có từ hai triệu chứng trở lên (trong số các triệu chứng hắt hơi, ngứa
mũi, chảy mũi, ngạt mũi), biểu hiện hơn một giờ mỗi ngày ngoài đợt nhiễm vi
rút, 100% số bệnh nhân đều có tam chứng hắt hơi, chảy mũi, ngạt mũi .
Các triệu chứng ngạt mũi, chảy mũi, hắt hơi, ngứa mũi là do cơ chế bệnh
sinh của VMDƯ quanh năm đó được chứng minh rõ ràng. VMDƯ gồm 2 pha:
pha nhanh (15 - 20 phút) và pha chậm (2 - 48 giờ). Pha nhanh xảy ra do hoạt
động của các chất trung gian hoá học (chủ yếu là histamin) giải phóng từ sự
thoát hạt của các tế bào mast có gắn dị nguyên và IgE trên bề mặt. Kết quả
của hiện tượng đó là xuất hiện các triệu chứng hắt hơi, ngứa mũi, ngạt mũi,
chảy mũi. Pha chậm của đáp ứng dị ứng là do sự thâm nhiễm các tế bào viêm
20
như eosinphil, basophil...tại niêm mạc mũi [31],
Các tế bào này giải phóng ra kinin, leucotrien, histamin và một loạt các
chất trung gian khác khiến cho triệu chứng viêm thêm dai dẳng. Sự thâm
nhiễm các tế bào trên vào biểu mô mũi từ máu tuần hoàn là do các phân tử kết
dính VCAM-1, E-selectin xuất hiện ở nội mô thành mạch được điều tiết bởi
cytokin. Phản xạ thần kinh đóng một vai trò trong đáp ứng dị ứng bằng chất
trung gian dẫn truyền thần kinh và một phần hoạt hóa lymphoT
Tắc ngạt mũi là do viêm dị ứng gây giãn mạch phù nề và bị ảnh hưởng
bởi tư thế do yếu tố thần kinh phó giao cảm tại mũi hoặc bị nặng hơn do yếu
- Ho
- Đau đầu.
- Mệt mỏi hoặc kích thích.
- Nhận thức giảm, tư duy chậm chạp.
1.3.1.2. Các triệu chứng thực thể
Tình trạng niêm mạc mũi:
- Niêm mạc mũi nhợt nhạt.
- Cuốn mũi phù nề, nhất là cuốn dưới. Đây là nguyên nhân gây tắc mũi.
- Nhiều dịch xuất tiết nhầy trong.
Nhiều nghiên cứu cho thấy hầu hết các bệnh nhân đều có tình trạng
niêm mạc phù nề ở các mức độ, không có bệnh nhân nào có tình trạng niêm
mạc mũi bình thường [33].
Tình trạng cuốn mũi dưới:
Bệnh nhân thường có cuốn mũi dưới quá phát, trong đó chủ yếu ở mức
độ quá phát nhẹ [35]. Sự quá phát, thoái hóa của niêm mạc cuốn mũi không
nằm trong bệnh cảnh của phản ứng dị ứng (kiểu reagin) tại mũi mà được
coi là hậu quả chung của một quá trình bệnh lý kéo dài tại đây. Do sự thiếu
hiểu biết về thuốc co mạch (bệnh nhân thường tự nhỏ mũi các loại thuốc co
mạch trong một thời gian dài mà không hề có sự hướng dẫn của bác sĩ, đã
22
gây ra sự tổn thương niêm mạc mũi rất khó hồi phục, còn gọi là viêm mũi
do thuốc. Nhận định này cũng phù hợp với nhiều tác giả khác như: Phạm
Văn Thức , Vũ Minh Thục , Nguyễn Trọng Tài , Calderon và cộng sự .
Niêm mạc mũi nhợt
Quá phát cuốn dưới mũi phải
được coi là đáp ứng miễn dịch dương tính.
Test lẩy da đang có xu hướng thay thế các test da khác vì có độ đặc hiệu
cao và dễ thực hiện. Tiến hành test lẩy da, rất hiếm gặp một tai biến nhỏ nào
xảy ra bởi vì đây là phương pháp chẩn đoán đặc hiệu vừa có độ an toàn, đơn
giản, vừa có độ chính xác cao [32].
b. Test kích thích mũi
Test kích thích mũi là phương pháp rất nhạy cảm và có giá trị trong chẩn
đoán dị ứng đặc hiệu. Tuy nhiên, đối với bệnh viêm mũi mạn tính, phương
pháp này dùng nhiều trong nghiên cứu hoặc để chẩn đoán bệnh dị ứng nghề
nghiệp hơn là sử dụng trong thực hành lâm sàng hàng ngày.
Đa số các tác giả đều cho rằng nếu test kích thích mũi làm đúng qui cách
sẽ cho kết quả tuyệt vời và phù hợp với test lẩy da. Test kích thích mũi là đưa
dị nguyên vào mũi rồi phân tích một cách khách quan các hậu quả xẩy ra qua
sự quan sát và các phép đo.
Ghi chép các phản ứng của niêm nhầy mũi như hắt hơi từng tràng, chảy
24
mũi, ngạt mũi khi có dị nguyên cho thấy sự có mặt của các kháng thể dị ứng
làm thay đổi niêm dịch mũi. Nghiên cứu đánh giá các chỉ số lâm sàng là
phương pháp đơn giản nhất của test kích thích mũi nhưng ít khách quan hơn
vì các biểu hiện đó có thể gặp khi không có sự kích thích của dị nguyên và chỉ
xuất hiện trong vài phút.
BN viêm mũi nói chung dễ xuất hiện các triệu chứng khi có thay đổi về
nhiệt độ, độ ẩm, chất kích thích và tâm sinh lý. Tất cả các yếu tố này kích
thích cơ chế không đặc hiệu gây hắt hơi, chảy mũi, ngạt mũi. Điều kiện thực
hiện test càng chặt chẽ càng loại bớt các kích thích không đặc hiệu này.
Để đảm bảo tính khách quan và giá trị của test kích thích mũi, điều kiện
trước khi thử test phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Hình 1.3: Các yếu tố môi trường và di truyền liên quan đáp ứng IgE
với dị nguyên
* Nguồn: theo Richard F. Lockey, Dennis K.Ledford (2008)
IgE gắn liền với bệnh lý VMDƯ và là cơ sở cho việc chẩn đoán và điều
trị đặc hiệu căn bệnh này.
* Sự sản xuất IgE ở:
Sản xuất IgE ở người mang tính cơ địa và di truyền rõ rệt, nó tùy thuộc