1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư lưỡi là bệnh phát sinh do tăng sinh ác tính của niêm mạc hoặc
mô liên kết của lưỡi trong đó chủ yếu là ung thư biểu mô vảy ( >95%). Đây là
ung thư thường gặp nhất trong các ung thư khoang miệng (chiếm tỷ lệ 3040%) , bệnh hay gặp ở nam giới trên 50 tuổi [1]. Theo thống kê của Hiệp hội
ung thư Hoa Kỳ, trên toàn thế giới hàng năm có khoảng 263.900 ca mới mắc
và khoảng 128.000 trường hợp tử vong . Ghi nhận ung thư của bệnh viện K
năm 1995-1996 cho thấy: tỷ lệ mắc ung thư khoang miệng ở nam: 2,7/100000
dân/năm, ở nữ: 2,9/100000 dân/năm [2].
2
Hầu hết các trường hợp ung thư lưỡi không tìm được nguyên nhân bệnh
sinh. Tuy nhiên người ta thấy rằng có một số yếu tố nguy cơ liên quan đến
bệnh bao gồm hút thuốc lá, uống rượu, nhai trầu, tình trạng vệ sinh răng
miệng, nhiễm vi sinh vật, chế độ dinh dưỡng. Những tiến bộ y học gần đây
cho phép con người có những hiểu biết sâu hơn về cơ chế sinh học phân tử
của ung thư. Người ta đã xác định được một số gen liên quan đến ung thư lưỡi
như gen Bcl- 2, Bax, P53 [3].
Khoảng từ cuối những năm 1940 đến đầu năm 1950, việc điều trị ung
thư lưỡi bằng xạ trị vẫn được coi là phương pháp thích hợp nhất. Tuy nhiên,
với sự tiến bộ của phẫu thuật thì hiện nay phẫu thuật là phương pháp điều trị
đầu tiên đối với ung thư lưỡi di động. Điều trị ung thư lưỡi giai đoạn sớm chủ
yếu bằng phẫu thuật đơn thuần hoặc phẫu thuật kết hợp xạ trị cho kết quả rất
khả quan. Ở nước ta trước đây điều trị ung thư lưỡi giai đoạn I, II chủ yếu
bằng phẫu thuật đơn thuần hoặc phẫu thuật kết hợp xạ trị. Theo Nguyễn Đức
Lợi (2002) thời gian sống thêm 5 năm giai đoạn T1,T2 là 62,7% và tỷ lệ tái phát
tại chỗ là 10.8% [4] Theo Ngô Xuân Qúy (2010) thời gian sống thêm 5 năm giai
đoạn T1,T2 là 64,4% , tỷ lệ tái phát là 24,6% trong đó 78,1 % tái phát tại hạch
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giải phẫu và liên quan định khu
Lưỡi là một bộ phận dùng để nếm, nhai, nuốt, nói. Lưỡi nằm trong
khoang miệng gồm có hai mặt (trên và dưới), hai bờ (phải và trái), một đầu
nhọn phía trước và một đáy ở phía sau tương đối cố định [7], [8].
1.1.1. Hình thể ngoài
- Đỉnh lưỡi: tự do, đối diện với răng cửa.
- Bờ lưỡi là một bờ vòng, dày, liên quan ở mỗi bên với răng và lợi.
- Rễ lưỡi là phần dính vào sàn miệng và được cột chặt bởi các cơ đi từ
xương hàm dưới và xương móng tới.
- Mặt trên lưỡi: được chia làm 2 phần, 2/3 trước nằm trong khoang
miệng chính, 1/3 sau trong phần hầu miệng, ngăn cách nhau bởi một rãnh chữ
V, đỉnh quay ra sau gọi là rãnh tận. Đỉnh rãnh có lỗ tịt, là di tích của ống giáp
lưỡi trong bào thai.
+ Phần trước rãnh có một rãnh giữa, niêm mạc có nhiều nhú rất nhỏ gọi
là nhú lưỡi.
+ Phần sau rãnh tạo nên thành trước của phần hầu miệng, niêm mạc
phủ phần này không có các nhú nhưng có nhiều tuyến thanh dịch và có
nhiều nang bạch huyết nằm dưới niêm mạc. Những nang này tập trung tạo
thành hạnh nhân lưỡi.
