Nghiên cứu tình trạng rối loạn thăng bằng và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân COPD cao tuổi giai đoạn ổn định - Pdf 56

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là bệnh thường gặp có thể dự
phòng và điều trị được, đặc trưng bởi tắc nghẽn đường thở tiến triển ngày
càng nặng dần liên quan đến phản ứng viêm bất thường của đường thở và nhu
mô phổi bởi các phần tử và khí độc hại [4]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO), dự báo đến năm 2020 COPD chiếm tỷ lệ 4,5 – 7% dân số, và sẽ tăng
lên vị trí thứ 3 trong số các bệnh mạn tính có nguy cơ tử vong cao sau bệnh
tim mạch, bệnh ung bướu và làm gia tăng đáng kể gánh nặng về kinh tế và xã
hội [2]. Ở Việt Nam, theo điều tra của Đinh Ngọc Sỹ (2011), tỷ lệ mắc bệnh
COPD toàn quốc có tỷ lệ 4,2% trong dân số [3]. COPD ở người cao tuổi
không những phải đối mặt với các nguy cơ suy hô hấp mạn tính, suy dinh
dưỡng, loạn dưỡng mà còn nguy cơ rối loạn thăng bằng dẫn tới té ngã, đặc
biệt là bệnh nhân COPD ở đợt cấp. Rối loạn thăng bằng là vấn đề sức khỏe
quan trọng ảnh hưởng lớn tới sinh hoạt ở người cao tuổi, dẫn tới người cao
tuổi dễ bị ngã làm gia tăng gánh nặng ở người cao tuổi.
Thăng bằng của cơ thể là khả năng của cơ thể để duy trì sự ổn định khi
di chuyển hoặc không di chuyển, do vậy thăng bằng là một trong những chức
năng quan trọng nhất của cơ thể [5]. Theo Alexandru Florian (2015) rối loạn
thăng bằng gây ngã ở người trên 65 tuổi có tỷ lệ 30-50 % một lần mỗi năm
[4]. Theo Tinetti et al 1988, nghiên cứu ở cộng đồng ở đối tượng người cao
tuổi không có nguy cơ rối loạn thăng bằng thì ngã chỉ chiếm 8%, nhưng ở đối
tượng COPD cao tuổi tỷ lệ tăng lên 78% [6]. Theo nghiên cứu Alexandru
Florian và cs (2015), rối loạn thăng bằng dẫn tới ngã ở bệnh nhân COPD cao
tuổi trong nghiên cứu là 37,9% và tăng lên trong đợt cấp COPD là 41,2% [4],
[5]. Theo Alina Sorina Voica (2016) cho rằng ở bệnh nhân COPD cao tuổi có
nguy cơ rối loạn hoạt động thăng bằng hơn so với bệnh nhân cao tuổi không


2

những ước tính này bao gồm ở mọi lứa tuổi và chưa phản ánh đúng tỷ lệ
COPD thực ở người cao tuổi và người cao tuổi là nhóm người có tỷ lệ mắc
cao nhất. COPD là nguyên nhân gây tử vong xếp hàng thứ 6 với 2,2 triệu
người chết [2], [3]. Tính đến năm 1997 có khoảng 400 triệu người mắc bệnh
COPD và là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ thứ 4 [7]. Theo dự báo của
WHO số người mắc bệnh sẽ tăng 3-4 lần trong thập kỷ này, gây ra 2,9 triệu
người chết mỗi năm và ước tính đến năm 2020, COPD sẽ là nguyên nhân gây
tử vong hàng thứ 3 ở các bệnh mạn tính trên toàn thế giới [2], [3]. Tùy theo
từng nước tỷ lệ tử vong dao động do COPD từ 10-500/100000 dân với
khoảng 6% nam và 2,4% nữ [2], [7]. Thống kế trên còn cho thấy tỷ lệ mắc
COPD cao nhất ở những vùng đã và đang thịnh hành việc hút thuốc trong khi
tỷ lệ mắc COPD thấp nhất ở những nước ít hút thuốc hơn hay có tỷ lệ tiêu thụ
thuốc lá trên mỗi cá thể thấp. Tỷ lệ thấp nhất ở nam giới là 2,96/1000 dân ở
Bắc Phi và Trung Đông và tỷ lệ thấp nhất ở nữ giới là 1,79/1000 dân ở các
quốc gia vùng đảo châu Á [3], [8], [9].
Theo Chapman K.R (2005), tỷ lệ bệnh COPD ở tất cả các lứa tuổi là 1%,
tuy nhiên tỷ lệ này sẽ tăng lên 10% ở các đối tượng trên 40 tuổi [10].


4

Ở Mỹ tỷ lệ tử vong do COPD tăng đều đặn trong vài thập niên qua.
Trong giai đoạn 1965 – 1998 trong khi tỷ lệ tử vong ở bệnh mạch vành nam
giới giảm 59%, bệnh đột quỵ giảm 64%, các bệnh tim mạch khác giảm 35%
thì ngược lại tỷ lệ tử vong do COPD lại tăng lên 169% [11]. Trong năm 2000
tỷ lệ tử vong do COPD ở nữ tăng nhiều hơn nam giới cũng như ở Nauy, Thụy
Điển [10], [11]. Theo Mannino DM và cộng sự tại Mỹ một khảo sát có tính
quốc gia trên mẫu đại diện ở những người trên 25 tuổi, dựa vào rối loạn thông
khí tắc nghẽn cho thấy tỷ lệ mắc là 8,8% [11].
Ở châu Âu những nghiên cứu hiện nay cho thấy tỷ lệ mắc COPD chiếm

động nỗ lực trên toàn thế giới để đối phó với căn bệnh này. Tháng 4/2001
GOLD đưa ra hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và dự phòng bệnh [14]. Tháng
7/2003 GOLD đã đưa ra bản cập nhật với nhiều điểm mới trong chẩn đoán,
điều trị và dự phòng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Hàng năm GOLD đưa ra
những điểm cập nhật mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh trên thế giới.
1.1.2. Tình hình bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở Việt Nam.
Năm 2003, nhóm nghiên cứu của Hiệp hội Hô hấp châu Á Thái Bình
Dương đã tính toán tần suất COPD trung bình và nặng ở Việt Nam từ trên 35
tuổi là 6,7%, cao nhất trong khu vực [3], [9]. Báo cáo của Đinh Ngọc Sỹ và
cộng sự trong Hội nghị Lao và Bệnh phổi toàn quốc năm 2011 cho biết tỷ lệ
COPD trong cộng đồng dân cư Việt Nam từ 40 tuổi trở lên là 4,2% trong đó
nam 7,1% và nữ 1,9% [3]. Nếu chia theo khu vực thì nông thôn là 4,7%,
thành thị là 3,3% và miền núi là 3,6% [3]. Các yếu tố nguy cơ cho COPD tại
Việt Nam cũng như mọi nơi khác trên thế giới là hút thuốc lá, thuốc lào làm
tăng tỷ lệ mắc COPD lên gấp 4 lần [3]. Các tác giả cũng chú ý đến chất đốt
sinh khói và cho thấy đun bếp với củi, với rơm rạ làm tăng tỷ lệ mắc COPD
lên gấp 2 lần so với khí đốt [3]. Ngoài thuốc lá và chất đốt sinh khói thì tình
trạng ô nhiễm môi trường và đặc biệt là lao phổi đã làm tăng tỷ lệ mắc COPD
tại Việt Nam.


6

COPD gây gánh nặng to lớn cho kinh tế Việt Nam, bệnh nhân COPD
thường chiếm 25% số giường trong các khoa hô hấp và trong chăm sóc tích
cực luôn có bệnh nhân COPD thở máy. Việc áp dụng GOLD ngay từ những
năm 2002 và hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế 2006 đã gia tăng sự chú ý về việc
phát hiện sớm và quản lý bệnh nhân COPD trong giai đoạn ổn định [2], [7].
Theo Lê Thị Huyền Trang và cộng sự cho thấy hiệu quả của việc tầm soát
COPD bằng câu hỏi của GINA để sàng lọc bệnh nhân làm hô hấp ký [15]. Kết