- Mặt dưới lưỡi nhẵn, không có nhú và dính với nền miệng bởi một nếp
niêm mạc ở đường giữa, gọi là hãm lưỡi.
1.1.2. Cấu tạo
Lưỡi được cấu tạo bởi một khung xương sợi và các cơ vân, phủ bằng
một lớp niêm mạc.
- Khung xương sợi của lưỡi gồm xương móng và hai màng sợi (cân
lưỡi và vách lưỡi).
5
Động mạch hãm lưỡi
Ống tuyến dưới hàm
Động mạch cảnh
ngoài
Tĩnh mạch cảnh trong
Tĩnh mạch mặt
Thân chung của các
tĩnh mạch mặt
Động mạch và tĩnh mạch dưới lưỡi
Hình 1.2: Mạch máu, thần kinh và thành phần liên quan
(Trích trong Atlas – Giải phẫu người của Frank H. Netter)[ Frank H. Netter]
- Động mạch: động mạch lưỡi là nhánh của động mạch cảnh ngoài.
Động mạch này chia làm hai ngành chính: các nhánh lưng lưỡi và động mạch
lưỡi sâu.
- Tĩnh mạch: máu từ lưỡi theo các tĩnh mạch lưng lưỡi và tĩnh mạch lưỡi sâu đổ
vào tĩnh mạch lưỡi rồi đổ vào tĩnh mạch mặt trước khi về tĩnh mạch cảnh trong.
1.1.4. Thần kinh
- Thần kinh vận động các cơ của lưỡi là thần kinh dưới lưỡi (dây XII, dây IX).
- Thần kinh cảm giác gồm dây lưỡi, dây thiệt hầu, dây thanh quản trên.
+ Phần trước rãnh của lưỡi được chi phối bởi thần kinh lưỡi (nhánh của thần
kinh hàm dưới - V3), cảm giác chung. Thần kinh này còn mang theo các sợi của
thừng nhĩ, nhánh của thần kinh trung gian để cảm giác vị giác cho 2/3 trước lưỡi.
+ Phần sau rãnh của lưỡi tiếp nhận cảm giác chung và cảm giác vị giác
bằng các nhánh lưỡi của thần kinh IX.
NHÓM I. Nhóm hạch dưới cằm, dưới hàm
IA. Nhóm hạch dưới cằm : Các hạch nằm trong vùng giới hạn của bụng
trước cơ nhị thân trên xương móng và đường giữa.
IB. Nhóm dưới hàm : Các hạch nằm trong vùng giữa bụng trước, bụng
sau cơ nhị thân và thân xương hàm dưới.
NHÓM II. Nhóm hạch cảnh cao
Các hạch nằm trong khoảng 1/3 trên của tĩnh mạch cảnh trong, vùng dây
thần kinh gai XI nằm sát cột sống, ngang mức chia đôi động mạch cảnh (mốc
phẫu thuật) hoặc xương móng (mốc giải phẫu lâm sàng) đến nền sọ. Giới hạn
sau là bờ sau của cơ ức đòn chũm, giới hạn trước là bờ trước của cơ ức móng.
Nhóm này được chia ra IIa, IIb, bởi thần kinh XI.
NHÓM III. Nhóm hạch cảnh giữa
Các hạch nằm trong khoảng 1/3 giữa của tĩnh mạch cảnh trong, xuất
phát từ chỗ chia đôi động mạch cảnh, ở trên cơ vai móng (mốc phẫu thuật)
hoặc ở dưới khe nhẫn giáp (khi thăm khám). Giới hạn sau là bờ sau của cơ ức
đòn chũm, giới hạn trước là bờ bên của cơ ức móng.
9
NHÓM IV. Nhóm hạch cảnh dưới
Các hạch nằm trong khoảng 1/3 dưới của tĩnh mạch cảnh trong, xuất
phát từ phía trên cơ vai móng đến phía dưới xương đòn. Giới hạn sau là bờ
sau của cơ ức đòn chũm, giới hạn trước là bờ bên của cơ vai móng. Chia làm
hai nhóm.
Nhóm IVa: Dọc theo tĩnh mạch cảnh trong và sâu dọc đầu ức của cơ ức
đòn chũm.
Nhóm IVb: Dọc theo đầu đòn của cơ ức đòn chũm.