80 tuổi (11,9%) và thấp nhất ở nhóm 21-30 tuổi (1,5%), tỷ lệ mắc hen ở nam
giới là 4,6%, tỷ lệ mắc hen ở nữ giới là 3,6%. Nghiên cứu cũng cho thấy hiện
nay nhiều phương pháp điều trị hen, trong đó điều trị bằng thuốc tây y chiếm
91,1%, đông y chiếm 14,4%, bên cạnh đó nghiên cứu cũng cho thấy chỉ có
29,1% người có điều trị dự phòng hen, và 57,7% người bệnh chưa từng dùng
thuốc dự phòng hen nào, ngoài ra tỷ lệ bệnh nhân có theo dõi lưu lượng đỉnh
tại nhà khá thấp, chỉ chiếm 4,5%, trong đó chỉ có 5% bệnh nhân hen trên toàn
cầu được kiểm soát hen tốt [18], [21].
COPD là bệnh biểu hiện bằng tắc nghẽn luồng khí thở ra không hồi phục
hoàn toàn do phản ứng viêm không đặc hiệu ở đường thở bởi tác động các
yếu tố bụi và khí độc hại, bệnh thường tiến triển nặng dần, tác động toàn thân
nhưng có thể phòng và điều trị được. Theo nghiên cứu của Đinh Ngọc Sỹ
(2006) tỷ lệ BPTNMT ở Việt Nam trong cộng đồng dân cư từ 15 tuổi trở lên
có tỷ lện 2,2%, theo đó nam là 3,5%, nữ là 1,1% [3], [18]. Tỷ lệ COPD trong
cộng đồng dân cư từ 40 tuổi trở lên là 4,2%, trong đó nam là 7,1%, nữ là
1,9%, miền bắc là 5,7%, miền trung 4,6%, miền nam là 1,9%, tỷ lệ bị bệnh ở
thành thị là 3,3%, nông thôn là 4,7%. Gánh nặng của bệnh BPTNMT tăng lên
hàng năm, dự báo đến năm 2020, COPD xếp hàng thứ 5 những bệnh hay gặp
và hàng thứ 3 trong các nguyên nhân gây tử vong, trong các yếu tố nguy cơ
của bệnh thì khói thuốc lá có vai trò quan trọng [3], [18], [19].


8

1.1.3. Chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính giai đoạn ổn định
A, Lâm sàng:
Bệnh nhân thường trên 40 tuổi, có tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào hoặc
nghề nghiệp có tiếp xúc với khói bụi, ô nhiễm môi trường…
Bệnh nhân thường đến khám vì ho, khạc đờm, khó thở.
Ho: nhiều về buổi sáng, ho cơn hoặc ho thúng thắng, có kèm khạc

Thường có các triệu chứng mạn tính
III: COPD nặng

30% < FEV1
phế quản, ngoài ra test còn cho phép đánh giá khả năng đáp ứng với thuốc
giãn phế quản của bệnh nhân mắc bệnh phổi mạn tính.
- Test phục hồi với thuốc glucocorticosteroid:
Cho bệnh nhân dùng glucocorticosteroid dạng xịt trong thời gian 6 tuần
đến 3 tháng sau đó đo lại FEV1, so sánh với FEV1 trước test. Nếu FEV1 tăng
> 200ml hoặc tăng >12% khi đó bệnh nhân được cho đáp ứng với
glucocorticosteroid. Đây là tiêu chí để quyết định điều trị corticoid kéo dài
cho bệnh nhân [22].
C. Phân loại COPD theo GOLD 2017[22]
Tiền căn đợt

Đánh giá triệu chứng/nguy cơ

Kịch phát đợt kịch phát
≥ 2 hoặc
≥ 1 Phải nhập viện
0 hoặc 1
Không nhập viện

(C)

(D)

Ít triệu chứng

Nhiều triệu chứng

Nguy cơ cao
(A)


- Thời kỳ lão hóa hẳn: từ 95 tuổi trở đi.
Cách phân chia như trên hiện nay vẫn còn áp dụng ở nhiều nước, nhưng
có nhiều tác giả khác cho lão hóa từ 65 tuổi trở đi. Ngoài ra còn nhiều cách
phân chia giai đoạn khác nhau nữa.
Tổ chức Y tế Thế giới sắp xếp các lứa tuổi như sau [1]:
45 đến 59 tuổi: tuổi trung niên
60 đến 74 tuổi: người có tuổi
75 đến 90 tuổi: người già
90 tuổi trở đi: người già sống lâu.
Hiện nay nhiều nước cũng theo cách quy định chính thức phân loại của
Tổ chức Y tế Thế giới [23].
Theo công bố của Tổ chức Y tế Thế giới, năm 1970 số người 60 tuổi trở
lên trên toàn thế giới là 291 triệu (tức 8% dân số thế giới). Đến năm 2000 con
số đã là 600 triệu người. Năm 2011 Liên hợp quốc đã công bố thế giới đang
bước vào giai đoạn già hóa với tỷ lệ người trên 60 tuổi là trên 10% dân số [1],
[23], [24].
Nếu tính từ 60 tuổi trở lên thì tỷ lệ người già ở một số nước như sau:
Pháp (18,2%), Chi lê (7,2%), Ấn độ (7%), Singapore (5,7%). Tỷ lệ người từ
60 tuổi trở lên so với dân số là 16% ở Bungari, 17,5% ở Hungari, 21% ở Đức,
12,8% ở Liên xô trước đây [1], [23], [24].


13

Những năm gần đây, dân số già tăng lên rất nhanh, biểu hiện trên tỷ lệ
người già so với dân số chung, qua các cuộc điều tra dân số. Lấy tỷ lệ người
từ 60 tuổi trở lên ở một số nước cho thấy: Bungari trong 16 năm qua, tỷ lệ
tăng từ 11,4% lên 16%, ở Hungari trong 27 năm qua tăng từ 9,8% lên 17,5%,
Ba Lan trong 22 năm tăng từ 6,7% lên 13,5% [23], [24].
Tuổi thọ trung bình cũng tăng nhanh: Tuổi thọ trung bình dưới thời cổ

trong khi chỉ có 6% tử vong do các nguyên nhân khác. Ngã gây ra trên 10.000
ca tử vong một năm ở nhóm trên 65 tuổi. Khoảng 30-40% người cao tuổi trên
65 tuổi ngã ít nhất 1 lần trong 1 năm và tỷ lệ này tăng rất cao ở người trên 75
tuổi và người phải điều trị lâu dài. Ở Pháp có khoảng 1,2 đến 1,5 triệu người
cao tuổi bị ngã do rối thăng bằng 1 lần trong 1 năm. Ngã tăng lên theo tuổi,
đặc biệt ở nhóm trên 85 tuổi, nhất là nhóm có suy giảm nhận thức. Ngã có tỷ
lệ rất cao ở nhóm người rất già và nhóm người có hạn chế vận động. Ngã
thường có nguy cơ tái phát và tiên lượng không tốt ở nhóm này. Tỷ lệ ngã còn
thay đổi tùy theo từng quần thể và môi trường sống, tỷ lệ thấp nhất ở người
già tương đối khỏe mạnh và sống chung cùng gia đình. Hàng năm có khoảng
1/3 số người trong nhóm này bị ngã, phần lớn không gây thương tật nghiêm
trọng, nhưng có khoảng 4% bị gẫy xương cần phải nhập viện. Với những
người già sống trong trại dưỡng lão hoặc bệnh viện thì tỷ lệ bị ngã gấp 3 lần
so người sống tại gia đình. Hàng năm có khoảng 40-60% người sống trong
trại dưỡng lão bị ngã, 10-25% bị ngã kèm theo gẫy xương hoặc chấn thương
nghiêm trọng phải chuyển đến bệnh viện. Theo một nghiên cứu có 40% người
già nằm ở trại dưỡng lão do bị ngã và chi phí cho ngã rất cao. Trung tâm
phòng chống ngã quốc gia Mỹ cho biết chi phí hàng năm cho ngã lên tới 27,3
tỷ đô la, chi phí điều trị cho ngã ở Pháp lên tới hàng triệu euro [23], [25].
Nghiên cứu Brooke salzman và cs (2010) về dáng đi và rối loạn thăng
bằng ở người cao tuổi cho thấy ít nhất 30% người lớn tuổi từ 65 tuổi trở lên
gặp khó khăn trong việc đi bộ hoặc đi lên một bậc cầu thang, có khoảng 20%