Hạch nhóm II, III, IV gọi là nhóm cảnh gồm các hạch gắn với tĩnh
mạch cảnh trong, mỡ, tổ chức liên kết ở phía trong và phía sau của cơ ức đòn
lớp biểu mô lợp thành bên của một số nhú lưỡi có những nụ vị giác.
+ Phần sau: từ V lưỡi đến cuống lưỡi có đặc điểm là trong lớp đệm có
nhiều nang bạch huyết và những khe biểu mô. Đó là hạch nhân lưỡi.
Nhú lưỡi (gai lưỡi)
Ở 2/3 trước của lưỡi người ta phân biệt 4 loại nhú.
- Nhú hình sợi: là phần lồi lên của niêm mạc lưỡi, nằm rải rác ở 2/3 trước mặt
trên và 2 bên bờ lưỡi.
- Nhú hình nấm: được gọi là nhú hình nấm vì chúng lồi cao lên trên bề mặt
lưỡi.
- Nhú hình đài: bề mặt của nhú thấp hơn bề mặt của niêm mạc lưỡi.
- Nhú hình lá: là những nếp gấp song song của niêm mạc lưỡi, thấy ở 2 bên bờ
lưỡi gần cuống lưỡi.
Nụ vị giác
Nụ vị giác là những khối hình bầu dục nằm trong biểu mô lợp thành bên
các nhú lưỡi.
Ở biểu mô nụ vị giác có hai loại tế bào: tế bào chống đỡ và tế bào vị giác.
11
Hạch nhân lưỡi
- Ở phần gốc lưỡi có những điểm tròn nổi gờ lên mặt lưỡi. Đó là những điểm,
những nang bạch huyết và những hạch nhân lưỡi. Những nang bạch huyết,
những hạch nhân lưỡi nằm dưới biểu mô lợp cuống lưỡi, phía sau V lưỡi.
- Biểu mô lợp hạch nhân lưỡi là biểu mô lát tầng không sừng hóa, có những
chỗ lõm sâu tạo ra những khe sâu gọi là khe hạch nhân, ở những khe hạch
nhân thường có các ống bài xuất của các tuyến mở vào.
1.2.2. Sinh lý
- Lưỡi là một cơ quan dùng để nhai, nuốt, nói và nếm (cơ quan nhận cảm vị
giác)
kéo dài 20 năm, nguy cơ mắc bệnh ung thư cao gấp 5 lần so với người không
hút thuốc
+ Rượu: Theo Nguyễn Văn Vi và CS thấy nguy cơ mắc UTL do rượu
đứng hàng thứ 3 sau ung thư môi và niêm mạc má, gặp ở nam giới chiếm tỷ lệ
74,6% [17].
Theo tác giả Brian nếu hút thuốc và uống rượu thì nguy cơ mắc ung thư
đầu cổ tăng lên 10-15 lần [33].
+ Nhai trầu: là yếu tố nguy cơ trong ung thư khoang miệng. Người ăn trầu
có nguy cơ mắc cao gấp 4-35 lần so với người không ăn trầu
- Thành phần chính miếng trầu gồm: lá trầu, cau (tươi hoặc khô), vôi trắng hoặc đỏ
và thành phần phụ khác như vỏ cây, xỉa thêm thuốc vào miếng trầu.
- Theo các công trình khoa học trên thế giới đã đưa bằng chứng kết luận cau là chất
sinh ung thư: các chiết xuất từ cau như là các Alkaloides như (Arecoline,
Arecaidine) có khả năng gây ung thư và xơ hóa dưới niêm mạc miệng.
- Dùng vôi đỏ có nguy cơ ung thư cao hơn dùng vôi trắng, phù hợp với nhận định
cho rằng trong thành phần vôi đỏ có chứa Anilin là chất sinh ung thư.
13
- Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Vi và CS cho thấy ung thư lưỡi do nhai
trầu đứng thứ 3 sau ung thư môi và niêm mạc má.
+ Tình trạng vệ sinh răng miệng: vệ sinh răng miệng kém, hàm răng giả
không tốt, răng mẻ kích thích lâu ngày đưa đến dị sản và ung thư.
+ Nhiễm vi sinh vật: nhiễm vi rút HPV đặc biệt là type 2, 11, 16 đã được
chứng minh là thấy nhiều trong những bệnh nhân bị ung thư khoang miệng.
+ Chế độ dinh dưỡng: chế độ dinh dưỡng thiếu vitamin A, E, D, sắt, hoa
quả cũng là yếu tố nguy cơ của bệnh ung thư khoang miệng [25], [19], [42].