15

phải cần sự trợ giúp cho việc di chuyển, rối loạn thăng bằng đã được phát hiện
ở khoảng 25% người từ 70 đến 74 tuổi, và gần 60% ở độ tuổi từ 80 đến 84 và
người cao tuổi trên 65 thì có tới 35% người cao tuổi được phát hiện có sự rối
loạn thăng bằng hoặc có dáng đi bất thường, rối loạn thăng bằng dẫn đến ngã

không cùng với rối loạn thăng bằng [4], [5]. Rối loạn thăng bằng ở người cao
tuổi có thể biểu hiện lâm sàng của một bệnh vì có thể rối loạn thăng bằng xuất
hiện cùng với một số bênh mạn tính như tim mạch, COPD [4], [5], [23].
Nguyên nhân của rối loạn thăng bằng có thể được liệt kê ở một số bệnh,
và sẽ gây rối loạn thăng bằng vì nhiều lý do như gây đau, khó thở, mất cân
bằng, sức khỏe giảm sút, hạn chế vận động, giảm cảm giác, mệt mỏi, có thể
giảm nhận thức và khả năng thích ứng của cơ thể người cao tuổi với môi
trường xung quanh, ngoài ra phẫu thuật gần đây, hoặc nhập viện do bệnh cấp
tính có thể dẫn đến rối loạn thăng bằng, việc sử dụng nhiều loại thuốc (trên
bốn loại) cũng có thể dẫn tới rối loạn thăng bằng và tăng tỷ lệ ngã [24], [26].
1.2.2. Các thang điểm đánh giá rối loạn thăng bằng người cao tuổi.
Hiện nay chưa trên thế giới chưa có một tiêu chuẩn vàng để đánh giá rối
loạn thăng bằng, mà công cụ để chẩn đoán và đánh giá rối loạn thăng bằng chủ
yếu dựa vào các thang điểm. Theo Shylie F.H. Mackintosh và cs (2007) [59] các
thang điểm để đánh giá rối loạn thăng bằng phải đủ các tiêu chuẩn sau:
+ Thang điểm phải phù hợp với tất cả mọi người cao tuổi trong cộng đòng
+ Thang điểm phải được thực hiện dễ dàng trong các điều kiện khác nhau.
+ Thang điểm phải đánh giá được ít nhất 2 trong số 3 tiêu chuẩn của rối
loạn thăng bằng sau:
Đánh giá rối loạn thăng bằng khi nghỉ ngơi
Đánh giá rối loạn thăng bằng khi di chuyển
Đánh giá rối loạn thăng bằng trong các điều kiện giác quan khác nhau
(rối loạn tiền đình, thị giác…)
Trong tổng số 33 thang điểm đánh giá rối loạn thăng bằng thì chỉ có 15
thang điểm phù hợp với các tiêu chuẩn trên, trong đó chỉ có thang điểm Berg
Balance Scale (BBS) và thang điểm Timed Up to Go (TUG) là có độ tin cậy
và độ nhậy cao nhất [27], [28], [59].