1.4. Các tổn thương tiền ung thư, sự tiến triển tự nhiên của ung thư lưỡi
1.4.1. Các tổn thương tiền ung thư
- S tin trin ca ung th li cú th theo hai kiu l li ra ngoi hoc thõm
nhim.
Triu chng ban u l au, mc dự cú nhiu tn thng kiu ny cú
th l khụng au. S khú khn trong khi núi v nut thỡ thng xuyờn xy ra.
Thng cú tin s bch sn t trc khi cú triu chng v bnh. Ung th li
l bnh phỏt trin nhanh hn so vi cỏc ung th khỏc trong khoang ming.
Kh nng di cn hch vựng cao t 15% n 75% tựy thuc vo xõm ln
ca u nguyờn phỏt. Hch nhúm 2 cú tn sut b di cn cao, sau ú n th t
nhúm I, III, IV. Núi chung mi nhúm hch u cú nguy c b di cn. Di cn
hch 2 bờn gp trong 25% trng hp, di cn hch i bờn 3% [39].
- Tiờn lng liờn quan ch yu ti s di cn hch: t 75% hch biu hin õm
tớnh trong giai on sm xung cũn 30% biu hin hch õm tớnh giai on
mun. Ngoi ra cũn yu t khỏc nh hng n tiờn lng nh xõm ln thn
kinh, mch mỏu v lan sang bờn i din.
1.5. c im bnh hc
1.5.1. Triu chng lõm sng: chia lm 2 giai on
1.5.1.1. Giai on u
giai on ny cỏc triu chng ụi khi rt nghốo nn v bnh nhõn
15
thường hay bỏ qua.
- Cơ năng: bệnh nhân có cảm giác như có dị vật hoặc xương cá cắm vào lưỡi,
rất khó chịu nhưng qua đi nhanh
- Thực thể:
* Khám lưỡi: có thể thấy một chỗ nổi phồng lên , thay đổi màu sắc, niêm mạc
trắng, xơ hóa hoặc có vết loét nhỏ. Sờ thấy tổn thương chắc, rắn không mềm
mại như bình thường.
* Khám hạch: thấy xuất hiện sớm, khoảng 50% bệnh nhân có hạch ngay từ đầu.
* Một số trường hợp gây khít hàm, cố định lưỡi khiến bệnh nhân khó nói và
nuốt [25].
- Thực thể:
* Khám lưỡi: ổ loét ở lưỡi, trên ổ loét phủ giả mạc, dễ chảy máu, loét phát triển
nhanh lan rộng làm lưỡi hạn chế vận động, không di động được.
Thương tổn sùi loét, được tạo thành từ một vết loét không đều, ở đáy có
mủ máu, bờ nham nhở, chảy máu khi va chạm. Đôi khi không có dấu hiệu
loét đó là một nhân lớn gắn chặt xuống lớp dưới, nhô lên dưới nếp niêm mạc
căng nhẵn, có màu tím nhạt, lớp niêm mạc lỗ rỗ những lỗ nhỏ mà khi ấn vào
sẽ làm rỉ ra một chất trắng, sản phẩm của hoại tử ở phía dưới.
* Ở giại đoạn tiến triển hơn, thể loét chiếm ưu thế, loét sâu lan rộng xuống bề
mặt hoặc vào mặt dưới, gây đau đớn dữ dội, gây bội nhiễm, có mùi hôi, rất dễ
chảy máu thậm chí có thể gây chảy máu trầm trọng. Thường phải khám bệnh
nhân ở trạng thái đã gây mê để hạn chế phản ứng của bệnh nhân do đau đớn.
* Việc thăm khám bằng ngón tay rất quan trọng để đánh giá kích
thước, độ
thâm nhiễm xuống phía dưới, độ xâm lấn vào các tổ chức tiếp cận: sàn miệng,
trụ amydal, rãnh lưỡi, thanh quản, amygdal.
* Khám hạch: khoảng 35% đến 40% các trường hợp có hạch ngay từ lần khám
đầu tiên, trong đó 3/4 là hạch di căn. Sự xâm lấn này theo trình tự liên quan
với chặng hạch đầu tiên là hạch dưới cơ nhị thân sau đó là chặng hạch dưới
cằm, dưới hàm, hiếm gặp các hạch cảnh giữa và dưới.