17

18

4: là mức độ cao nhất của mỗi phần chức năng
Tổng số điểm là: 56
41- 56: rủi ro ngã thấp
21-40: rủi ro ngã trung bình
0-20: rủi ro ngã cao
Khi sự thay đổi giữa 2 lần đo là là 8 điểm cho biết sự chính xác sự rối
loạn cân bằng giữa hai lần đo đánh giá.
Thang điểm BBS: có 14 động tác đánh giá gồm
Ngồi xuống và đứng lên
Đứng lên không có sự hỗ trợ
Ngồi xuống không có sự hỗ trợ
Đứng lên để ngồi lên ghế
Di chuyển đi lại
Đứng lên nhưng nhắm mắt
Đứng lên bằng hai bàn chân
Vươn tay ra phía trước với hai cánh tay
Lấy đồ ở sàn nhà
Quay người nhìn sang hai bên
Xoay người 180 độ
Đặt bàn chân lên ghế để chân
Đứng lên với 1 chân đặt phía trước.
Đứng lên với 1 chân.
Hướng dẫn thực hiện:
Hướng dẫn người bệnh làm hoặc ghi ra giấy cho người bệnh làm theo,
khi đánh giá điểm của từng động tác hãy đánh giá điểm thấp nhất của mỗi
động tác trở lên. Trong tất cả các động tác người bệnh phải duy trì ở một vị trí
trong một thời gian nhất định. Các điểm ở mỗi động tác sẽ bị trừ nếu:


Parkinson…[58]. Theo Al Haddan MA (2016) sử dụng TUG để đánh giá rối


20

loạn thăng bằng ở 191 bệnh nhân COPD cho rằng thang điểm TUG là thang
điểm nên được sử dụng để đánh giá rối loạn thăng bằng ở tất cả các bệnh nhân
COPD để từ đó tiên lượng được nguy cơ ngã của họ trong tương lai [62].
1.2.3. Các thang điểm đánh giá rối loạn nhận thức về sự thăng bằng và
đánh giá nguy cơ ngã.
A. Thang điểm Falls Efficacy scale (FES-I).
Đây là thang điểm được sử dụng để đánh giá nhận thức, cảm nhận về
thăng bằng và trạng thái ổn định trong hoạt động hàng ngày, sự lo lằng về
nguy cơ ngã ở người cao tuổi trong cộng đồng. Thang điểm FES là bộ câu hỏi
gồm 16 câu hỏi, mỗi câu hỏi cho điểm lần lượt từ 1 đến 4 điểm tùy theo cảm
nhận, lượng giá của từng người. Thang điểm đánh giá sự tự tin của bệnh nhân
khi thực hiện một số động tác làm cho bệnh nhân mất cân bằng hoặc không
vững. Theo Michael T. Morgan (2014) [56], thang điểm FES-I có hệ số tương
quan tuyệt vời với (ICC= 0,94) và độ nhậy, độ đặc hiệu là 95% và 97% và tác
giả cũng khuyến cáo thang điểm FES-I khuyến cáo đánh giá rối loạn thăng
bằng cho người cao tuổi có các bệnh lý mà họ không thể thực hiện được các
động tác theo yêu cầu trong các thang điểm.
B. Thang điểm Stratify.
Thang điểm Stratify được Oliver sử dụng vào năm 1997 để đánh giá
nguy cơ ngã ở những bệnh nhân cao tuổi nhập viện điều trị nội trú, dựa vào số
điểm để dự đoán nguy cơ ngã từ đó đề xuật các biện pháp để ngăn chặn nguy
cơ ngã cho người bệnh, thang điểm Stratify gồm 05 câu hỏi về tri giác, rối
loạn dáng đi, có tiền sử ngã, có đi tiểu đêm, mờ mắt và trả lời có không, từ đó
cho tổng điểm. Theo Jane Smith (2006) cho rằng thang điểm Stratify có giá trị
cao trong dự báo nguy cơ ngã ở người bệnh cao tuổi với độ nhậy 89%, độ đặc

tránh ngã, rối loạn thăng bằng sẽ làm tăng nguy cơ tử vong ở bệnh nhân
COPD cao tuổi. Nghiên cứu này cũng cho biết việc đánh giá thăng bằng ở
bệnh nhân COPD nên được đưa vào đánh giá thường quy ở bệnh nhân COPD
để ngăn ngừa ngã và giảm hậu quả tàn phế nặng nề của nó [29].