- Vị trí và hình thái tổn thương hay gặp [11],[39],[51]:
17
+ Vị trí: * 80% Ung thư gặp ở bờ tự do của lưỡi.
Độ II: có 50% tới 75% các tế bào biệt hoá.
Độ III: có 25% tới 50% các tế bào biệt hoá.
Độ IV: có dưới 25% các tế bào biệt hoá.
Nói chung, độ mô học càng cao thì tiên lượng càng xấu nhưng độ nhạy
cảm với xạ trị và hoá trị lớn hơn [25],[26].
1.5.2.2.Chụp X-Quang
- Chụp xương hàm dưới: đánh giá tổn thương xâm lấn xương.
- Chụp tim phổi: đánh giá di căn
1.5.2.3.Siêu âm
- Siêu âm ổ bụng: phát hiện tổn thương di căn gan…
- Siêu âm hạch cổ: phát hiện di căn hạch mà lâm sàng không sờ thấy.
1.5.2.4. .Chụp CTscaner và MRI
- Đánh giá xâm lấn tổ chức xương, phần mềm xung quanh và hạch cổ.
Chụp CTscaner và MRI có thể phát hiện ra hạch di căn mà lâm sàng
không thấy được khi có các điều kiện sau:
+ Kích thước hạch > 1cm.
+ Có hoại tử trung tâm.
+ Đường ranh giới không đều.
+ Mất ranh giới rõ ràng giữa hạch và tổ chức xung quanh.
- Việc đánh giá được di căn hạch vùng rất có giá trị để từ đó đề ra biện pháp
vét hạch trong điều trị bệnh.
1.5.2.4.Chụp PET/CT
Nhược điểm chính của PET scan trong đánh giá vị trí chính xác u
nguyên phát và hạch vùng là độ phân giải không gian kém của nó, có thể gây
khó khăn cho vị trí giải phẫu mà FDG hấp thu. Hạn chế này đã giảm đáng kể
19
bằng việc sử dụng hình ảnh tích hợp cả PET và CT, một kỹ thuật mà trong đó cả
T1: đường kính u ≤ 2 cm.
•
T2: 2cm < đường kính u ≤ 4 cm.
20
•
T3: đường kính u > 4 cm.
•
T4a : Khối u xâm lấn vỏ xương hàm dưới, các cơ sâu của lưỡi (cơ móng
lưỡi, cơ dưới lưỡi, cơ khẩu cái lưỡi và cơ trâm lưỡi), xoang hàm hoặc
da mặt.
•
T4b : Khối u xâm lấn khoang cơ nhai, chân bướm, nền sọ, động mạch
cảnh trong.
N: hạch vùng
+ Nx: không xác định được hạch vùng.
+ No: không di căn hạch vùng.
+ N1: di căn 1 hạch duy nhất cùng bên≤ 3cm.
1.7. Điều trị
Hiện nay điều trị UTL bằng phẫu thuật và xạ trị thường được áp dụng.
Hóa trị thường được áp dụng trong giai đoạn muộn. Tuy nhiên việc áp dụng
phương pháp điều trị đầu tiên bằng xạ trị hay phẫu thuật còn tùy thuộc vào
từng nơi điều trị. Ở Pháp tại viện Curie thì xạ trị là phương pháp chính để
điều trị UTL. Nhưng tại Viện phẫu thuật tai mũi họng và đầu cổ ở Mỹ thì việc
áp dụng phẫu thuật trong điều trị UTL là biện pháp can thiệp đầu tiên [5].
1.7.1. Phẫu thuật
1.7.1.1.Đối với u nguyên phát
- T1: cắt rộng u, đảm bảo diện cắt cách rìa u >1cm. Nếu có điều kiện làm sinh
thiết tức thì diện cắt.
- T2, T3: phẫu thuật cắt lưỡi bán phần+ vét hạch cổ.
- T4: tùy theo tình trạng bệnh nhân có thể phẫu thuật rộng rãi: cắt nửa lưỡi +
cắt nửa sàn miệng + cắt xương hàm dưới+/- tạo hình sàn miệng bằng vạt da
cơ có cuống mạch máu nuôi thì I hoặc II + vét hạch cổ.
22
- Hiện nay đối với giai đoạn T3, T4 thì điều trị hóa chất trước phẫu thuật nhằm
mục đích thu nhỏ kích thước u sau đó phẫu thuật cắt nửa lưỡi và vét hạch cổ.