22

Nghiên cứu của Alina Sorina Voica và cs (2016) về các thể bệnh COPD
và rối loạn thăng bằng trên 27 bệnh nhân COPD ổn định và 17 người khỏe
mạnh và có sử dụng thang điểm BBS đánh giá mức độ thăng bằng cho thấy
bệnh nhân COPD có sự rối loạn thăng bằng rõ rệt, trong đó tác giả cho rằng
bệnh nhân cao tuổi có COPD thể khí phế thũng ít rối loạn thăng bằng hơn so
với bệnh nhân cao tuổi có COPD thể viêm phế quản mạn [30].
Nghiên cứu của Alexandru Floria Crisan và cs (2015) về rối loạn thăng
bằng ở bệnh nhân COPD trên 46 bệnh nhân COPD, trong đó 29 bệnh nhân ổn
định và 17 bệnh nhân đang có đợt cấp COPD và 17 đối tượng khỏe mạnh làm
nhóm chứng, sử dụng thang điểm thăng bằng BBS cho thấy có mối tương
quan có ý nghĩa thống kê (p
ngã càng tăng [5]. Điểm số BBS thấp có thể giải thích do 40% bệnh nhân có
khả năng tập thể dục hạn chế do sự thay đổi cơ xương [4].
Nghiên cứu của Smith MD và cộng sự (2010) về tình trạng rối loạn
thăng bằng dẫn tới ngã ở 12 bệnh nhân bị COPD cao tuổi và 12 người cao
tuổi khỏe mạnh, đối tượng tham gia nghiên cứu phải đứng trên một tấm áp lực
và tác giả sẽ ghi lại sự dịch chuyển áp lực để đánh giá mức độ thăng bằng, sự


24

di động của thắt lưng và sự dịch chuyển của hông được đo bằng máy đo độ
nghiêng, tác giả cho rằng những bệnh nhân COPD đã tăng sự dịch chuyển của
lưng và hông hơn so với những người khỏe mạnh bình thường, do vậy tác giả
cho rằng những người bị COPD đã giảm sự kiểm soát thăng bằng so với
những người khỏe mạnh bình thường, do vậy nguy cơ té ngã của những người
bị COPD tăng cao hơn [36].
Nghiên cứu của Ms.Iiknur và cộng sự (2013) về nguy cơ ngã của bệnh
nhân COPD ổn định có sử dụng thang điểm BBS đánh giá trên 30 bệnh nhân
COPD cao tuổi trong đó có 26 nam và 4 nữ điều trị nội trú tại bệnh viện, cho
thấy rằng đa số bệnh nhân có nguy cơ rối loạn thăng bằng dẫn tới ngã cao với
điểm trung bình BBS là 34,15 ± 15,5 [37].
1.2.5. Các yếu tố liên quan rối loạn cân bằng ở bệnh nhân COPD cao tuổi.
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là một bệnh lý về đường hô hấp
làm hạn chế luồng không khí và không có khả năng hồi phục, ngoài các biểu
hiện ở phổi bệnh nhân COPD còn biểu hiện ở các bệnh lý tim mạch, các suy
giảm chức năng thăng bằng của cơ thể như giảm cơ bắp, giảm cân, viêm hệ
thống và các vấn đề về tâm lý [4], [35]. Khả năng duy trì thăng bằng là rất
quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sinh hoạt nhất là ở người cao tuổi
dẫn tới nguy cơ ngã cao [4].
Các yếu tố dẫn tới rối loạn thăng bằng dẫn tới ngã ở người cao tuổi do

thích hợp để dự đoán các trường hợp có rối loạn cân bằng [4], [40], [41].
Theo một số tác giả nguyên nhân tình trạng khó thở qua test đi bộ 6 phút
liên quan đến rối loạn thăng bằng ở bệnh nhân COPD cao tuổi là do thiếu oxy
máu dẫn tới rối loạn chức năng chuyển hóa trong cơ và làm tăng axit lactic sớm
hơn do vậy khả năng bệnh nhân ngừng tập thể dục cũng sớm hơn [42]. Với liên
hệ này tác giả cho rằng khoảng cách đi bộ ngắn làm tăng nguy cơ rối loạn thăng
bằng [42]. Sợ hãi lo lắng cho tình trạng khó thở được một số tác giả cho rằng
liên quan và làm tăng rối loạn cân bằng và làm tăng nguy cơ ngã.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status