1.7.1.2.Đối với hạch vùng
* Các phương pháp vét hạch
- Vét hạch triệt căn: bao gồm vét tất cả các nhóm hạch, cắt cơ ức đòn
chũm, cơ nhị thân, tĩnh mạch cảnh trong, thần kinh gai, tuyến dưới hàm.
Ngược lại, bảo vệ các thành phần khác như động mạch cảnh, dây thần
kinh phế vị, thần kinh giao cảm cổ, thần kinh hoành, thần kinh dưới lưỡi và
nhánh thần kinh cằm mặt.
- Vét hạch chức năng: giữ lại một hoặc nhiều cấu trúc mà trong vét hạch triệt
- Chảy máu
- Phù nề đường thở
* Biến chứng và di chứng do vét hạch:
- Chảy máu.
- Phù nề thanh quản dẫn đến khó thở.
- Tràn khí dưới da.
- Phù bạch huyết.
- Tràn khí màng phổi.
- Yếu mỏm vai, không thể giơ tay lên được do việc cắt bỏ dây thần kinh
vai và nhánh nối của nó với đám rối cổ.
- Đau vùng cổ tồn tại dai dẳng.
1.7.2. Xạ trị
1.7.2.1. Xạ trị tiền phẫu:
Xạ trị tiền phẫu thường áp dụng với các trường hợp ung thư lưỡi giai
đoạn III, IV hoặc hạch lớn, di động hạn chế và dính nhằm làm giảm tối đa thể
tích khối u hoặc làm giảm thể tích và tăng độ di động của hạch giúp thuận lợi
hơn cho việc phẫu thuật. Tuy nhiên chỉ định xạ tiền phẫu thường tiến hành với
liều xạ thấp để tránh những biến chứng mà xạ trị để lại gây khó khăn trong
24
việc điều trị phẫu thuật tiếp theo như xơ cứng hay thâm nhiễm toàn bộ các tổ
chức nằm trong vùng chiếu xạ.
1.7.2.2. Xạ trị hậu phẫu:
- Tại u: khi phẫu thuật triệt căn, liều xạ hậu phẫu trung bình 50Gy, khi
phẫu thuật tiếp cận liều xạ trung bình 70Gy, phân liều 10Gy/tuần, 2Gy/ngày,
5ngày/tuần.
- Tại hạch: xạ trị toàn hạch cổ 45-55Gy, nếu hạch phá vỡ vỏ thì nâng
gia xạ trị trong ung thư với tay nghề cao và nhiều kinh nghiệm với nhiều kỹ
thuật cấy ghép cần thiết. Và cuối cùng là sự phát triển của các phương pháp
điều trị xạ trị hiện đại như IMRT hay Tomotherapy góp phần hạn chế tối đa
các biến chứng trong xạ trị ung thư khoang miệng.
1.7.2.3. Xạ trị kết hợp hóa trị phác đồ có platinium
Có ít nhất ba thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh lợi ích cải thiện thời gian
sống thêm toàn bộ hoặc không bệnh của sự kết hợp hóa trị phác đồ có
platinium và xạ trị so với xạ trị đơn thuần.
1.7.3. Hóa chất
Ngày nay việc đưa các hóa chất mới vào điều trị cho kết quả đáp ứng
tốt mà độc tính thấp, có thể đơn hóa chất hoặc phối hợp đa hóa chất. Các
nghiên cứu cho thấy việc sử dụng đa hóa chất cho kết quả đáp ứng tốt hơn.
Điều trị hoá chất tân bổ trợ là điều trị hoá chất trước phẫu thuật hoặc xạ
trị nhằm mục đích thu nhỏ tổn thương để phẫu thuật và xạ trị thuận lợi hơn.
Hoá chất tân bổ trợ đem lại tỷ lệ đáp ứng tại chỗ cao (75-85%), nâng cao khả
năng dung nạp thuốc cho người bệnh, ngăn ngừa di căn xa xuất hiện sớm. Qua
nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy phác đồ có Cisplatin làm tăng tỷ lệ sống
thêm ở nhóm được điều trị. Sau phẫu thuật vét hạch cổ, nếu di căn trên 2 hạch
hoặc hạch di căn phá vỡ vỏ cũng có chỉ định điều trị hoá chất kết hợp với xạ